[1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10]
E-xơ-ra 1
Home
1. Năm thứ nhứt đời Si-ru, vua nước Phe-rơ-sơ trị vì,
Ðức Giê-hô-va muốn làm cho ứng
nghiệm lời Ngài đã cậy miệng
Giê-rê-mi mà phán ra,
nên Ngài cảm động lòng Si-ru, vua
Phe-rơ-sơ tuyên truyền trong khắp nước mình,
và cũng ra sắc chỉ rằng:
2. Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, nói như vầy:
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
đã ban các nước thế gian cho ta, và
chánh Ngài có biểu ta xây
cất cho Ngài một đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, trong
xứ Giu-đa.
3. Trong các ngươi, phàm ai thuộc về
dân sự Ngài, khá trở lên
Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa, đặng cất lại đền thờ
Giê-hô-va, là Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vẫn ngự tại
Giê-ru-sa-lem. Nguyện Ðức Chúa Trời người
ấy ở cùng người!
4. Hễ dân Giu-đa còn sót lại, mặc dầu ở
đâu, thì bổn dân của nơi họ ở, phải tiếp
trợ họ bằng bạc, vàng, của cải, súc vật,
không kể những của lễ lạc hiến về đền của Ðức
Chúa Trời ở tại Giê-ru-sa-lem.
5. Bấy giờ những trưởng tộc của Giu-đa và
Bên-gia-min, những thầy tế lễ, và người
Lê-vi, cả thảy những người nào Ðức
Chúa Trời cảm động lòng có
ý đi lên xây cất đền thờ của Ðức
Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem,
bèn chổi dậy.
6. Các người lân cận chúng đều tiếp trợ
chúng, cho những vật bằng bạc, bằng vàng, của
cải, súc vật, và những vật quí
báu, bất kể các của lạc hiến khác.
7. Vua Si-ru cũng trả lại những khí dụng của đền thờ
Ðức Giê-hô-va, mà
Nê-bu-cát-nết-sa đã đem đi khỏi
Giê-ru-sa-lem và để trong đền thờ của thần người.
8. Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, truyền
Mít-rê-đát, người thủ quỹ, lấy
các khí dụng ấy ra, đếm và giao cho
Sết-ba-xa, quan trưởng của Giu-đa.
9. Nầy là số của các khí dụng ấy: ba
mươi cái chậu vàng, ngàn
cái chậu bạc, hai mươi chín con dao,
10. ba mươi các chén vàng, bốn trăm
mười cái chén bạc thứ hạng nhì, một
ngàn cái khí dụng khác.
11. Hết thảy những khí dụng bằng vàng
và bạc số là năm ngàn bốn trăm
cái. Khi những người bị bắt làm phu tù
ở Ba-by-lôn được dẫn về Giê-ru-sa-lem
thì Sết-ba-xa đem lên luôn hết thảy vật
ấy.
E-xơ-ra 2
Home
1. Trong con cháu các dân tỉnh Giu-đa
bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, bắt
dẫn qua Ba-by-lôn, nầy những người bị đày
đó trở lên Giê-ru-sa-lem và
xứ Giu-đa, mỗi người về trong thành mình,
2. có Xô-rô-ba-bên,
Giê-sua, Nê-hê-mi, Sê-ra-gia,
Rê-ê-la-gia, Mạc-đô-chê,
Binh-san, Mít-bạt, Biết-vai, Rê-hum và
Ba-a-na dẫn dắt. Vậy, nầy là sổ dựng những người nam của
Y-sơ-ra-ên.
3. Họ Pha-rốt, hai ngàn một trăm bảy mươi hai;
4. họ Sê-pha-ti-a, ba trăm bảy mươi hai;
5. họ A-rách, bảy trăm bảy mươi lăm;
6. họ Pha-hát-Mô-áp, con
cháu của Giê-sua và
Giô-áp, hai ngàn tám trăm
mười hai;
7. họ Ê-lam, một ngàn hai trăm năm mươi bốn;
8. họ Xát-tu, chín trăm bốn mươi lăm;
9. họ Xác-cai, bảy trăm sáu mươi;
10. họ Ba-ni, sáu trăm bốn mươi hai;
11. họ Bê-bai, sáu trăm hai mươi ba;
12. họ A-gát, một ngàn hai trăm hai mươi hai;
13. họ A-đô-ni-cam, sáu trăm sáu mươi
sáu;
14. họ Biết-vai, hai ngàn năm mươi sáu;
15. họ A-đin, bốn trăm năm mươi bốn;
16. họ A-te, về gia quyến Ê-xê-chia,
chín mươi tám;
17. họ Bết-sai, ba trăm hai mươi ba;
18. họ Giô-ra, một trăm mười hai;
19. họ Ha-sum, hai trăm hai mươi ba;
20. họ Ghi-ba, chín mươi lăm;
21. họ Bết-lê-hem, một trăm hai mươi ba;
22. người Nê-tô-pha, năm mươi sáu;
23. người A-na-tốt, một trăm hai mươi tám;
24. người Ách-ma-vết, bốn mươi hai,
25. người Ki-ri-át-A-rim, Kê-phi-a, và
Bê-ê-rốt, bảy trăm bốn mươi ba;
26. người Ra-ma và Ghê-ra, sáu trăm hai
mươi mốt;
27. người Mích-ba, một trăm hai hai mươi hai;
28. người Bê-tên và A-hi, hai trăm hai
mươi ba;
29. họ Nê-bô, năm mươi hai;
30. họ Mác-bi một trăm năm mươi sáu;
31. họ Ê-lam khác, một ngàn hai trăm
năm mươi bốn;
32. họ Ha-rim, ba trăm hai mươi;
33. họ Lô-đơ, họ Ha-đít, và họ
Ô-nô, bảy trăm hai mươi lăm;
34. người Giê-ri-cô, ba trăm bốn mươi lăm;
35. họ Sê-na, ba ngàn sáu trăm ba mươi.
36. Những thầy tế lễ: họ Giê-đa-gia, thuộc về chi
phái Giê-sua, chín trăm bảy mươi ba;
37. họ Y-mê, một ngàn hăm mươi hai;
38. họ Pha-su-rơ, một ngàn hai trăm bốn mươi bảy;
39. họ Ha-rim, một ngàn mười bảy.
40. Các người Lê-vi: họ Giê-sua
và Cát-mi-ên, con cháu của
Hô-đa-via, bảy mươi bốn.
41. Những người ca hát: họ A-sáp, một trăm hai
mươi tám.
42. Các con cháu kẻ giữ cửa: con cháu
Sa-lum, con cháu A-te, con cháu
Tanh-môn, con cháu A-cúp, con
cháu Ha-ti-ta, con cháu Sô-bai, cộng
hết thảy là một trăm ba mươi chín người.
43. Kẻ phục dịch trong đền thờ: Con cháu Xi-ha, con
cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt,
44. con cháu Kê-rốt, con cháu Sia-ha,
con cháu Ba-đôn,
45. con cháu Lê-ba-na, con cháu
Ha-ga-ba, con cháu A-cúp,
46. con cháu Ha-gáp, con cháu Sam-lai,
con cháu Ha-nan,
47. con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-cha,
con cháu Rê-a-gia,
48. con cháu Rê-xin, con cháu
Nê-cô-đa, con cháu Ga-xam,
49. con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a,
con cháu Bê-sai,
50. con cháu A-sê-na, con cháu
Mê-u-nim, con cháu Nê-phu-sim,
51. con cháu Bác-búc, con
cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua,
52. con cháu Ba-lút, con cháu
Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa,
53. con cháu Bạt-cô, con cháu
Si-sê-ra, con cháu Tha-mác,
54. con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.
55. Con cháu của các tôi tớ
Sa-lô-môn: con cháu Sô-tai,
con cháu Sô-phê-rết, con cháu
Phê-ru-đa,
56. con cháu Gia-a-la, con cháu
Ðạt-côn, con cháu Ghi-đên,
57. con cháu Sê-pha-ti-a, con cháu
Hát-tinh, con cháu
Bô-kê-rết-Ha-xê-ba-im, con
cháu A-mi.
58. Tổng cộng những người phục dịch trong đền thờ và
các con cháu của những tôi tớ
Sa-lô-môn, đều là ba trăm
chín mươi hai người.
59. Nầy là những người ở Tên-Mê-la.
Tên-Hạt-sa, Kê-rúp-A-đan, và
Y-mê trở lên, không thể nói
rõ gia tộc và phổ hệ mình, đặng chỉ
rằng mình thuộc về dòng dõi
Y-sơ-ra-ên hay chăng:
60. con cháu Ðê-la-gia, con
cháu Tô-bi-gia, con cháu
Nê-cô-đa, đều sáu trăm năm mươi hai
người.
61. Trong dòng dõi thầy tế lễ: con
cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con
cháu Bạt-xi-lai. Người ấy có cưới một con
gái của Bạt-xi-lai ở Ga-la-át, nên được
gọi bằng tên ấy.
62. Các người ấy tìm gia phổ mình,
nhưng chẳng tìm đặng; nên người ta kể họ
là ô uế, và họ bị truất khỏi chức tế lễ.
63. Quan tổng đốc cấm chúng ăn những vật chí
thánh cho đến chừng nào có thầy tế lễ
cậy U-rim và Thu-mim mà cầu hỏi Ðức
Chúa Trời.
64. Cả hội chúng đếm được bốn vạn hai ngàn ba
trăm sáu mươi người,
65. chẳng kể những tôi trai tớ gái; số
chúng nó là bảy ngàn ba
trăm ba mươi bảy. Cũng có hai trăm người nam nữ ca
hát theo cùng họ nữa.
66. Chúng có bảy trăm ba mươi sáu con
ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la,
67. bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và
sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.
68. Có nhiều trưởng tộc, khi đã đến đền thờ của
Ðức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem,
thì dâng những của lễ lạc ý cho
nhà Ðức Chúa Trời, để xây cất
nó lại chỗ cũ.
69. Tùy theo sức mình, chúng
dâng vào kho của cuộc xây cất đến
sáu mươi mốt ngàn đa-riếc vàng, năm
ngàn min bạc, và một trăm bộ áo thấy
tế lễ.
70. Vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, mấy người
dân, người ca hát, kẻ giữ cửa, những người phục
dịch trong đền thờ, và cả dân
Y-sơ-ra-ên, thảy đều ở trong bổn thành
mình.
E-xơ-ra 3
Home
1. Ðến tháng bảy, khi dân
Y-sơ-ra-ên đã ở trong bổn thành
mình rồi, thì dân sự hiệp lại như một
người ở tại Giê-ru-sa-lem.
2. Bấy giờ, Giê-sua, con trai của
Giô-sa-đác, và các anh em
người, là thầy tế lễ, luôn với
Xô-rô-ba-bên, con trai
Sa-anh-thi-ên, và các anh em người, đều
chổi dậy xây cất bàn thờ Ðức
Chúa Trời ở Y-sơ-ra-ên, đặng dâng của lễ
thiêu tại đó, theo như đã
chép trong luật pháp Môi-se, người của
Ðức chúa Trời.
3. Chúng sợ hãi dân của xứ,
nên lập lại bàn thờ trên nền cũ
nó, và dâng tại đó của lễ
thiêu cho Ðức Giê-hô-va, tức
là của lễ thiêu buổi sớm và buổi chiều.
4. Chúng cũng giữ lễ lều tạm, y như đã
chép, và dâng những của lễ
thiêu ngày nầy kế ngày kia, theo số
đã định cho mỗi ngày.
5. Sau ấy, chúng dâng những của lễ thiêu
hằng hiến, luôn những của lễ về lễ trăng non và về
các ngày lễ trọng thể biệt ra thánh
cho Ðức Giê-hô-va; lại dâng
các của lễ của mỗi người lạc ý dâng cho
Ðức Giê-hô-va.
6. Từ ngày mồng một tháng bảy, chúng
khởi dâng những của lễ thiêu cho Ðức
Giê-hô-va.
7. Chúng phân cấp tiền bạc cho thợ đẽo
đá và cho thợ mộc, luôn những lương
thực, rượu, và dầu cho dân Si-đôn
và dân Ty-rơ, đặng sai họ đem gỗ bá
hương từ Li-ban đến biển Gia-phô, tùy theo chiếu
của Si-ru, vua Phe-rơ-sơ.
8. Năm thứ hai tháng hai, sau khi chúng đến đền
của Ðức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem,
Xô-rô-ba-bên, con trai của
Sa-anh-thi-ên, và Giê-sua, con của
Giô-xa-đác, với các anh em
khác của họ, là những thầy tế lễ, người
Lê-vi, cùng hết thảy những người bị bắt
làm phu tù được trở về Giê-ru-sa-lem,
đều khởi làm công việc xây cất đền thờ;
chúng đặt người Lê-vi, từ hai mươi tuổi sắp
lên, đặng cai quản công việc xây cất đền
thờ của Ðức Giê-hô-va.
9. Bấy giờ, Giê-sua, các con trai người
và anh em người, Cát-mi-ên
và các con trai người, con cháu
Hô-đa-via và con cháu
Hê-na-đát, là người Lê-vi,
với con trai và anh em của họ, đều chổi dậy đồng hiệp nhau
như một, mà quản đốc những người làm việc trong
nhà của Ðức Chúa Trời.
10. Khi các thợ xây nền đền của Ðức
Giê-hô-va, thì có những thầy
tế lễ đứng đó mặc áo lễ và cầm
kèn, còn những người Lê-vi, con
cháu A-sáp, đều cầm chập chỏa, đặng ngợi khen
Ðức Giê-hô-va y như các
lễ-phép của Ða-vít, vua
Y-sơ-ra-ên, đã lập ra.
11. Chúng ca hát đối đáp mà
ngợi khen cảm tạ Ðức Giê-hô-va rằng:
Ðáng ngợi khen Ðức
Giê-hô-va, vì Ngài
là tốt lành, lòng thương
xót của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên
còn đến đời đời! Cả dân sự đều kêu reo
tiếng lớn, ngợi khen Ðức Giê-hô-va, bởi
vì người ta xây nền đền thờ của Ðức
Giê-hô-va.
12. Nhiều thầy tế lễ, người Lê-vi, trưởng tộc, tức
là những người già cả đã thấy đền thờ
trước, bèn khóc tiếng lớn trong khi người ta
xây nền của đền mới tại trước mặt mình. Cũng
có nhiều người khác lại la tiếng lớn vui mừng hớn
hở;
13. nên người ta khó phân biệt tiếng vui
mừng với tiếng khóc lóc; vì
dân sự la lớn tiếng lên, và tiếng ấy
vẳng vẳng nghe xa.
E-xơ-ra 4
Home
1. Khi các thù nghịch của Giu-đa và
Bên-gia-min hay rằng những người đã bị bắt
làm phu tù được về xây cất đền thờ cho
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên,
2. bèn đi đến Xô-rô-ba-bên
và các trưởng tộc mà nói
rằng: Chúng tôi muốn đồng xây cất với
các ngươi, vì chúng tôi
tìm cầu Ðức Chúa Trời của anh em, cũng
như anh em, và chúng tôi đã
dâng tế lễ cho Ngài từ đời
Ê-sa-Ha-đôn, vua A-si-ri, đem chúng
tôi lên đây.
3. Nhưng Xô-rô-ba-bên, Giê-sua,
và các trưởng tộc khác của
Y-sơ-ra-ên, đáp với chúng rằng:
Các ngươi chẳng được phần chung với chúng ta đặng
xây cất một đền thờ cho Ðức Chúa Trời của
chúng ta; song chúng ta, chỉ một mình
chúng ta, sẽ cất một đền cho Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, y như Si-ru,
vua Phe-rơ-sơ, đã truyền bảo chúng ta.
4. Bấy giờ dân của xứ xui cho dân Giu-đa
ngã lòng nhát sợ, trong khi họ
xây cất;
5. và trọn đời Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, cho đến đời
Ða-ri-út, vua Phe-rơ-sơ, trị vì,
chúng đem hối lộ cho những mưu sĩ chống với dân
Giu-đa, đặng phá việc họ lo toan.
6. Nhằm đời A-suê-ru, vừa bắt đầu lên
ngôi, thì chúng làm một
cái trạng cáo dân Giu-đa và
dân cư Giê-ru-sa-lem.
7. Qua đời Ạt-ta-xét-xe, thì Bít-lam,
Mít-rê-đát,
Ta-bê-ên, và đồng liêu của
chúng, viết biểu tấu lên Ạt-ta-xét-xe,
vua Phe-rơ-sơ. Cái biểu ấy viết bằng chữ A-ram và
dịch ra tiếng A-ram.
8. Lại Rê-hum, tể tướng, và Sim-sai, thơ
ký, đồng viết biểu nghịch cùng
Giê-ru-sa-lem, tấu lên vua Ạt-ta-xét-xe
như vầy:
9. Rê-hum, tể tướng, Sim-sai, thơ ký và
các đồng liêu của họ, tức là người
Ði-nít, người A-phạt-sa-thít, người
Tạt-bê-lít, người A-phạt-sít, người
Ạt-kê-vít, người Ba-by-lôn, người
Su-san, người Ðê-ha-vít, người
Ê-lam,
10. và dân sự khác mà
Ô-náp-ba cao trọng và vang hiển
đã đem qua, khiến ở trong thành Sa-ma-ri
và trong các miền khác phía
bên nầy sông.
11. Nầy là bổn sao lại của bức biểu chúng gởi tấu
vua Ạt-ta-xét-xe. Các tôi tớ vua ở
bên phía nầy sông, kính tấu
vua A-ta-xét-xe.
12. Tâu vua hay rõ ràng những người
Giu-đa đã từ nơi vua lên đến chúng
tôi tại Giê-ru-sa-lem, đương lập lại
thành phản nghịch hung ác ấy; chúng
nó đã xây lại vách
thành và tu bổ các nền cho xong rồi.
13. Vậy, nguyện vua biết rõ ràng ví
bằng thành nầy được cất lại, và vách
tường nó được xây lên, tất dân
nó sẽ chẳng tiến cống, nộp thuế, hoặc đóng tiền
mãi lộ, rồi sau chắc sẽ gây tai họa cho vua.
14. Vả, vì chúng tôi ăn muối của đền
vua, và chẳng nỡ chứng kiến việc gây thiệt hại cho
vua như vậy, nên chúng tôi sai sứ giả
đến tâu rõ cùng vua,
15. đặng người ta tra khảo trong sử ký các tổ phụ
của vua: tất sẽ tìm thấy trong sách sử
ký đó và biết rằng cái
thành nầy vốn một cái thành phản
nghịch, gây thiệt hại cho các vua và
nước; từ thuở xưa, người ta hay làm loạn ở đó;
bởi cớ ấy thành nầy đã bị phá hoang.
16. Chúng tôi tâu cáo vua hay
rằng nếu thành nầy được cất lại, và
vách tường nó được xây lên,
tất lại cớ ấy, đất ở phía bên nầy sông
sẽ chẳng còn phục vua nữa.
17. Vua bèn giáng chiếu cho tể tướng
Rê-hum, cho thơ ký Sim-sai, và cho
các đồng liêu của họ ở tại Sa-ma-ri và
ở trong các miền khác phía
bên nầy sông, mà rằng: Nguyện
các ngươi bình yên.
18. Bức biểu các ngươi dâng tấu lên ta
đã đọc ra tỏ tường trước mặt ta.
19. Cứ theo mạng lịnh ta, người ta đã tra khảo, thấy rằng từ
đời xưa cái thành nầy có dấy loạn với
các vua, và trong đó hằng
có sự phản nghịch và việc ngụy đảng.
20. Lại tại Giê-ru-sa-lem đã có những
vua rất quyền thế, quản hạt cả xứ ở bên kia sông,
và người ta tiến cống, nộp thuế, và
đóng tiền mãi lộ cho các vua
đó.
21. Vì vậy, các ngươi hãy truyền lịnh
ngăn cản những người đó cất lại cái
thành nầy, cho đến chừng ta ban chiếu chỉ về việc
đó.
22. Khá cẩn thận về sự nấy, e các vua bị thiệt
hại thêm chăng.
23. Vừa khi đã đọc chiếu của vua Ạt-ta-xét-xe
trước mặt Rê-hum, thơ ký, Sim-sai và
các đồng liêu họ, thì chúng
đồng lật đật đi đến dân Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem,
lấy năng lực và cường quyền khiến họ ngưng công
việc.
24. Vậy, công việc xây cất nhà của
Ðức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem
đình cho đến năm thứ hai đời Ða-ri-út,
vua Phe-rơ-sơ trị vì.
E-xơ-ra 5
Home
1. Vả, tiên tri A-ghê và tiên
tri Xa-cha-ri, con của Y-đô, nhơn danh Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nói
tiên tri cho các người Giu-đa ở tại xứ Giu-đa
và ở Giê-ru-sa-lem.
2. Xô-rô-ba-bên, con trai của
Sa-anh-thi-ên, và Giê-sua, con trai của
Giô-xa-đác, bèn chổi dậy, khởi cất đền
Ðức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem,
có các tiên tri của Ðức
Chúa Trời giúp đỡ.
3. Trong lúc đó, Tát-tê-nai,
quan tổng đốc của xứ phía bên nầy sông,
Sê-ta-Bô-xê-nai, và
các đồng liêu họ, đến tìm dân
Giu-đa, mà nói cùng chúng
như vầy: Ai ban lịnh cho các ngươi cất cái đền
nầy và xây vách thành nầy
lên?
4. Chúng ta bèn nói cùng họ
tên những người xây cất cái đền nầy.
5. Con mắt Ðức Chúa Trời của chúng
đoái xem các trưởng lão dân
Giu-đa, nên họ không ngăn cấm chúng
làm công việc, đành lòng đem
việc ấy tâu lại vua Ða-ri-út, đợi đến khi
vua giáng chiếu về sự ấy.
6. Nầy bổn sao lục tờ biểu mà
Tát-tê-nai, quan tổng đốc của xứ phía
bên nầy sông,
Sê-ta-Bô-xê-nai, và
các đồng liêu người, tức người
A-phạt-sác ở bên nầy sông, tấu
lên vua Ða-ri-út,
7. như lời sau nầy: Chúc vua Ða-ri-út
thái bình mọi vẻ!
8. Chúng tôi muốn vua hay rằng chúng
tôi có đi trong tỉnh Giu-đa, đến đền thờ của
Ðức Chúa Trời rất lớn, thấy người Giu-đa
xây cất cái đền thờ ấy bằng đá
nguyên khối; sườn nhà đã gác
ngang qua vách rồi, và công việc
làm cách kỹ lưỡng và tấn tới trong tay
họ.
9. Chúng tôi có hỏi các
trưởng lão ấy rằng: Ai ban lịnh cho các ngươi
xây cất cái đền nầy và xây
vách thành nầy lên?
10. Chúng tôi cũng hỏi danh tánh họ,
đặng tâu cho vua biết các tên của những
người quản suất chúng.
11. Chúng đáp lời như vầy: Chúng
tôi vốn là kẻ tôi tớ của Ðức
Chúa Trời, Chúa tể của trời và đất;
chúng tôi đang xây cất lại
cái đền thờ, đã lâu năm trước
đây có một vua sang trọng của Y-sơ-ra-ên
lập lên và làm cho hoàn
thành.
12. Song các tổ phụ chúng tôi chọc giận
Ðức Chúa Trời, nên Ngài
phó chúng vào tay
Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn,
là người Canh-đê; vua ấy phá hủy đền
nầy và bắt dân sự đem qua Ba-by-lôn.
13. Nhưng năm đời Si-ru, vua Ba-by-lôn, trị vì,
vua Si-ru truyền lịnh cất lại cái đền của Ðức
Chúa Trời.
14. Vua Si-ru cũng rút ra khỏi đền thờ Ba-by-lôn
những chậu vàng và bạc của đền Ðức
Chúa Trời, mà
Nê-bu-cát-nết-sa đã đoạt lấy khỏi đền
thờ tại Giê-ru-sa-lem, đem về trong đền thờ
Ba-by-lôn; Si-ru giao các vật ấy cho danh
Sết-ba-xa, mà người lập làm quan tổng đốc,
15. và nói với người rằng: Hãy lấy
các khí dụng nầy, đi để trong đền thờ tại
Giê-ru-sa-lem, để xây cất lại nhà của
Ðức Chúa Trời trên chỗ cũ nó.
16. Bấy giờ, Sết-ba-xa nầy đến, lập nền đền thờ của Ðức
Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem; và từ
lúc đó đến rày người ta đương
xây cất nó, song chưa hoàn
thành.
17. Vậy bây giờ, nếu đẹp ý vua, xin hãy
tra khảo trong kho vua tại Ba-by-lôn, xem thử thật Si-ru
có ra chiếu chỉ xây cất lại cái đền của
Ðức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem chăng.
Ðoạn, cầu vua giáng chiếu dạy chúng
tôi ý vua về việc ấy.
E-xơ-ra 6
Home
1. Vua Ða-ri-út bèn truyền tra khảo trong
tàng thơ viện là nơi chứa các bửu vật
tại Ba-by-lôn.
2. Người ta tìm được trong đồn ở Éc-ba-tan tại
tỉnh Mê-đi, một cuốn giấy trên đó
có di tích như vầy:
3. Năm thứ nhứt đời Si-ru, vua Si-ru ra chiếu chỉ về đền của
Ðức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem rằng:
Khá xây cất lại đền của Ðức
Chúa Trời, đặng làm nơi dâng những của
lễ; các nền nó phải lập cho vững bền. Ðền
thờ sẽ sáu mươi thước bề cao, và sáu
mươi thước bề dài;
4. nó sẽ có ba hàng đá
nguyên khối và một hàng đòn
tay gỗ mới; còn tiền sở phí thì phải
cấp phát từ trong nhà vua.
5. Lại, các khí dụng bằng vàng
và bạc của nhà Ðức Chúa Trời,
mà Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy
trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem và đem qua
Ba-by-lôn, thì phải trả lại, và đem về
trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, khí dụng nầy
trong chỗ nấy; ngươi phải để nó tại chỗ cũ trong
nhà Ðức Chúa Trời.
6. Vậy bây giờ, hỡi Tát-tê-nai, tổng đốc
của xứ bên kia sông,
Sê-ta-Bô-xê-nai, và
các đồng liêu người ở A-phạt-sác
bên kia sông, hãy dan ra;
7. khá để cho quan cai của người Giu-đa và những
người trưởng lão của chúng xây cất lại
đền thờ của Ðức Chúa Trời tại nơi cũ nó.
8. Nầy ta ra lịnh, truyền các ngươi phải làm
gì đối với các trưởng lão
dân Giu-đa, đặng giúp việc cất lại cái
đền của Ðức Chúa Trời: Hãy lấy thuế
khóa thâu ở bên kia sông, vội
cấp phát các tiền chi phí cho những
người đó, để công việc chẳng bị dứt chừng.
9. Phàm vật chi cần kíp, hoặc bò tơ
đực, chiên đực hay là chiên con, để
dùng làm của lễ thiêu dâng
cho Ðức Chúa Trời trên trời; hoặc
lúa mì, muối, rượu, hay là dầu, theo
lời của những thầy tế lễ ở tại Giê-ru-sa-lem, khá
giao cho họ mỗi ngày, chớ thiếu,
10. hầu cho họ dâng những của lễ có mùi
thơm cho Ðức Chúa Trời trên trời,
và cầu nguyện cho sanh mạng của vua và của
các vương tử.
11. Ta cũng truyền lịnh rằng: Nếu ai cải chiếu chỉ nầy, thì
khá rút một cây đòn tay
trong nhà kẻ ấy, rồi treo nó tại đó.
và vì cớ tội ấy, làm cho
nhà nó thành ra một chỗ đổ
rác.
12. Nguyện Ðức Chúa Trời, là Ðấng
đã khiến danh Ngài ngự trong đền thờ ấy, hủy diệt
vua nào, dân tộc nào dám giơ
tay ra cải chiếu này đặng phá hủy đền thờ của
Ðức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Ta
là Ða-ri-út ban chiếu chỉ nầy;
khá làm theo nó cách cần
mẫn!
13. Tát-tê-nai, quan tổng đốc của xứ
phía bên nầy sông,
Sê-ta-Bô-xê-nai và
các đồng liêu họ, bèn cần mẫn
tuân theo chiếu chỉ mà vua
Ða-ri-út đã sai đến.
14. Ấy vậy, các trưởng lão của dân
Giu-đa bắt tay cất lại đền thờ, công việc được may mắn, y lời
tiên tri của tiên tri A-ghê,
và của Xa-cha-ri, con trai của Y-đô. Vậy,
chúng làm xong công việc cất đền thờ,
tùy theo mạng lịnh của Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, và theo chiếu chỉ của Si-ru,
Ða-ri-út, và Ạt-ta-xét-xe, vua
nước Phe-rơ-sơ.
15. Ngày thứ ba tháng A-đa, nhằm năm thứ
sáu đời vua Ða-ri-út, cái đền
nầy được xây cất xong.
16. Dân Y-sơ-ra-ên, những thầy tế lễ, người
Lê-vi, và những người khác
đã bị bắt làm phu tù được về, đều giữ
lễ khánh thành đền thờ của Ðức
Chúa Trời cách vui mừng.
17. Về lễ khánh thành đền thờ nầy,
chúng dâng một trăm con bò đực, hai
trăm con chiên đực, bốn trăm con chiên con,
và tùy theo số các chi phái
Y-sơ-ra-ên, chúng dâng mười hai con
dê đực làm của lễ chuộc tội cho cả dân
Y-sơ-ra-ên.
18. Chúng lập lên những thầy tế lễ và
các người Lê-vi tùy theo ban thứ của
họ, đặng phục sự Ðức Chúa Trời tại
Giê-ru-sa-lem, y như đã chép trong
sách Môi-se.
19. Ðoạn, ngày mười bốn tháng
giêng, các người đã bị bắt
làm phu tù được về, dự lễ Vượt qua.
20. Vì những thầy tế lễ và người Lê-vi,
cả thảy đã dọn mình cho thanh sạch,
không trừ ai; rồi chúng vì hết thảy
người đã bị bắt làm phu tù được trở
về, vì những thầy tế lễ, là anh em
mình, và vì chính
mình, mà giết con sinh dùng về lễ Vượt
qua.
21. Những người Y-sơ-ra-ên đã bị bắt
làm phu tù được về, bèn ăn lễ Vượt
qua, luôn với những người đã tự chia rẽ ra sự
ô uế của các dân tộc trong xứ
đó, đến theo dân Y-sơ-ra-ên, đặng
tìm kiếm Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên.
22. Trong bảy ngày chúng giữ lễ bánh
không men cách vui vẻ; vì Ðức
Giê-hô-va đã làm cho
lòng chúng được khoái lạc,
và có cảm động lòng vua A-si-ri
đoái xem chúng, đặng giúp đỡ trong
cuộc xây cất đền của Ðức Chúa Trời, tức
là Ðức Chúa Trời ở Y-sơ-ra-ên
E-xơ-ra 7
Home
1. Sau các việc ấy, nhằm đời Ạt-ta-xét-xe, vua
Phe-rơ-sơ, có E-xơ-ra, là con trai
Sê-ra-gia;
2. Sê-ra-gia con trai của Hinh-kia, Hinh-kia con trai của
Sa-lum, Sa-lum con trai của Xa-đốc, Xa-đốc con trai của
A-hi-túp.
3. A-hi-túp con trai của A-ma-ria, A-ma-ria con trai của
A-xa-ria, A-xa-ria con trai của Mê-ra-giốt.
4. Mê-ra-giốt con trai của Xê-ra-hi-gia,
Xê-ra-hi-gia con trai của U-xi,
5. U-xi con trai của Bu-ki, Bu-ki con trai của A-bi-sua, A-bi-sua con
trai của Phi-nê-a, Phi-nê-a con trai của
Ê-lê-a-sa, Ê-lê-a-sa con trai
của A-rôn, là thầy tế lễ thượng phẩm.
6. E-xơ-ra nầy từ Ba-by-lôn đi lên. Người
là một văn sĩ thạo luật pháp của
Môi-se, mà Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã
truyền cho. Vì tay của Ðức
Giê-hô-va phù trợ người, nên
vua ban cho người mọi điều người xin.
7. Nhằm năm thứ bảy đời vua Ạt-ta-xét-xe, có mấy
người trong dân Y-sơ-ra-ên, trong bọn thầy tế lễ,
và người Lê-vi, kẻ ca hát, người giữ
cửa, và người Nê-thi-min, đều đi cùng
người trở lên Giê-ru-sa-lem.
8. Tháng năm năm thứ bảy đời vua ấy, E-xơ-ra đến
thành Giê-ru-sa-lem.
9. Vả, ngày mồng một tháng giêng, người
ở Ba-by-lôn khởi hành; rồi ra nhờ tay
nhân lành của Ðức Chúa Trời
phù trợ, người đến Giê-ru-sa-lem ngày
mồng một tháng thứ năm.
10. Vì E-xơ-ra đã định chí tra
xét luật pháp của Ðức
Giê-hô-va, giữ làm theo, và
dạy cho dân Y-sơ-ra-ên biết những luật
pháp và giới mạng.
11. Nầy lá bổn sao lại chiếu chỉ mà vua
Ạt-ta-xét-xe giao cho E-xơ-ra, thầy tế lễ và văn
sĩ, thạo biết trong những điều răn luật lệ của Ðức
Chúa Trời đã truyền cho Y-sơ-ra-ên.
12. Vua Ạt-ta-xét-xe, vua của các vua, gởi thơ
cho E-xơ-ra, thầy tế lễ và văn sĩ, thạo biết luật
pháp của Ðức Chúa Trời trên
trời. Nguyện ngươi được trọn bình an.
13. Ta ra chiếu chỉ định rằng phàm người nào
trong nước ta, thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, thầy cả
và người Lê-vi, sẵn muốn đi đến
Giê-ru-sa-lem, thì hãy đi chung với
người.
14. Ta và bảy mưu thần ta sai ngươi đi tra xét về
Giu-đa và về Giê-ru-sa-lem, chiếu theo luật
pháp của Ðức Chúa Trời ngươi
có trong tay ngươi.
15. Ngươi sẽ đem theo mình vàng và bạc
mà vua và các mưu thần lạc
ý dâng cho Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, có nơi ở tại Giê-ru-sa-lem,
16. luôn các bạc và vàng
mà ngươi có được trong tỉnh Ba-by-lôn,
và những lễ vật lạc ý của dân sự
cùng thầy tế lễ dâng cho đền của Ðức
Chúa Trời mình tại Giê-ru-sa-lem.
17. Ngươi hãy dùng bạc nầy cần mẫn mua những
bò đực, chiên đực, chiên con,
luôn của lễ chay, và của lễ quán cặp
theo, rồi dâng lên trên bàn
thờ ở nơi đền của Ðức Chúa Trời các
người, ở tại Giê-ru-sa-lem.
18. Còn bạc và vàng dư lại, hễ muốn
dùng việc gì phải, khá theo
ý ngươi và anh em ngươi cho là tốt
mà làm thuận ý chỉ của Ðức
Chúa Trời các ngươi.
19. Về các khí dụng đã giao cho ngươi
để dùng vào cuộc thờ phượng trong đền của
Ðức Chúa Trời ngươi, hãy để nó
tại trước mặt Ðức Chúa Trời tại
Giê-ru-sa-lem.
20. Còn các vật gì khác
ngươi cần dùng về chi phí đền thờ của Ðức
Chúa Trời ngươi, khá lấy các vật ấy
nơi kho tàng vua.
21. Vậy, ta là vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ
truyền cho các quan cai kho ở bên phía
kia sông rằng hễ vật gì E-xơ-ra, thầy tế lễ
và văn sĩ, thạo biết luật pháp của Ðức
Chúa Trời trên trời, sẽ cầu cùng
các ngươi, các ngươi khá cần mẫn cung
cấp cho,
22. đến một trăm ta lâng bạc, một trăm bao lúa
miến, một trăm thùng rượu, một trăm thùng dầu,
và muối không hạn.
23. Phàm điều gì Ðức Chúa Trời
trên trời truyền dạy về đền thờ của Ngài,
khá làm cho cần mẫn, e sự tai họa
giáng trên nước, trên vua, và
trên các vương tử chăng.
24. Lại, ta truyền cho các ngươi biết rằng chẳng được
phép thâu thuế hay là tiền
mãi lộ nơi thầy tế lễ, người Lê-vi, kẻ ca
hát, người giữ cửa, người Nê-thi-nim, hay
là nơi những tôi tớ đền thờ của Ðức
Chúa Trời.
25. Còn ngươi, hỡi E-xơ-ra, tùy theo sự
khôn ngoan của Ðức Chúa Trời ngươi,
đã có trong tay ngươi, hãy lập những
quan phủ, quan án, là những kẻ thạo biết luật
pháp của Ðức Chúa Trời ngươi để
chúng xét đoán cả dân sự ở
bên kia sông; còn người nào
chẳng biết luật pháp, các ngươi khá
dạy cho nó biết.
26. Nếu có ai không tuân luật
pháp của Ðức Chúa Trời ngươi
và luật lệ của vua, thì các ngươi
hãy đoán phạt họ liền, hoặc xử tử, hoặc lưu
đày, hoặc tịch biên gia tài, hay
là cầm tù.
27. E-xơ-ra bèn nói rằng: Ðáng
ngợi khen thay Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời tổ phụ chúng tôi,
vì đã cảm lòng vua toan trang điểm đền
thờ của Ðức Giê-hô-va tại
Giê-ru-sa-lem,
28. và khiến cho tôi được ơn trước mặt vua,
cùng trước mặt các mưu thần và
các quan trưởng có quyền của vua! Vậy,
tôi hứng chí, vì tay
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
tôi phù trợ tôi, và
tôi chiêu-tập các trưởng tộc
Y-sơ-ra-ên đặng đồng đi lên với tôi.
E-xơ-ra 8
Home
1. Nầy những trưởng tộc và gia phổ của các ngươi
từ Ba-by-lôn đi lên với ta, trong đời vua
Ạt-ta-xét-xe trị vì.
2. Về con cháu Phi-nê-a có
Ghẹt-sôn; về con cháu Y-tha-ma có
Ða-ni-ên; về con cháu
Ða-vít có Hát-túc;
3. về con cháu Sê-ca-nia, con cháu
Pha-rốt có Xa-cha-ri, và những kẻ ở với người;
theo gia phổ sổ được một trăm năm mươi nam đinh;
4. về con cháu Pha-hát-Mô-áp
có Ê-li-ô-ê-nai, co trai của
Xê-ra-hi-gai, và với người được hai trăm nam đinh;
5. về con cháu Se-ca-nia có con trai
Gia-ha-xi-ên, và với người được ba trăm nam đinh;
6. về con cháu A-đin có Ê-bết, con trai
Giô-na-than, và với người được năm mươi nam đinh;
7. về con cháu Ê-lam có
Ê-sai, con trai A-tha-lia, và với người được bảy
mươi nam đinh;
8. về con cháu Sê-pha-ti-a có
Xê-ba-đia, con trai Mi-ca-ên, và với
người được tám mươi nam đinh;
9. về con cháu Giô-áp có
Áp-đia, con trai Giê-hi-ên,
và với người được hai trăm mưới tám nam đinh;
10. về con cháu Sê-lô-mít
có con trai Giô-si-phia, và với người
được một trăm sáu mươi nam đinh;
11. về con cháu Bê-bai có Xa-cha-ri,
con trai của Bê-bai, và với người được hai mươi
tám nam đinh.
12. về con cháu A-gát có
Giô-ha-ham, con trai của Ha-ca-tan, và với người
được một trăm mười nam đinh;
13. nhưng kẻ thuộc về con cháu A-đô-ni-cam đến sau
hết; tên chúng là
Ê-li-phê-lết, Giê-hi-ên,
và Sa-ma-gia, và với họ được sáu mươi
nam đinh;
14. về con cháu Biết-vai có U-tai cùng
Xáp-bút, và với họ được bảy mươi nam
đinh.
15. Ta nhóm hiệp chúng gần bên
sông chảy về A-ha-va, rồi chúng ta hạ trại tại
đó ba ngày. Ðoạn ta xem xét
dân sự và thầy tế lễ, song chẳng thấy một người
Lê-vi nào hết.
16. Ta bèn sai gọi các trưởng tộc
Ê-li-ê-xe, A-ri-ên, Sê-ma-gia,
Ê-na-than, Gia-ríp, Ên-na-than, Na-than,
Xa-cha-ri, và Mê-su-lam, luôn
Giô-gia-ríp và Ên-na-than,
là thầy giáo sư;
17. Ta sai các người ấy đi đến trưởng tộc Y-đô ở
tại Ca-si-phia, biểu họ phải dạy Y-đô và
các anh em người, tức người Nê-thi-nim, ở tại
Ca-si-phia, phải dẫn đến cùng chúng ta những kẻ
giúp việc nơi đền thờ của Ðức Chúa Trời
chúng ta.
18. Vì nhờ tay Ðức Chúa Trời
chúng ta phù trợ, các người ấy dẫn đến
cùng chúng ta một người khôn ngoan,
thuộc về dòng Mách-li, là hậu tự của
Lê-vi, con trai của Y-sơ-ra-ên, luôn
Sê-rê-bia, và các con trai
cùng anh em người, số được mười tám tên;
19. lại được Ha-sa-bia và Ê-sai, thuộc về
dòng Mê-ra-ri, cùng các anh
em và các con trai người, số là hai
mươi tên;
20. còn trong những người Nê-thi-nim mà
Ða-vít và các quan trưởng
đã đặt giúp việc người Lê-vi,
thì có được hai trăm hai mươi người, thảy đều gọi
đích danh.
21. Tại đó, gần bên sông A-ha-va, ta
truyền kiêng cữ ăn, để chúng hạ mình
xuống trước mặt Ðức Chúa Trời chúng ta,
và cầu xin Ngài chỉ cho biết đường
chánh đáng chúng ta, con
cái chúng ta, và tài sản
mình phải đi.
22. Vả lại, ta lấy làm thẹn, chẳng dám xin vua
một đạo quân và lính kỵ binh vực
chúng ta khỏi kẻ thù nghịch trong lúc
đi đường; vì chúng ta có
nói với vua rằng: Tay của Ðức Chúa Trời
chúng tôi phù trợ mọi kẻ nào
tìm kiếm Ngài; nhưng quyền năng và
thạnh nộ Ngài kháng cự nhũng kẻ nào
lìa bỏ Ngài.
23. Ấy vậy, chúng ta kiêng cữ ăn và cầu
xin Ngài điều ấy; Ngài bèn nhậm lời
chúng ta.
24. Trong những thầy tế lễ, ta bèn chọn mười hai người
trưởng, là Sê-rê-bia, Ha-sa-bia
và mười người anh em họ;
25. đoạn, ta cân cho chúng các bạc,
vàng, và những khí dụng mà
vua, các mưu thần, các quan trưởng vua,
cùng cả dân Y-sơ-ra-ên có mặt
tại đó, đã dâng cho đền của Ðức
Chúa Trời chúng ta.
26. Vậy, ta cân giao cho họ sáu trăm năm mươi ta
lâng bạc, khí dụng bằng bạc giá một
trăm ta lâng, và một trăm ta ta lâng
vàng,
27. hai mươi cái chén bằng vàng
giá một ngàn đa-riếc, và hai
cái chậu vằng đồng bóng láng tốt nhứt,
cũng quí như vàng.
28. Rồi ta nói với chúng rằng: Chánh
các ngươi đã được biệt riêng ra
thánh cho Ðức Giê-hô-va,
và các khí dụng nầy cũng là
thánh. Bạc và vàng nầy là
lễ vật lạc ý dâng cho
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ các ngươi.
29. Khá gìn giữ nó kỹ lưỡng cho đến
chừng các ngươi cân lại trước mặt những thầy tế lễ
cả, và người Lê-vi, cùng trước mặt
các trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên tại
Giê-ru-sa-lem, trong kho đền thờ của Ðức
Giê-hô-va.
30. Vậy, những thầy tế lễ và người Lê-vi, sau khi
đã kiểm soát lại sự cân nặng của bạc,
vàng, và những khí dụng rồi,
bèn thâu nhận đặn đem đến Giê-ru-sa-lem,
trong đền thờ của Ðức Chúa Trời chúng ta.
31. Ngày mười hai tháng giêng,
chúng ta ở sông A-ha-va khởi-hành, đặng
đi lên đến Giê-ru-sa-lem. Tay của Ðức
Chúa Trời chúng ta phù trợ
chúng ta, giải cứu chúng ta khỏi tay kẻ
thù nghịch, và khỏi kẻ rình phục dọc
đường.
32. Ðoạn, chúng ta đến Giê-ru-sa-lem, ở
tại đó ba ngày.
33. Ngày thứ tư, chúng ta cân lại bạc,
vàng, và những khí dụng trong đền thờ
Ðức Chúa Trời, rồi giao cho
Mê-rê-mốt, con trai U-ri, thầy tế lễ (với người
có Ê-lê-a-sa, con trai của
Phi-nê-a, Giô-xa-báp, con trai
Giê-sua, và Nô-a-đia, con trai Bin-nui,
người Lê-vi),
34. cứ theo số và cân; số cân nặng đều
biên chép trong một kỳ ấy.
35. Những người đã bị bắt làm phu tù
được trở về, dâng của lễ thiêu cho Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên bằng mười hai con
bò đực vì cả Y-sơ-ra-ên,
chín mươi sáu con chiên đực, bảy mươi
bảy con chiên con, và mười hai con dê
đực để làm của lễ chuộc tội: cả thảy đều dâng
lên làm của lễ thiêu cho Ðức
Giê-hô-va.
36. Chúng giao chiếu chỉ của vua cho các quan
trấn, và cho các quan cai của vua ở
phía bên nầy sông họ bèn
giúp đỡ dân sự và việc đền thờ của
Ðức Chúa Trời.
E-xơ-ra 9
Home
1. Sau các việc đó, các quan trưởng
đến gần nói với ta rằng: Dân Y-sơ-ra-ên,
những thầy tế lễ, và người Lê-vi chẳng
có phân rẽ với các dân tộc
của xứ nầy; họ bắt chước theo sự gớm ghiếc của dân Ca-na-an,
dân Hê-vít, dân
Phê-rê-sít, dân
Giê-bu-sít, dân Am-môn,
dân Mô-áp, dân
Ê-díp-tô, và dân
A-mô-rít.
2. Vì chúng có lấy những con
gái họ làm vợ của mình, và
làm vợ con trai mình. Dòng
dõi thánh đã pha lộn như vậy với
dân tộc của các xứ nầy; thật các trưởng
và quan cai vốn là kẻ đầu phạm tội dường ấy.
3. Khi ta nghe các lời ấy, ta bèn xé
áo trong và áo tơi mình,
nhổ tóc đầu và lông râu, rồi
ngồi buồn bã.
4. Những người vâng kỉnh các lời phán
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đều hiệp lại
chung quanh ta, sợ hãi về tội trọng của các người
đã bị bắt làm phu tù được về
có phạm; còn ta ngồi kinh-hoảng cho đến khi
dâng của lễ buổi chiều.
5. Ðến giờ dâng của lễ buổi chiều, ta đứng dậy khỏi
nơi khổ nhục mình, áo trong và
áo tơi ta xé rách; ta quì
gối xuống, giơ tay ra hướng về Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời ta,
6. mà thưa với Ngài rằng: Ồ, Ðức
Chúa Trời tôi! tôi hổ thẹn mặt, chẳng
dám ngước mặt lên Ngài, là
Ðức Chúa Trời tôi; vì gian
ác chúng tôi đã
thêm nhiều quá đầu chúng tôi,
và tội chúng tôi cao lớn tận trời.
7. Từ ngày tổ phụ chúng tôi cho đến
ngày nay, chúng tôi đã
cực-cùng phạm tội; vì cớ tội ác
mình, nên chúng tôi,
các vua chúng tôi, và những
thầy tế lễ chúng tôi, đều bị phó
vào tay các vua những xứ, bị gươm, bị bắt
làm phu tù, bị cướp giựt, và bị sỉ
nhục, y như điều đó đã có
ngày nay.
8. Song bây giờ, Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của chúng tôi tạm
làm ơn cho chúng tôi, để một phần dư
lại của chúng tôi thoát khỏi,
và ban cho chúng tôi một cái
đinh ở trong chỗ thánh nầy; hầu cho Ðức
Chúa Trời chúng tôi soi sáng
con mắt chúng tôi và khiến cho
chúng tôi ở giữa sự nô lệ
mình được dấy lên một chút.
9. Vì chúng tôi vốn là kẻ
nô lệ; nhưng Ðức Chúa Trời của
chúng tôi không từ bỏ chúng
tôi trong sự nô lệ chúng tôi.
Ngài đã khiến cho chúng tôi
được ơn trước mặt các vua Phe-rơ-sơ, hầu ban cho
chúng tôi sự dấy lên đặng cất đền của
Ðức Chúa trời chúng tôi
và xây lên lại những nơi hư
nát của nó, cùng ban cho
chúng tôi một nơi ở tại trong xứ Giu-đa
và thành Giê-ru-sa-lem.
10. Bây giờ, hỡi Ðức Chúa Trời
chúng tôi ôi! sau những điều
đó, chúng tôi sẽ nói
làm sao? Vì chúng tôi
đã lìa bỏ điều răn.
11. Ngài đã cậy các tiên
tri, là tôi tớ Ngài, mà
phán dạy chúng tôi, rằng: Xứ
mà các ngươi sẽ vào đặng nhận lấy
đó, là một xứ bị ô uế tại sự
ô uế của các dân tộc nó,
và tại sự gớm ghiếc của chúng nó
đã làm cho xứ ấy đầy dẫy từ đầu nầy
chí đầu kia.
12. Vì vậy, cho nên chớ gả con gái
các ngươi cho con trai chúng nó,
và đừng cưới con gái họ cho con trai của
các ngươi; chớ hề tìm kiếm sự thạnh lợi hoặc sự
bình an của chúng nó, để
các ngươi trở nên mạnh dạn, ăn hoa lợi của xứ,
và để nó lại cho các con trai
mình làm cơ nghiệp đời đời.
13. Vả, sau những tai họa đã giáng trên
chúng tôi, tại các sự
hành-ác và tội trọng của
chúng tôi, mà lại, hỡi Ðức
Chúa Trời chúng tôi ôi! thật
Chúa chẳng có phạt chúng tôi
cho đáng như tội chúng tôi,
và đã ban cho chúng tôi được
phần sót lại dường nầy;
14. vậy có lẽ nào chúng tôi
lại phạm các điều răn của Chúa nữa, kết bạn với
các dân tộc vẫn làm những sự gớm ghiếc
nầy sao? Vậy thì cơn thạnh nộ Chúa há
sẽ chẳng nổi lên cùng chúng
tôi, tiêu diệt chúng tôi, đến
đỗi chẳng còn phần sót lại, cũng không
ai thoát khỏi hay sao?
15. Hỡi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của Y-sơ-ra-ên ôi! Chúa vốn
là công bình; còn
chúng tôi, chỉ một số ít người được
thoát khỏi, như đã thấy ngày nay: nầy
chúng tôi ở trước mặt Chúa, mắc tội lỗi
nhiều; nhân đó, chẳng ai có thế đứng
nổi trước mặt Ngài.
E-xơ-ra 10
Home
1. Trong lúc E-xơ-ra cầu nguyện như vậy, vừa khóc
vừa xưng tội và sấp mình xuống trước đền của
Ðức Chúa Trời, thì có một
đám dân Y-sơ-ra-ên, người nam
và nữ rất đông, nhóm hiệp xung quanh
người; chúng cũng khóc nứt nở.
2. Sê-ca-nia, con trai Giê-hi-ên,
cháu của Ê-lam, bèn nói
cùng E-xơ-ra rằng: Chúng ta phạm tội với
Ðức Chúa Trời chúng ta mà cưới
những người nữ ngoại thuộc các dân tộc của xứ;
nhưng dầu đã làm vậy, hãy
còn hi vọng cho dân Y-sơ-ra-ên.
3. Vậy bây giờ, ta hãy lập giao ước với
Ðức Chúa Trời chúng ta, đuổi hết thảy
những người nữ kia và các con cái của
họ đã sanh ra, y như lời chỉ giáo của
chúa tôi và của các người
có lòng kính sợ điều răn của
Ðức Chúa Trời chúng ta; khá
làm điều ấy theo luật pháp.
4. Ông hãy đứng dậy, vì việc ầy can hệ
đến ông, và chúng tôi sẽ
giúp đỡ; khá can đảm mà làm.
5. E-xơ-ra bèn đứng dậy, khiến những thầy tế lễ cả, người
Lê-vi, và cả Y-sơ-ra-ên thề rằng
mình sẽ làm theo lời ấy. Chúng liền
thề.
6. Khi E-xơ-ra đã chổi dậy khỏi trước đền Ðức
Chúa Trời, bèn đi vào phòng
của Giô-ha-nan, con trai Ê-li-a-síp;
người vào đó không ăn bánh
và cũng không uống nước, bởi người lấy
làm buồn thảm vì cớ tội lỗi của dân
đã bị bắt làm phu tù được trở về.
7. Người ta bèn rao truyền khắp xứ Giu-đa và
Giê-ru-sa-lem, biểu các dân
đã bị bắt làm phu tù được trở về
nhóm hiệp tại Giê-ru-sa-lem.
8. Trong ba ngày, ai không vâng theo
lịnh của các quan trưởng và trưởng lão
mà đến, thì các tài sản
người ấy sẽ bị tịch-phong, và chính người bị
truất khỏi hội chúng của dân đã bị bắt
làm phu tù được trở về.
9. Trong ba ngày, các người của Giu-đa
và Bên-gia-min đều nhóm lại tại
Giê-ru-sa-lem, nhằm ngày hai mươi tháng
chín; cả dân sự đều ngồi tại phố ở đằng trước đền
của Ðức Chúa Trời, rúng sợ về việc ấy
và về cơn mưa lớn.
10. Ðoạn, E-xơ-ra, thầy tế lễ, đứng dậy, và
nói rằng: Các ngươi đã phạm tội, cưới
vợ ngoại bang, và thêm nhiều lên tội lỗi
của Y-sơ-ra-ên.
11. Nhưng bây giờ, khá xưng tội lỗi
mình cho Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, và
làm đều đẹp ý Ngài: hãy
phân cách khỏi các dân tộc
của xứ và khỏi những người vợ ngoại bang.
12. Cả hội chúng bèn đáp lớn tiếng
rằng: Phải, điều ông đã nói,
chúng tôi phải làm theo;
13. song dân sự đông; và là
nhầm mùa mưa, chúng tôi không
có thể nào đứng ngoài; lại điều nầy
chẳng phải là việc của một hoặc hai ngày,
vì trong việc nầy chúng tôi
đã phạm tội nhiều lắm.
14. Vậy, xin các quan trưởng chúng tôi
hãy đứng ở đó đặng biện lý cho cả hội
chúng; phàm ai trong các
thành chúng tôi đã cưới lấy
vợ ngoại bang, phải đến theo kỳ nhứt định, với các trưởng
lão và quan xét của bổn
thành, đặng sắp đặt việc này cho đến chừng
đã nguôi cơn giận dữ của Ðức
Chúa Trời chúng tôi.
15. Chỉ Giô-na-than, con trai của A-sa-ên,
và Gia-xi-gia, con trai Tiếc-va, phản cải lời định nầy;
và Mê-su-lam cùng
Sáp-bê-tai, người Lê-vi, đều
giúp cho họ.
16. Vậy, những người đã bị bắt làm phu
tù được trở về làm theo điều đã
nhứ-định. Người ta chọn E-xơ-ra, thầy tế lễ, và mấy trưởng
tộc, tùy theo tông tộc mình, hết thảy
đều gọi đích danh. Ngày mồng một tháng
mười, chúng ngồi đặng tra xét việc nầy.
17. Ðến ngày mồng một tháng
giêng, chúng đã tra xét xong
những người có vợ ngoại bang.
18. Trong dòng thầy tế lễ cũng có thấy những
người đã cưới vợ ngoại bang. Trong con cháu
Giê-sua, chít của Giô-xa-đác,
và trong vòng các anh em người
có Ma-a-xê-gia, Ê-li-ê-xe,
Gia-ríp, và Ghê-đa-lia.
19. Chúng hứa đuổi vợ mình, và
dâng một con chiên đực làm của lễ chuộc
lỗi mình.
20. Trong con cháu Y-mê có Ha-na-ni
và Xê-ba-bia.
21. Trong con cháu Ha-rim có
Ma-a-xê-gia, Ê-li, Sê-ma-gia,
Giê-hi-ên, và U-xia.
22. Trong con cháu Pha-su-rơ có
Ê-li-ô-ê-nai, Ma-a-xê-gia,
Ích-ma-ên, Na-tha-na-ên,
Giô-xa-bát, và
Ê-lê-a-sa.
23. Trong người Lê-vi có
Giô-xa-bát, Si-mê-i, Kê-la-gia
(cũng gọi là Kê-li-ta), Phê-ta-hia,
Giu-đa, và Ê-li-ê-xe.
24. Trong các người ca hát có
Ê-li-a-síp; trong những người giữ cửa
có Sa-lum, Tê-lem, và U-ri.
25. Trong dân Y-sơ-ra-ên: trong con cháu
Pha-rốt có Ra-mia, Y-xia, Manh-ki-gia, Mi-gia-min,
Ê-lê-a-sa, Manh-ki-gia, Mi-gia-min,
Ê-lê-a-sa, Manh-ki-gia, và
Bê-na-gia.
26. Trong con cháu Ê-lam có
Mát-ta-nia, Xa-cha-ri, Giê-hi-ên,
Áp-đi, Giê-rê-mốt, và
Ê-li.
27. Trong con cháu Xát-tu có
Ê-li-a-síp, Mát-ta-nia,
Giê-rê-mốt, Xa-bát, và
A-xi-xa.
28. Trong con cháu Bê-bai có
Giô-ha-nan, Ha-na-nia, Xáp-bai, và
Át-lai.
29. Trong con cháu Ba-ni có Mê-su-lam,
Ma-lúc, A-đa-gia, Gia-sút, Sê-anh,
và Ra-mốt.
30. Trong con cháu
Pha-hát-Mô-áp có
Át-na, Kê-lanh, Bê-na-gia,
Ma-a-xê-gia, Mát-ta-nia,
Bết-sa-lê-ên, Bin-nui, và Ma-na-se.
31. Trong con cháu Ha-rim có
Ê-li-ê-se, Di-si-gia, Manh-ki-gia,
Sê-ma-gia, Si-mê-ôn,
32. Bên-gia-min, Ma-lúc, và
Sê-ma-ri-a.
33. Trong con cháu Ha-sum có Mát-nai,
Mát-ta-ta, Xa-bát,
Ê-li-phê-lết, Giê-rê-mai,
Ma-na-se, và Si-mê-i.
34. Trong con cháu Ba-ni có Ma-ê-đai,
Am-ram, U-ên,
35. Bên-na-gia, Bê-đia, Kê-lu-hu,
36. Va-nia, Mê-rê-mốt,
Ê-li-a-síp,
37. Mát-ta-nia, Mát-tê-nai, Gia-a-sai,
38. Ba-ni, Bin-nui, Si-mê-i,
39. Sê-lê-mia, Na-than, A-đa-gia,
40. Mác-nát-bai, Sa-rai, Sa-rai,
41. A-xa-rên, Sê-lê-mia,
Sê-ma-ria,
42. Sa-lum, A-ma-ria, và Giô-sép.
43. Trong con cháu Nê-bô có
Giê-i-ên, Ma-ti-thia, Xa-bát,
Xê-bi-na, Giát-đai, Giô-ên
và Bê-na-gia.
44. Hết thảy người ấy đã cưới vợ ngoại bang; và
cũng có nhiều người trong bọn ấy có vợ
đã sanh đẻ con.