[1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29] [30] [31] [32] [33] [34] [35] [36]
2 Sử-Ký 1
Home
1. Sa-lô-môn, con trai Ða-vít,
được vững bền trong nước mình; Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời người ở cùng người,
và làm cho người rất thạnh vượng.
2. Sa-lô-môn truyền bảo cả Y-sơ-ra-ên,
các quan tướng ngàn người và trăm
người, các quan xét và hết thảy
các trưởng trong Y-sơ-ra-ên, là
các trưởng tộc, phải đến;
3. đoạn, Sa-lô-môn và cả hội
chúng đều đi lên nơi cao tại Ga-ba-ôn;
vì ở đó có hội mạc của Ðức
Chúa Trời, mà Môi-se, tôi tớ
của Ðức Giê-hô-va, đã
làm nơi đồng vắng
4. (nhưng Ða-vít đã rước hòm
Ðức Chúa Trời từ
Ki-ri-át-Giê-a-rim lên đến nơi người
đã dọn sẵn cho hòm; vì người
đã dựng cho hòm ấy một cái trại tại
Giê-ru-sa-lem).
5. Vả, ở trước đền tạm của Ðức Giê-hô-va
có bàn thờ đồng mà
Bết-sa-lê-ên, con trai U-ri, cháu Hu-rơ,
đã làm; Sa-lô-môn
và hội chúng đều đến nơi đó.
6. Sa-lô-môn đặt ở trước mặt Ðức
Giê-hô-va tại hội mạc, và dâng
một ngàn của lễ thiêu trên
bàn thờ ấy.
7. Chánh đêm ấy, Ðức Chúa Trời
hiện đến cùng Sa-lô-môn, mà
phán rằng: Ngươi muốn ta ban cho điều gì,
hãy xin đi.
8. Sa-lô-môn thưa cùng Ðức
Chúa Trời rằng: Chúa đã ban ơn rộng
cho Ða-vít, cha tôi, và
đã đặt tôi làm vua thế cho người.
9. Lạy Giê-hô-va Ðức Chúa Trời,
bây giờ nguyện cho lời Chúa hứa cùng
Ða-vít, cha tôi, được ứng nghiệm;
vì Chúa đã lập tôi
lên làm vua dân sự này
đông như bụi đất.
10. Vậy, xin Chúa ban cho tôi sự khôn
ngoan và tri thức, để tôi ra vào trước
mặt dân sự này; vì ai dễ xét
đoán được dân của Chúa rất
đông dường kia?
11. Ðức Chúa Trời phán với
Sa-lô-môn rằng: Ta đã lập ngươi
làm vua dân sự ta; vả, vì ngươi
có lòng như vậy, không có
cầu xin sự giàu có, của cải, tôn vinh,
hay là mạng sống của những kẻ ghen ghét ngươi,
và cũng chẳng có xin sự sống nhưng lại cầu xin sự
khôn ngoan và tri thức cho mình, để
xét đoán dân sự ta,
12. nên ta đã ban sự khôn ngoan
và tri thức cho ngươi; ta lại sẽ ban cho ngươi sự
giàu có, của cải, tôn vinh, đến đỗi
các vua trước ngươi không hề có như
vậy, và sau ngươi cũng sẽ chẳng có vua
nào được như thế.
13. Ðoạn, Sa-lô-môn từ nơi cao tại
Ga-ba-ôn, ở trước hội mạc, trở về Giê-ru-sa-lem;
và người cai trị Y-sơ-ra-ên.
14. Sa-lô-môn nhóm những xe
và lính kỵ, được một ngàn bốn trăm cỗ
xe, và mười hai ngàn lính kỵ; người để
nó trong thành chứa xe, và gần nơi vua
tại Giê-ru-sa-lem.
15. Vua làm cho bạc vàng trong
Giê-ru-sa-lem ra thường như đá sỏi, và
cây bá hương nhiều như cây sung nơi đồng
bằng.
16. Còn ngựa của Sa-lô-môn đều từ
Ê-díp-tô mà ra;
các con buôn của vua đi lãnh mua
nó từng bầy, mỗi bầy theo giá nhất định.
17. Người ta từ xứ Ê-díp-tô mua đem
lên một cái xe giá sáu trăm
siếc-lơ bạc, còn một con ngựa giá một trăm năm
mươi siếc-lơ; các vua dân
Hê-tít và vua Sy-ri cũng theo
giá ấy nhờ những con buôn của vua mà
mua về.
2 Sử-Ký 2
Home
1. Vả, Sa-lô-môn định cất một cái đền
cho danh Ðức Giê-hô-va, và một
cái cung cho nước mình.
2. Sa-lô-môn bèn lựa bảy vạn người bưng
gánh, tám vạn người thợ đẽo đá
trên núi, và ba ngàn
sáu trăm người đốc công.
3. Sa-lô-môn sai đến Hi-ram, vua Ty-rơ,
mà nói rằng: Vua đã hậu đãi
Ða-vít, cha tôi, cung cấp cây
bá hương cho người đặng cất cái cung để người ở;
xin vua cũng hãy đãi tôi như thế.
4. Này tôi toan cất một đền cho danh
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
tôi, biệt đền ấy riêng ra thánh cho
Ngài, đặng xông nhũ hương trước mặt
Ngài, bày bánh trần thiết
luôn luôn, dâng của lễ thiêu về
buổi sáng và về buổi chiều, hoặc trong
ngày sa-bát, ngày mồng một, hay
là trong những ngày lễ định của
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng tôi; đều đó vốn là một
lệ định cho Y-sơ-ra-ên đến đời đời.
5. Ðức Chúa Trời chúng tôi vốn
cao sang, vượt qua hết các thần; nên
cái đền tôi toan cất sẽ nguy nga.
6. Chớ thì ai có sức xây cất cho
Chúa một cái đền; vì trời
và đến đỗi trời của các từng trời còn
chẳng chứa Ngài được thay! Vậy tôi là
ai, mà cất được một cái đền cho Chúa?
Cất nó chẳng qua là để xông hương tại
trước mặt Ngài đó thôi.
7. Vậy, bây giờ, vua hãy sai đến cùng
tôi một người giỏi về nghề chế đồ vàng, bạc, đồng,
sắt, thạo dệt bằng chỉ tím, đỏ và xanh,
cùng biết chạm trổ đủ nghề, để làm việc với những
người tài giỏi ở bên tôi, tại Giu-đa
và Giê-ru-sa-lem, mà
Ða-vít, cha tôi, đã sắm sẵn.
8. Cũng hãy lấy ở Li-ban gỗ bá hương, gỗ
tòng, và gỗ bạch đàn hương
mà gởi đến cho tôi vì tôi vẫn
biết rằng các tôi tớ vua đều thạo đốn
cây trên Li-ban; này các
tôi tớ tôi cũng sẽ giúp đỡ
các tôi tớ vua,
9. đặng lo đốn sắm sửa cây gỗ cho nhiều; vì
cái đền mà tôi toan cất sẽ nguy nga lạ
kỳ.
10. Tôi sẽ cấp cho các tôi tớ vua,
là những kẻ đốn cây, hai vạn cô-rơ
lúa miếng rĩa rồi, hai vạn cô-rơ lúc
mạch, hai vạn bát rượu, và hai vạn bát
dầu.
11. Hi-ram, vua Ty-rơ, bèn viết thơ gởi cho
Sa-lô-môn, mà rằng: Vì cớ
Ðức Giê-hô-va yêu thương
dân sự mình, nên Ngài
đã lập vua làm vua trên
chúng.
12. Hi-ram lại nói: Ngợi khen Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,
là Ðấng dựng nên trời đất, vì
Ngài đã ban cho vua Ða-vít một
con trai khôn ngoan, dẽ dặt, thông minh, để cất một
cái đền cho Ngài và một cái
cung cho nước người.
13. Bây giờ, tôi sai đến cho vua một người
khéo, có trí thông
sáng, là Hu-ram-A-bi,
14. con trai của người đờn bà về chi phái
Ðan, cha người là dân Ty-rơ; người giỏi về
nghề chế đồ vàng, bạc, đồng, sắt, đá,
và gỗ, thạo dệt chỉ tím, xanh và đỏ
sậm, cùng chỉ gai trắng xe mịn, cũng biết làm
các thứ chạm trổ, và tạo ra đủ thứ vật xảo
mà người ta sẽ biểu nó làm.
Nó sẽ làm việc với những thợ khéo của
thân phụ vua là Ða-vít
chúa tôi.
15. Vậy bây giờ xin chúa tôi
hãy gởi cho các tôi tớ chúa
lúa miến, lúa mạch, dầu, và rượu,
mà chúa tôi đã
nói đến;
16. còn chúng tôi sẽ đốn gỗ tại
trên Li-ban theo số bao nhiêu vua cần
dùng, rồi kết thành bè đem ra biển đến
Gia-phô; đoạn vua sẽ chở lên
Giê-ru-sa-lem.
17. Sa-lô-môn bèn điểm soát
các người ngoại quốc ở trong nước Y-sơ-ra-ên,
tùy theo số Ða-vít, cha người,
đã điểm soát; thấy được mười lăm vạn ba
ngàn sáu trăm người.
18. Trong số đó người đặt bảy vạn người làm kẻ
khiêng gánh, tám vạn người đẽo
đá trên núi, và ba
ngàn sáu trăm người đốc công, đặng sai
khiến dân chúng làm việc.
2 Sử-Ký 3
Home
1. Sa-lô-môn khởi cất đền Ðức
Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem,
trên núi Mô-ri-a, là nơi
Ðức Giê-hô-va đã hiện ra
cùng Ða-vít, cha người, tại
trên chỗ mà Ða-vít
đã dọn, tức là trong sân đạp
lúa của Ọt-na, người Giê-bu-sít.
2. Sa-lô-môn khởi xây cất nhằm
ngày mồng hai tháng hai, năm thứ tư đời người trị
vì.
3. Nầy là nền Sa-lô-môn đã
lập đặng cất đền của Ðức Chúa Trời: bề
dài, theo thước xưa, là sáu mươi
thước, và bề ngang hai mươi thước.
4. Hiên cửa ở phía trước, bề dài hai
mươi thước, y như bề ngang của đền vậy, và bề cao một trăm
hai mươi thước; người bọc bề trong bằng vàng ròng.
5. Cái vách đền lớn, người lợp bằng gỗ
bá hương, và bọc vàng ròng,
chạm hình cây chà là
và dây xích ở trên.
6. Người lót đền bằng đá quí đặng
trang sức nó; vàng là vàng
Phạt-va-im.
7. Người lại bọc vàng cái đền, mè,
ngạch cửa, vách, và cửa của đền, còn
trên vách thì chạm hình
chê-ru-bin.
8. Người cũng làm nơi chí thánh: bề
dài hai mươi thước, y như bề ngang của đền, và bề
ngang cũng hai mươi thước; người bọc nơi ấy bằng vàng
ròng; vàng dùng cọng đặng
sáu trăm ta lâng.
9. Những đinh vàng cân nặng năm mươi siếc lơ;
người cũng bọc vàng các phòng cao.
10. Tại trong nơi chí thánh, người làm
hai chê-ru-bin, cứ phép trổ tượng, rồi bọc
vàng.
11. Bốn cánh của hai chê-ru-bin dài hai
mươi thước; cánh này của chê-ru-bin
bên hữu dài năm thước, đụng đến vách
đền, còn cánh kia cũng dài năm thước,
và đụng cánh của chê-ru-bin
bên tả.
12. Cánh này của chê-ru-bin về
bên tả dài năm thước, và đụng đến
vách đền, còn cánh kia cũng
dài năm thước, tiếp giáp với cánh
chê-ru-bin về bên hữu.
13. Các cánh của hai
chê-ru-bên đều sè ra, cọng
dài hai mươi thước; hai chê-ru-bin đứng thẳng chơn
lên, ngảnh mặt hướng về nơi thánh.
14. Người lại chế bức màn bằng chỉ màu xanh,
màu tím, màu đỏ sặm, cùng
chỉ gai xe mịn, rồi ở trên thêu hình
chê-ru-bin.
15. Ðằng trước đền, người xây hai cây trụ,
bề cao ba mươi lăm thước, đầu trụ ở trên chót hai
trụ được năm thước.
16. Người lại làm dây xích giống như
dây xích trong nơi chí
thánh, để trên chót trụ, rồi
làm một trăm trái lựu mà gắn nơi
dây xích ấy.
17. Người dựng hai trụ đó ở trước đền thờ, cây nầy
bên hữu, cây kia bên tả; đặt
tên cây bên hữu là Gia-kin
và cây bên tả là
Bô-ách.
2 Sử-Ký 4
Home
1. Người lại làm một cái bàn thờ đồng,
bề dài hai mươi thước, bề ngang hai mươi thước và
bề cao mười thước.
2. Người làm một cái biển đúc, từ
mép này qua mép kia được mười thước,
tròn tứ vi, và cao năm thước; một sợi
dây ba mươi thước vấn chung quanh nó.
3. Ở dưới vòng chung quanh biển, có
hình giống con bò, mỗi thước mười con,
làm hai hàng, đúc một lượt với biển.
4. Biển để kê trên mười hai tượng con
bò, ba con xây về hướng bắc, ba con xây
về hướng tây, ba con xây về hướng nam,
và ba con xây về hướng đông; biển ở
trên các con bò ấy, thân sau
chúng nó đều quay vào trong.
5. Bề dày biển một gang, mép nó như
mép cái chén, làm tợ hoa
huệ nở; chứa được ba ngàn bát.
6. Người cũng làm mười cái thùng, để
năm cái bên hữu và năm cái
bên tả đặng rửa tại đó; người ta rửa trong
đó vật gì thuộc về của lễ thiêu;
còn những thầy tế lễ đều tắm rửa trong biển đúc.
7. Người làm mười cái chơn đèn bằng
vàng, theo kiểu đã định; rồi để nó
trong đền thờ, năm cái bên hữu, năm cái
bên tả.
8. Lại đóng mười cái bàn, để trong đền
thờ, năm cái bên hữu, và năm
cái bên tả. Rồi làm một trăm
cái chậu bằng vàng.
9. Người cũng làm hành lang cho thầy tế lễ,
và cái sân rộng, các cửa của
sân, rồi bọc đồng các cánh cửa ấy.
10. Người để cái biển ở bên hữu đền, hướng
đông về phía nam.
11. Hu-ram lại làm những bình tro, vá,
và chậu. Hu-ram làm xong công việc
người đã vì Sa-lô-môn
làm trong đền của Ðức Chúa Trời:
12. tức hai cây trụ ở trên chót trụ; hai
cái đầu trụ ở trên chót trụ; hai tấm
lưới bao hai cái bầu của đầu trụ ở trên
chót trụ;
13. bốn trăm trái lựu gắn vào hai tấm lưới, mỗi
tấm có hai hàng trái lựu, đặng bao hai
cái bầu của đầu trụ ở trên chót trụ.
14. Người cũng làm táng, và
cái thùng ở trên táng;
15. đúc một cái biển và mười hai con
bò ở dưới nó;
16. chế những bình tro, vá, nỉa, và
các đồ lề nó; Hu-ram-A-bi vì
Sa-lô-môn làm các đồ
đó bằng đồng trơn láng, đặng dùng
trong đền của Ðức Giê-hô-va.
17. Vua truyền đúc các đồ ấy nơi đồng bằng
Giô-đanh, dưới đất sét, giữa Su-cốt và
Xê-rê-đa.
18. Vua Sa-lô-môn chế các đồ ấy thật
nhiều lắm; còn số cân của đồng thì
người ta không biết.
19. Sa-lô-môn làm hết thảy
các đồ lề trong đền Ðức Chúa Trời:
bàn thờ vàng, những cái bàn
dùng sắp bánh trần thiết,
20. chơn đèn, và cái thếp
nó bằng vàng ròng đặng thắp trước nơi
chí thánh, theo lệ đã định;
21. cũng làm các hoa, thếp, và nỉa
bằng vàng ròng;
22. những dao, chậu, chén, lư hương, cũng bằng
vàng ròng; và nơi vào đền,
các cánh cửa đền trong của nơi chí
thánh, cùng các cánh cửa
của đền thờ cũng đều bằng vàng.
2 Sử-Ký 5
Home
1. Ấy vậy, các công việc mà
Sa-lô-môn làm cho đền của Ðức
Giê-hô-va đều xong rồi.
Sa-lô-môn đem đến những vật mà
Ða-vít, cha người, đã biệt
riêng ra thánh, tức là bạc,
vàng, và các khí dụng, để
vào kho của đền Ðức Chúa Trời.
2. Sa-lô-môn bèn nhóm tại
Giê-ru-sa-lem các trưởng lão
Y-sơ-ra-ên, các trưởng của các chi
phái, và các trưởng tộc dân
Y-sơ-ra-ên, các trưởng của các chi
phái, và các trưởng tộc dân
Y-sơ-ra-ên, đặng rước hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va lên từ thành
Ða-vít, là Si-ôn.
3. Mọi người Y-sơ-ra-ên đều nhóm lại đến
cùng vua nhằm kỳ lễ tháng bảy.
4. Các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều đến,
và người Lê-vi khiêng hòm đi.
5. Những thầy tế lễ và người Lê-vi đều đem
lên cái hòm, hội mạc, và
các khí dụng thánh vốn ở trong trại.
6. Vua Sa-lô-môn và cả hội
chúng Y-sơ-ra-ên đã nhóm lại
với vua, đều đứng trước hòm, dâng những
chiên và bò làm của lễ
nhiều, vô số không thể đếm được.
7. Những thầy tế lễ đem hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va vào nơi dọn cho
hòm, tức trong nơi chí thánh của đền,
dưới cánh chê-ru-bin.
8. Hai chê-ru-bin sè cánh ra
trên chỗ hòm, che hòm và
đòn khiêng.
9. Ðòn khiêng thì
dài, nên đầu đòn thấy ló ra
ngoài hòm, trước nơi chí
thánh; nhưng ở ngoài đền thì chẳng
thấy; hòm vẫn ở đó cho đến ngày nay.
10. Chẳng có gì trong hòm, trừ ra hai
bảng luật pháp mà Môi-se đã
để vào tại Hô-rếp, khi Ðức
Giê-hô-va lập giao ước với dân
Y-sơ-ra-ên, lúc chúng ra khỏi
Ê-díp-tô.
11. Khi những thầy tế lễ ra khỏi nơi thánh (vì
phàm thầy tế lễ ở đó đều đã dọn
mình ra thánh sạch, mà chưa giữ theo
ban thứ nào),
12. và các người ca hát trong
dân Lê-vi, tức A-sáp, Hê-nan,
Giê-đu-thun, cùng con trai và anh em
họ, đương mặc quần áo bằng vải gai mịn, cầm chập chỏa, đờn
sắt, và đờn cầm, đều đứng ở phía đông
bàn thờ, với một trăm hai mươi thầy tế lễ thổi
kèn.
13. Xảy khi kẻ thổi kèn và kẻ ca hát
đồng thinh hòa nhau như một người, mà khen ngợi
cảm tạ Ðức Giê-hô-va, và khi họ
trổi tiếng kèn, chập chỏa, nhạc khí lên
khen ngợi Ðức Giê-hô-va, rằng:
Ngài từ thiện, lòng thương xót
Ngài hằng có đời đời, thì đền của
Ðức Giê-hô-va bị mây lấp đầy;
14. đến đỗi những thầy tế lễ vì mây
không thể đứng đó hầu việc được, vì sự
vinh hiển của Ðức Giê-hô-va đầy lấp đền của
Ðức Chúa Trời.
2 Sử-Ký 6
Home
1. Bấy giờ, Sa-lô-môn nói rằng:
Ðức Giê-hô-va đã phán
rằng Ngài sẽ ngự trong nơi tối thẳm.
2. Nhưng tôi đã cất một cái đền cho
Chúa trú ngụ, một nơi cho Chúa ở đời
đời.
3. Ðoạn vua xây mặt lại chúc phước cho cả
hội chúng Y-sơ-ra-ên cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên đều đứng.
4. Người nói: Ðáng ngợi khen
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, là Ðấng đã
phán hứa với Ða-vít, cha tôi,
và nay lấy tay Ngài mà làm
cho thành lời hứa ấy; Ngài rằng:
5. Từ ngày ta đem dân ta ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, ta chưa chọn một
thành nào trong các chi
phái Y-sơ-ra-ên đặng cất một cái đền,
để đặt danh ta tại đó, và ta cũng chẳng chọn
người nào làm vua chúa trên
dân Y-sơ-ra-ên ta;
6. nhưng ta đã chọn Giê-ru-sa-lem, để đặt danh ta
tại đó, và chọn Ða-vít đặng
cai trị dân Y-sơ-ra-ên ta.
7. Vả, Ða-vít, cha tôi, đã rắp
lòng xây đền cho danh
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên.
8. Nhưng Ðức Giê-hô-va phán với
Ða-vít, cha tôi, rằng: Ngươi có
rắp lòng cất một cái đền cho danh ta, ấy thật
phải lắm;
9. dầu vậy, ngươi sẽ chẳng cất đền ấy; song con trai ngươi sanh ra sẽ
cất cái đền cho danh ta.
10. Ðức Giê-hô-va đã
làm ứng nghiệm lời Ngài phán, khiến
tôi kế cho Ða-vít, cha tôi,
lên ngôi trị vì Y-sơ-ra-ên, y
như Ðức Giê-hô-va đã hứa:
nên tôi có cất đền cho danh
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên,
11. và tại đền ấy đã đặt cái
hòm đựng giao ước của Ðức
Giê-hô-va mà Ngài lập với
dân Y-sơ-ra-ên.
12. Sa-lô-môn đương đứng trước bàn thờ
của Ðức Giê-hô-va, đối mặt cả hội
chúng Y-sơ-ra-ên, giơ tay mình ra
13. (vì người đã đóng một
cái sạp bằng đồng, bề dài năm thước, bề ngang năm
thước, bề cao ba thước, để tại giữa hành lang; người đứng
tại đó, quì gối xuống trước mặt cả hội
chúng Y-sơ-ra-ên, giơ tay lên
trên trời),
14. mà rằng: Lạy Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! trên trời
và dưới đất, chẳng có thần nào giống
như Chúa. Chúa gìn giữ lời giao ước
và lòng nhơn từ đối với kẻ tôi tớ
Chúa, là kẻ hết lòng đi trước mặt
Chúa;
15. đối với tôi tớ Chúa là
Ða-vít cha tôi, Chúa
có gìn giữ lời Chúa đã hứa
với người: Thật hễ điều gì miệng Chúa
phán, thì tay Chúa đã
làm cho hoàn thành, y như
đã có ngày nay.
16. Vậy, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của Y-sơ-ra-ên ôi! Chúa đã
hứa cùng tôi tớ Chúa là
Ða-vít, cha tôi, rằng: Ví bằng
con cháu ngươi cẩn thận đường lối mình, giữ theo
các luật pháp ta, y như ngươi đã
làm, thì trước mặt ta ngươi sẽ chẳng hề thiếu
người ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên; nay cầu
xin Chúa hãy giữ gìn lời hứa ấy.
17. Hỡi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của Y-sơ-ra-ên! nguyện lời Chúa đã hứa
cùng Ða-vít, tôi tớ
Chúa, được ứng nghiệm.
18. Mà chi! Có thật rằng Ðức
Chúa Trời ngự chung với loài người ở
trên đất ư? Kìa trời, cho đến đỗi trời của
các từng trời còn chẳng có thế chứa
Chúa được thay, phương chi cái đền nầy
tôi đã cất!
19. Dầu vậy, hỡi Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời tôi ôi! xin hãy
đoái thương lời cầu nguyện và sự nài
xin của tôi tớ Chúa, nghe tiếng kêu cầu
và khẩn nguyện của tôi tớ Chúa cầu
trước mặt Chúa.
20. Nguyện mắt Chúa ngày và
đêm đoái xem nhà này,
vì về nhà này Chúa
đã phán rằng: sẽ đặt danh Chúa tại
đó. Khi tôi tớ Chúa hướng nơi
này mà cầu nguyện, xin Chúa dủ nghe.
21. Phàm điều gì tôi tớ Chúa
và dân Y-sơ-ra-ên sẽ cầu khẩn trong khi
hướng về nơi này, xin Chúa hãy dủ
nghe, nhậm lời, và tha thứ cho.
22. Nếu ai phạm tội cùng kẻ lân cận
mình, và người ta bắt nó phải thề, nếu
nó đến thề ở trước bàn thờ của Chúa
tại trong đền này,
23. thì xin Chúa từ trên trời
hãy nghe, thi hành, và xét
đoán tôi tớ Chúa, mà
báo trả kẻ ác tùy việc nó
làm, khiến tội nó đổ lại trên đầu
nó, xưng công bình cho người
công bình, và thưởng người
tùy sự công bình của người.
24. Nếu dân Y-sơ-re-ên của Chúa,
vì phạm tội với Chúa, bị quân
thù nghịch đánh được, mà
chúng trở lại cùng Chúa, nhận biết
danh Ngài, và cầu nguyện nài xin trước
mặt Chúa trong đền này,
25. thì xin Chúa từ trên trời
hãy dủ nghe, tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên
của Chúa, và khiến họ trở về xứ mà
Chúa đã ban cho họ và cho tổ phụ của
họ.
26. Khi các từng trời đóng chặt, không
có mưa, bởi vì dân Y-sơ-ra-ên
đã phạm tội với Chúa; nếu sau khi Chúa
đã đoán phạt họ, họ hướng về nơi này
mà cầu nguyện, nhận biết danh Chúa, trở bỏ tội
lỗi mình,
27. thì xin Chúa ở trên trời
hãy dủ nghe, tha tội cho kẻ tôi tớ Chúa
và cho dân Y-sơ-ra-ên của
Ngài, khi Ngài đã dạy cho
chúng con đường lành mà
chúng phải đi theo, và giáng mưa xuống
trên đất mà Chúa đã ban cho
dân Ngài làm sản nghiệp.
28. Nếu trong xứ có cơn đói kém,
ôn dịch, đại hạn, ten sét, cào
cào, hay là châu chấu; hoặc kẻ
thù nghịch vây hãm các
thành trong địa phận họ; bất kỳ có tai vạ
gì, tật bịnh gì;
29. ví bằng có một người, hoặc cả dân
Y-sơ-ra-ên của Chúa đã nhận biết tai vạ
và sự đau đớn của mình, mà giơ tay ra
hướng về nhà này, cầu nguyện và khẩn
xin vô luận điều gì,
30. thì xin Chúa từ trên trời,
là nơi ngự của Chúa, hãy dủ nghe, tha
thứ cho, và báo lại cho mỗi người tùy
theo công việc họ, vì Chúa
thông biết lòng của họ (thật chỉ một
mình Chúa biết được lòng của con
cái loài người);
31. để khiến chúng kính sợ Chúa, đi
theo đường lối của Chúa trọn đời chúng sống ở
trên đất mà Chúa đã ban cho
tổ phụ chúng tôi.
32. Vả lại, về người ngoại bang là người chẳng thuộc về
dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, nhưng
vì danh lớn Chúa, vì cánh
tay quyền năng giơ thẳng ra của Ngài, họ sẽ từ xứ xa đi đến
hướng về đền này mà cầu nguyện,
33. thì xin Chúa từ trên trời,
là nơi ngự của Chúa; hầu cho muôn
dân trên đất nhận biết danh Chúa,
kính sợ Ngài như dân
Y-sơ-ra-ên của Chúa, và biết rằng
cái đền này mà tôi
đã xây cất, được gọi bằng danh Chúa.
34. Khi dân sự Chúa ra chiến tranh với kẻ
thù nghịch mình, theo đường nào
mà Chúa sẽ sai đi, nếu chúng cầu
nguyện cùng Chúa, xây về hướng
thành nầy mà Chúa đã chọn,
và về đền nầy mà tôi đã
xây cất cho danh Chúa,
35. thì xin Chúa từ trên trời
hãy dủ nghe lời cầu nguyện nài xin của
chúng, và binh vực cho họ.
36. Nếu dân Y-sơ-ra-ên phạm tội với Chúa
(vì chẳng có người nào mà
không phạm tội), và Chúa nổi giận,
phó chúng cho kẻ thù nghịch,
và kẻ thù nghịch bắt họ làm phu
tù dẫn đến xứ xa hay gần;
37. nếu trong xứ mà họ bị dẫn đến làm phu
tù, họ suy nghĩ lại, ăn năn, và cầu khẩn
Chúa, mà rằng: Chúng tôi
có phạm tội, làm điều gian ác
và cư xử cách dữ tợn,
38. nếu tại trong xứ mà kẻ thù nghịch
đã dẫn họ đến làm phu tù, họ hết
lòng hết ý trở lại cùng
Chúa, cầu nguyện cùng Ngài hướng về xứ
mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ, về
thành Chúa đã chọn, và về
đền mà tôi đã xây cất cho
danh Chúa,
39. thì xin Chúa từ trên trời,
là nơi ngự của Chúa, hãy dủ nghe lời
cầu nguyện nài xin của chúng, binh vực họ,
và tha thứ tội mà dân sự của
Chúa đã phạm cùng Ngài.
40. Vậy, Ðức Chúa Trời tôi ôi!
bây giờ cầu xin Chúa đoái thương
và lắng tai nghe phàm lời nào cầu
nguyện trong nơi này.
41. Nầy, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
ôi! xin hãy chổi dậy, để Chúa
và hòm quyền năng Ngài được
vào nơi an nghỉ Ngài! Lạy
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời! nguyện
những thầy tế lễ Chúa được mặc sự cứu rỗi, và
các thánh đồ Chúa được mừng rỡ trong
sự nhơn từ Ngài!
42. Hỡi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời!
xin chớ từ bỏ kẻ chịu xức dầu của Chúa; khá nhớ
lại các sự nhân từ của Chúa đối với
Ða-vít, là kẻ tôi tớ
Ngài.
2 Sử-Ký 7
Home
1. Khi Sa-lô-môn cầu nguyện xong, lửa từ trời
giáng xuống đốt của lễ thiêu và
các hi sinh, sự vinh quang của Ðức
Giê-hô-va đầy dẫy trong đền.
2. Những thầy tế lễ chẳng vào được trong đền của Ðức
Giê-hô-va, vì sự vinh quang Ðức
Giê-hô-va đầy dẫy đền của Ngài.
3. Hết thảy dân Y-sơ-ra-ên đều thấy lửa
và sự vinh quang của Ðức
Giê-hô-va giáng xuống đền,
bèn sấp mặt xuống đất trên nền lót, thờ
lạy Ðức Giê-hô-va và cảm tạ
Ngài, mà rằng: Chúa là
nhân từ, vì sự thương xót của
Ngài còn đến đời đời!
4. Bấy giờ vua và cả dân sự dâng những
của lễ tại trước mặt Ðức Giê-hô-va.
5. Vua Sa-lô-môn dâng hai vạn hai
ngàn con bò và mười hai vạn con
chiên đực. Rồi vua và cả dân sự đều
làm lễ khánh thành đền của Ðức
Chúa Trời.
6. Những thầy tế lễ hầu việc theo chức phận mình;
còn người Lê-vi thì cầm nhạc
khí của Ðức Giê-hô-va,
mà vua Ða-vít đã sắm đặng ngợi
khen Ðức Giê-hô-va Ngài, bởi
vì lòng nhân từ Chúa
còn đến đời đời. Những thầy tế lễ thổi kèn ở
trước mặt chúng, và cả Y-sơ-ra-ên đều
đứng.
7. Sa-lô-môn biệt riêng ra
thánh chỗ ở chính giữa hành
làng trước đền Ðức Giê-hô-va;
vì tại đó, người dâng của lễ
thiêu và mỡ về của lễ thù ân,
bởi cái bàn thờ đồng mà
Sa-lô-môn đã làm,
không đựng hết của lễ thiêu, của lễ chay,
và mỡ được.
8. Trong khi ấy, Sa-lô-môn và cả
Y-sơ-ra-ên, đến từ miền về phía Ha-mát
cho tới khe Ê-díp-tô, nhóm
lại thành một hội rất đông đảo, đều dự lễ trong
bảy ngày.
9. Qua ngày thứ tám, người ta giữ lễ trọng thể,
vì họ dự lễ khánh thành bàn
thờ trong bảy ngày, và mừng lễ thường trong bảy
ngày.
10. Ngày hai mươi ba tháng bảy, người cho
dân sự trở về trại mình, lòng đều vui
vẻ và mừng rỡ, vì sự nhân từ
mà Ðức Giê-hô-va đã
ban cho Ða-vít, cho Sa-lô-môn,
và cho Y-sơ-ra-ên, là dân sự
của Ngài.
11. Như vậy, Sa-lô-môn làm xong đền
Ðức Giê-hô-va và cung vua;
phàm công việc gì
Sa-lô-môn rắp lòng làm trong
đền Ðức Giê-hô-va và trong cung
vua, đều xong cả.
12. Ban đêm Ðức Giê-hô-va hiện
đến cùng Sa-lô-môn, mà rằng:
Ta có nghe lời cầu nguyện ngươi, và đã
chọn nơi này làm một nhà tế lễ.
13. Nếu ta đóng các từng trời lại,
không cho mưa xuống, khiến cào cào
phá hại thổ sản, và giáng ôn
dịch giữa dân sự ta;
14. và nhược bằng dân sự ta, là
dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện,
tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường
tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ
tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ.
15. Bấy giờ, mắt ta sẽ đoái xem, lỗ tai ta sẽ lắng nghe lời
nào cầu nguyện tại nơi này;
16. vì bây giờ, ta đã chọn
và khiến cho cái nhà này ra
thánh, hầu cho danh ta ngự đó đời đời: mắt
cùng lòng ta sẽ ở đó luôn
luôn.
17. Còn ngươi, nếu ngươi khứng đi trước mặt ta như
Ða-vít, cha ngươi đã làm,
làm theo mọi điều ta phán dạy ngươi,
gìn giữ luật lệ và giới mạng ta,
18. thì ta sẽ lập ngôi nước ngươi được bền vững, y
theo lời ước ta đã kết với Ða-vít, cha
ngươi, mà rằng: Ngươi sẽ chẳng hề thiếu người quản trị
Y-sơ-ra-ên.
19. Nhưng nếu các ngươi bội nghịch, bỏ các luật
lệ và giới mạng ta đã đặt trước mặt
các ngươi, đi hầu việc những tà thần
và thờ lạy chúng nó,
20. thì ta sẽ rứt nhổ các ngươi khỏi đất ta
đã ban cho các ngươi; còn
cái nhà này mà ta
đã biệt riêng ra thánh cho danh ta, ta
sẽ bỏ nó đi, làm cho nó nên
một câu tục ngữ, một việc nhạo cười giữa các
dân tộc.
21. Cái nhà này dẫu cao dường
nào, hễ ai đi qua gần nó cũng sẽ lấy
làm lạ mà nói rằng: Cớ sao Ðức
Giê-hô-va có xử xứ này
và đền này như thế?
22. Thì người ta sẽ đáp rằng: Bởi vì
họ lìa bỏ Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của tổ phụ họ, là Ðấng
đã dẫn họ ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, và vì họ
đeo đuổi theo các tà thần, thờ lạy và
hầu việc chúng nó, nên Ngài
đã giáng trên họ các tai vạ
này.
2 Sử-Ký 8
Home
1. Cuối hai mươi năm, sau khi Sa-lô-môn
đã xây cất xong cái đền của Ðức
Giê-hô-va và cái cung
mình,
2. thì Sa-lô-môn cũng sửa xây
lại các thành mà vua Hu-ram
đã nhường cho người, và khiến cho dân
Y-sơ-ra-ên ở đó.
3. Sa-lô-môn đi đến
Ha-mát-Xô-ba và thắng được.
4. Người xây thành Tát-mốt trong đồng
vắng, và xây các thành
dùng làm kho tàng tại xứ
Ha-mát.
5. Người cũng xây Bết-Hô-rôn
trên và Bết-Hô-rôn dưới,
là những thành bền vững, có
vách tường, cửa và then khóa;
6. lại xây thành Ba-lát và
các thành làm kho tàng của
Sa-lô-môn, các thành để chứa
xe, và các thành cho lính
kỵ người ở; phàm điều gì
Sa-lô-môn ước ao xây cất, hoặc tại
Giê-ru-sa-lem, trên Li-ban, hay là trong
khắp xứ phục dưới quyền người, thì đều xây cất cả.
7. Hết thảy những người còn sống sót lại trong
dân Hê-tít, dân
A-mô-rít, dân
Phê-rê-sít, dân
Hê-vít, và dân
Giê-bu-sít, không thuộc về
Y-sơ-ra-ên,
8. tức là những con cháu chúng
nó hãy còn lại trong xứ, mà
dân Y-sơ-ra-ên không diệt hết,
thì trong chúng nó
Sa-lô-môn bắt kẻ làm xâu cho
đến ngày nay.
9. Nhưng về dân Y-sơ-ra-ên,
Sa-lô-môn không bắt ai làm
xâu hết, vì họ làm quân
lính, quan tướng, quan cai xe, và lính
kỵ của người.
10. Còn về quan trưởng của Sa-lô-môn đặt
lên để quản đốc dân sự làm
công việc, số là hai trăm năm mươi người.
11. Sa-lô-môn sai rước công
chúa Pha-ra-ôn ở thành
Ða-vít lên cung mà người
đã cất cho nàng; vì người
nói rằng: Vợ ta chẳng nên ở trong cung
Ða-vít, vua Y-sơ-ra-ên, vì nơi
nào hòm của Ðức
Giê-hô-va đến, thì đã
nên thánh rồi.
12. Bấy giờ, Sa-lô-môn dâng của lễ
thiêu cho Ðức Giê-hô-va tại
trên bàn thờ của Giê-hô-va
mà người đã xây trước hiên
cửa;
13. lại tùy theo lệ luật của Môi-se, người
dâng mỗi ngày của lễ phải dâng,
cùng trong các ngày sa-bát,
ngày mồng một, và hằng năm nhằm ba lễ trọng thể,
tức lễ bánh không men, lễ các tuần lễ,
và lễ lều tạm.
14. Tùy theo lịnh truyền của Ða-vít, cha
mình, người phân định ban thứ của những thầy tế lễ
trong phần việc họ, và lập người Lê-vi trong chức
sự họ, đặng ngợi khen Chúa và hầu việc tại trước
mặt những thầy tế lễ, cứ công việc ngày
nào theo ngày nấy; tại mỗi cửa cũng đặt kẻ giữ
cửa, cứ theo phiên mình, vì
Ða-vít, người của Ðức Chúa Trời,
đã truyền lịnh như vậy.
15. Phàm điều gì vua đã
phán dạy hững thầy tế lễ và người
Lê-vi, hoặc về kho tàng hay là về việc
khác, thì họ chẳng bỏ bê
chút nào.
16. Vả, các tài liệu mà
Sa-lô-môn dùng về việc cất đền của
Ðức Giê-hô-va, đều đã sắm sửa từ
ngày đặt nền cho đến khi công việc xong.
Ðền của Ðức Giê-hô-va đã
cất xong là như vậy.
17. Khi ấy Sa-lô-môn đi đến
Ê-xi-ôn-Ghê-be và
Ê-lốt, tại trên mé biển, trong xứ
Ê-đôm.
18. Hu-ram bởi tay các tôi tớ mình, gởi
đến cho người những tàu và các thủy
thủ thạo nghề đi biển; chúng đi với các
tôi tớ của Sa-lô-môn đến
Ô-phia, lấy tại đó bốn trăm năm mươi ta
lâng vàng, và chở về cho vua
Sa-lô-môn.
2 Sử-Ký 9
Home
1. Khi nữ vương nước Sê-ba nghe đồn danh tiếng của
Sa-lô-môn, bèn đi đến
Giê-ru-sa-lem, lấy những câu đố mà thử
người, bà có hầu hạ theo rất đông,
có những lạc đà chở thuốc thơm, rất nhiều
vàng, và đá quí;
bà đến cùng Sa-lô-môn,
nói với người mọi điều có ở trong lòng
mình.
2. Sa-lô-môn đáp các
câu hỏi của bà, chẳng câu nào
ẩn bí quá cho Sa-lô-môn
mà người không giải nghĩa nổi cho bà.
3. Khi nữ vương Sê-ba thấy sự khôn ngoan của
Sa-lô-môn, cung điện người đã
xây cất,
4. những món ăn trên bàn người,
nhà cửa các tôi tớ, thứ tự
công việc của các quan, và đồ mặc của
họ, các quan chước tửu và áo xống của
họ, cùng các của lễ thiêu người
dâng trong đền Ðức Giê-hô-va,
thì mất vía,
5. bèn nói với vua rằng: Ðiều
tôi nghe nói trong xứ tôi về
các lời nói và sự khôn ngoan
của vua, thì thật lắm.
6. Song trước khi tôi chưa đến đây và
chưa thấy tận mắt những điều này, thì
tôi chẳng tin lời họ; và kìa, người ta
chẳng thuật cho tôi nghe đến phân nửa sự
khôn ngoan lớn lao của vua; vua thật trổi hơn tiếng đồn
tôi đã nghe.
7. Các quần thần của vua thật có phước thay!
Các tôi tớ vua, hằng đứng chầu trước mặt vua, nghe
sự khôn ngoan của vua, thật có phước thay!
8. Ðáng ngợi khen thay Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của vua, vì Ngài
vui thích vua, đặt vua ngồi trên ngôi
của Ngài đặng làm vua cho
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của vua!
Bởi vì Ðức Chúa Trời của vua
yêu mến Y-sơ-ra-ên, đặng làm cho
chúng vững bền đến đời đời, nên Ngài
đã lập vua làm vua trên
chúng, để làm theo sự ngay thẳng và sự
công bình.
9. Ðoạn, bà dâng cho vua một trăm hai mươi
ta lâng vàng, và rất nhiều thuốc thơm,
cùng đá quí; chẳng hề có
thuốc thơm nào giống như thuốc thơm của nữ vương nước
Sê-ba dâng cho vua Sa-lô-môn.
10. (Các tôi tớ của Hu-ram và
tôi tớ của Sa-lô-môn từ Ô-phia
chở vàng đến, cũng có chở về gỗ bạch
đàn hương và đá quí.
11. Vua dùng gỗ bạch đàn hương ấy mà
làm cái thang trong đền của Ðức
Giê-hô-va, và trong cung điện vua,
cùng những đờn cầm đờn sắt cho con hát: trước khi
trong nước Giu-đa, người ta chẳng hề thấy có giống như vậy).
12. Vua Sa-lô-môn tặng cho nữ vương nước
Sê-ba mọi đồ bà ước ao và xin, gấp
nhiều hơn đồ bà đã đem dâng cho vua.
Ðoạn, bà và các đầy tớ
bà trở về xứ mình.
13. Vàng mà vua Sa-lô-môn
nhận được mỗi năm cân đến sáu trăm bảy mươi ta
lâng,
14. không kể vàng mà các
nhà buôn bán, kẻ buôn
bán dong đem vào, cùng vàng
và bạc mà các vua A-ra-bi
và quan tổng trấn của xứ đem nộp cho
Sa-lô-môn.
15. Sa-lô-môn làm hai trăm
cái khiên lớn bằng vàng đánh
giát cứ mỗi cái dùng sáu
trăm siếc lơ vàng đánh giát,
16. và ba trăm cái khiên nhỏ bằng
vàng đánh giát, cứ mỗi cái
dùng ba trăm siếc lơ vàng; đoạn vua để
các khiên ấy nơi cung rừng Li-ban.
17. Vua cũng làm một cái ngai lớn bằng
ngà, và bọc vàng ròng;
18. cái ngai có sáu nấc lên,
và một cái bệ bằng vàng liền với
cái ngai; cũng có thanh nâng tay
bên này và bên kia của chỗ
ngồi, gần thanh nâng tay có hai con sư tử.
19. Lại có mười hai con sư tử đứng trên
sáu nấc, bên hữu và bên tả:
chẳng có nước nào làm ngai giống như
vậy.
20. Các đồ dùng để uống của vua
Sa-lô-môn đều bằng vàng, và
những khí dụng của cung rừng Li-ban cũng đều bằng
vàng ròng: trong đời
Sa-lô-môn, chẳng kể bạc ra gì,
21. vì vua có đoàn tàu vượt
sang Ta-rê-si với các tôi tớ của Hi-ram:
mỗi ba năm một lần đoàn tàu Ta-rê-si
chở đến vàng, bạc ngà voi, con khỉ và
con công.
22. Ấy vậy, vua Sa-lô-môn trổi hơn các
vua trên đất về sự khôn ngoan.
23. Các vua trên đất đều cầu thấy mặt
Sa-lô-môn, đặng nghe sự khôn ngoan của
người mà Ðức Chúa Trời đã để
trong lòng người.
24. Cứ hằng năm theo lệ định, chúng đều đem đến vật
mình tiến cống, nào những khí dụng
bằng bạc, bằng vàng, nào áo xống, binh
khí, nào thuốc thơm, ngựa và la.
25. Vua Sa-lô-môn có được bốn
ngàn tàu ngựa và xe, cùng
một vạn hai ngàn lính kỵ, để trong các
thành chứa xe, và gần bên vua, tại
Giê-ru-sa-lem.
26. Người quản trị trên các vua, từ sông
cái cho đến xứ Phi-li-tin, và cho đến bờ
cõi Ê-díp-tô.
27. Tại Giê-ru-sa-lem, vua làm cho bạc ra thường
như đá sỏi, và cây bá hương
nhiều như cây sung mọc ở nơi đồng bằng.
28. Có người đem cho Sa-lô-môn những
ngựa từ xứ Ê-díp-tô và từ
các nước mà đến. Sa-lô-môn
qua đời
29. Các công việc khác của
Sa-lô-môn làm từ đầu đến cuối đều
chép trong sách truyện Na-than, là
đấng tiên tri, và trong sách
tiên tri của A-hi-gia, người Si-lô, cùng
trong sách dị tượng của Giê-đô, đấng
tiên kiến luận về việc
Giê-rô-bô-am, con trai của
Nê-bát.
30. Sa-lô-môn trị vì trên cả
Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem.
31. Sa-lô-môn an giấc cùng tổ phụ
mình, được chôn trong thành của
Ða-vít, là cha người;
Rô-bô-am, con trai người, cai trị thế cho người.
2 Sử-Ký 10
Home
1. Rô-bô-am đi đến Si-chem, vì cả
Y-sơ-ra-ên đều đã tới Si-chem đặng tôn
người làm vua.
2. Khi Giê-rô-bô-am, con trai
Nê-bát, hay điều đó, thì
còn ở Ê-díp-tô, là
nơi người đã trốn, để thoát khỏi mặt
Sa-lô-môn; người bèn từ
Ê-díp-tô trở về.
3. Người ta sai kẻ đi gọi người về; đoạn
Giê-rô-bô-am và cả
Y-sơ-ra-ên đều đến tâu với
Rô-bô-am rằng:
4. Thân phụ vua đã gán ách
nặng cho chúng tôi, vậy bây giờ,
hãy giảm nhẹ sự phục dịch khó nhọc này
và cái ách nặng nề mà
thân phụ vua đã gán trên
chúng tôi, thì chúng
tôi sẽ phục sự vua.
5. Người đáp với chúng rằng: Khỏi ba
ngày, các ngươi hãy trở lại
cùng ta. Dân sự bèn lui về.
6. Vua Rô-bô-am bàn nghị cùng
các trưởng lão đã chầu trước mặt
Sa-lô-môn, cha người, trong lúc
Sa-lô-môn còn sống, mà rằng:
Các ngươi bàn luận cho ta phải trả lời với
dân sự này làm sao?
7. Các trưởng lão thưa lại với vua rằng: Nếu vua
đãi dân sự này tử tế, ăn ở vui
lòng cùng chúng nó,
và lấy lời hiền lành nói với
chúng nó, ắt chúng nó sẽ
làm tôi tớ vua mãi mãi.
8. Song Rô-bô-am chẳng theo mưu của các
trưởng lão đã bàn cho mình,
bèn hội nghị với các người trai trẻ đã
đồng sanh trưởng với mình, và chầu trước mặt
mình,
9. mà rằng: Dân sự này đã
tâu với ta rằng: Hãy giảm nhẹ cái
ách mà thân phụ vua đã
gán cho chúng tôi; vậy các
ngươi bàn luận cho ta phải đáp với
chúng nó làm sao?
10. Các gã trai trẻ đồng lớn lên với
người thưa rằng: Dân sự đã thưa với vua rằng:
Thân phụ vua khiến cho ách chúng
tôi nặng nề; vua hãy làm cho
nó ra nhẹ; vua phải đáp lại cùng
chúng như vầy: Ngón tay út ta lớn hơn
lưng của cha ta.
11. Vậy, bây giờ, cha ta đã gán một
cái ách nặng trên các ngươi,
ắt ta sẽ làm cho ách các ngươi
thêm nặng hơn; cha ta đã sửa phạt các
ngươi bằng roi, còn ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng
roi bò cạp.
12. Ngày thứ ba, Giê-rô-bô-am
và cả dân sự đều đến cùng
Rô-bô-am y như vua đã biểu rằng:
Hãy trở lại cùng ta trong ngày thứ ba.
13. Vua Rô-bô-am đáp với dân
sự cách xẳng xớm, bỏ mưu của các trưởng
lão đã bàn,
14. theo lời bàn của những kẻ trai trẻ, và
đáp cùng chúng rằng: Cha ta khiến cho
ách các ngươi nặng nề; ta sẽ làm cho
ách các ngươi thêm nặng hơn; cha ta sửa
phạt các ngươi bằng roi, ta sẽ sửa phạt các ngươi
bằng roi bò cạp.
15. Như vậy, vua không nghe lời dân sự,
vì ấy là bởi Ðức Chúa Trời dẫn
đến, hầu cho Ðức Giê-hô-va làm
ứng nghiệm lời của Ngài đã nhờ A-hi-gia, người
Si-lô, mà phán cùng
Giê-rô-bô-am, con trai của
Nê-bát.
16. Khi cả Y-sơ-ra-ên thấy vua không nghe lời họ,
bèn đáp cùng người, mà
rằng: Chúng ta có phần gì với
Ða-vít? Chúng ta chẳng có cơ
nghiệp gì với con trai Y-sai. Hỡi Y-sơ-ra-ên! mỗi
người hãy trở về trại mình đi. Ớ
Ða-vít! từ rày khá coi chừng
nhà của ngươi. Cả Y-sơ-ra-ên bằn trở về trại
mình.
17. Nhưng còn dân Y-sơ-ra-ên ở tại
các thành Giu-đa thì
Rô-bô-am cai trị trên chúng.
18. Bấy giờ, vua Rô-bô-am sai Ha-đô-ram,
là người cai quản việc cống thuế, đến cùng
dân Y-sơ-ra-ên; song dân
Y-sơ-ra-ên ném đá người, thì
người chết. Vua Rô-bô-am lật đật lên xe
trốn về Giê-ru-sa-lem.
19. Ấy vậy, Y-sơ-ra-ên phản nghịch cùng
nhà Ða-vít cho đến ngày nay.
2 Sử-Ký 11
Home
1. Rô-bô-am trở về thành
Giê-ru-sa-lem, bèn nhóm nhà
Giu-đa và nhà Bên-gia-min, được mười
tám vạn chiến sĩ kén chọn, toan đánh
giặc với Y-sơ-ra-ên, để đem nước về
Rô-bô-am lại.
2. Nhưng có lời của Ðức
Giê-hô-va phán cùng
Sê-ma-gia, người của Ðức Chúa Trời, rằng:
3. Hãy nói với Rô-bô-am, con
trai của Sa-lô-môn, vua Giu-đa, và với
cả Y-sơ-ra-ên trong Giu-đa, cùng
Bên-gia-min, mà rằng:
4. Ðức Giê-hô-va phán như vầy:
Các ngươi chớ đi lên chinh chiến với anh em
mình; mỗi người hãy trở về nhà
mình, vì việc này tại ta mà
xảy đến. Chúng nghe theo lời của Ðức
Giê-hô-va, và trở về, không đi
đánh Giê-rô-bô-am.
5. Rô-bô-am ở tại Giê-ru-sa-lem,
xây các thành trong đất Giu-đa
làm nên đồn lũy.
6. Người xây Bết-lê-hem, Ê-tam,
Thê-cô-a,
7. Bết-xu-rơ, Sô-cô, A-đu-lam,
8. Gát, Ma-rê-sa, Xíp
9. A-đô-ra-im, La-ki, A-xê-ka,
10. Xô-rê-a A-gia-lôn, và
Hếp-rôn, là những thành bền vững ở
trong đất Giu-đa và đất Bên-gia-min.
11. Người làm cho các đồn lũy ấy vững chắc, đặt
những quan tướng ở đó, chứa lương thực, dầu, và
rượu;
12. còn trong mỗi thành, người sắm
khiên và giáo, làm cho
các thành ấy rất bền vững. Ðất Giu-đa
và đất Bên-gia-min đều thuộc về người.
13. Những thầy tế lễ và người Lê-vi trong khắp xứ
Y-sơ-ra-ên, đều từ các miền họ ở, đến
cùng Rô-bô-am
14. vì các người Lê-vi lìa
bỏ địa hạt các thành mình
và sản nghiệp mình, mà đến đất Giu-đa
và thành Giê-ru-sa-lem; bởi
Giê-rô-bô-am và các
con trai người đuổi họ đi, không cho làm chức thầy
tế lễ của Ðức Giê-hô-va nữa;
15. Giê-rô-bô-am bèn lập những
thầy tế lễ cho các nơi cao, cho các
hình tượng dê đực, và bò con
mà người đã làm.
16. Lại trong các chi phái Y-sơ-ra-ên,
phàm ai rắp lòng tìm kiếm
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, thì đều theo những thầy tế lễ
và người Lê-vi mà đến
Giê-ru-sa-lem đặng tế lễ cho Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của tổ phụ mình.
17. Trong ba năm, chúng làm cho nước Giu-đa vững
chắc, giúp đỡ Rô-bô-am, con trai của
Sa-lô-môn, trở nên cường thạnh;
vì trong ba năm ấy chúng đi theo con đường của
Ða-vít và Sa-lô-môn.
18. Rô-bô-am lấy Ma-ha-lát, con
gái của Giê-ri-mốt, cháu của
Ða-vít, làm vợ; lại cưới A-bi-hai, con
gái Ê-li-áp, cháu của Y-sai;
19. nàng sanh cho người những con trai, là
Giê-úc, Sê-ma-ria, và Xa-ham.
20. Sau nàng, người lại cưới Ma-a-ca, con gái
Áp-sa-lôn; nàng sanh cho người,
A-bi-gia, Át-thai Xi-xa, và
Sê-lô-mít.
21. Vả, Rô-bô-am yêu mến Ma-a-ca con
gái Áp-sa-lôm hơn các hậu
phi khác (vì người có lấy mười
tám hoàng hậu và sáu mươi
cung phi, sanh ra hai mươi tám con trai và
sáu mươi con gái).
22. Rô-bô-am lập A-bi-gia, con trai Ma-a-ca,
làm trưởng, làm thái tử giữa anh em
mình; vì người toan lập con ấy làm vua.
23. Rô-bô-am cư xử cách khôn
ngoan, phân tản các con trai mình đi ở
khắp trong cõi Giu-đa và Bên-gia-min,
nơi các thành bền vững, cấp cho chúng
lương thực dư dật, và cưới nhiều vợ cho.
2 Sử-Ký 12
Home
1. Xảy khi nước của Rô-bô-am vừa được lập vững bền,
và người được cường thạnh, thì người
và cả Y-sơ-ra-ên liền bỏ luật pháp của
Ðức Giê-hô-va.
2. Vì chúng có phạm tội
cùng Ðức Giê-hô-va,
nên xảy ra trong năm thứ năm đời vua
Rô-bô-am, Si-sắc, vua
Ê-díp-tô, kéo lên
hãm đánh Giê-ru-sa-lem;
3. có dẫn theo một ngàn hai trăm cỗ xe
và sáu vạn lính kỵ; lại có
dân Li-by, dân Su-ri, và dân
Ê-thi-ô-bi từ
Ê-díp-tô kéo lên
với người, số không thể đếm đặng.
4. Si-sắc bèn chiếm lấy các thành bền
vững thuộc về Giu-đa, rồi đến tận Giê-ru-sa-lem.
5. Tiên tri Sê-ma-gia đến cùng
Rô-bô-am và các kẻ
làm đầu Giu-đa, đương nhóm tại
Giê-ru-sa-lem để trốn khỏi Si-sắc, mà
nói rằng: Ðức Giê-hô-va
phán như vầy: Các ngươi đã bỏ ta,
nên ta cũng đã bỏ các ngươi
vào tay Si-sắc.
6. Bấy giờ, các kẻ làm đầu của
Y-sơ-ra-ên và vua đều hạ mình xuống,
mà nói rằng: Ðức
Giê-hô-va là công
bình.
7. Khi Ðức Giê-hô-va thấy chúng
hạ mình xuống, thì có lời Ðức
Giê-hô-va phán cùng
Sê-ma-gia rằng: Chúng nó đã
hạ mình xuống, ta sẽ không hủy diệt
chúng nó; song sẽ giải cứu chúng một
chút, và cơn giận ta sẽ chẳng cậy tay Si-sắc
mà đổ ra trên Giê-ru-sa-lem;
8. song chúng nó sẽ bị phục dịch hắn, hầu cho
biết phục sự ta và phục dịch nước khác
là có phân biệt thể nào.
9. Si-sắc, vua Ê-díp-tô, kéo
lên hãm đánh Giê-ru-sa-lem,
đoạt lấy các bửu vật của đền Ðức
Giê-hô-va và cung vua: người đoạt lấy
hết thảy; cũng đoạt lấy những khiên bằng vàng
mà Sa-lô-môn đã
làm.
10. Vua Rô-bô-am bèn làm
những khiên bằng đồng thế cho, và giao nơi tay
các quan chánh thị vệ canh giữ cửa của cung điện
vua.
11. Hễ khi nào vua vào trong đền của Ðức
Giê-hô-va, thì các quan thị
vệ cầm khiên đến, đoạn đem nó lại vào
phòng của quan thị vệ.
12. Khi vua hạ mình xuống, cơn giận của Ðức
Giê-hô-va lánh khỏi người,
không diệt hết thảy; và lại trong Giu-đa
còn có sự lành.
13. Ấy vậy vua Rô-bô-am làm cho
mình ra bền vững trong Giê-ru-sa-lem và
trị vì. Vả khi Rô-bô-am lên
ngôi, tuổi đã bốn mươi mốt; người cai trị mười bảy
năm tại Giê-ru-sa-lem, tức là thành
mà Ðức Giê-hô-va đã
chọn trong các chi phái Y-sơ-ra-ên,
đặng đặt danh Ngài tại đó; còn mẹ
người tên là Na-a-ma, người đàn
bà Am-môn.
14. Rô-bô-am làm điều ác,
vì không rắp lòng tìm cầu
Ðức Giê-hô-va.
15. Các công việc của Rô-bô-am
từ đầu đến cuối, đều chép trong sách truyện của
Sê-ma-gia, đấng tiên tri, trong sách
Y-đô, đấng tiên kiến, luận về gia phổ.
Rô-bô-am và
Giê-rô-bô-am hằng đánh giặc
với nhau luôn luôn.
16. Rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ
mình, được chôn trong thành
Ða-vít; A-bi-gia, con trai người, cai trị thế cho
người.
2 Sử-Ký 13
Home
1. Năm thứ mười tám đời vua
Giê-rô-bô-am, A-bi-gia lên
ngôi làm vua Giu-đa.
2. Người cai trị ba năm tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ
người là Mi-ca-gia, con gái của U-ri-ên
ở Ghi-bê-a. A-bi-gia và
Giê-rô-bô-am đánh giặc với
nhau.
3. A-bi-gia ra trận với một đạo chiến sĩ, bốn mươi vạn người
kén chọn; còn
Giê-rô-bô-am dàn trận đối với
người, có tám mươi vạn người kén chọn,
là lính chiến mạnh dạn.
4. A-bi-gia đứng trên núi Xê-ma-ra-im
trong miền núi Ép-ra-im, mà
nói rằng: Hỡi Giê-rô-bô-am
và cả Y-sơ-ra-ên, khá nghe!
5. Bởi sự giao ước bằng muối, Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã ban nước
Y-sơ-ra-ên cho Ða-vít và cho
các con trai người đến đời đời, các ngươi
há chẳng biết sao?
6. Dẫu vậy, Giê-rô-bô-am, con trai
Nê-bát, tôi tớ của
Sa-lô-môn, là con trai của
Ða-vít, bèn chổi dậy phản nghịch
cùng Chúa mình;
7. những kẻ du đãng, đồ phàm hèn, đều
hiệp lại theo người chúng nó tự làm
mình ra mạnh, nghịch với Rô-bô-am, con
trai của Sa-lô-môn; còn
Rô-bô-am thì trẻ tuổi, nhát
gan, không chống cự nổi chúng nó.
8. Vậy bây giờ, các ngươi tưởng rằng
các ngươi sẽ chống cự nổi nước của Ðức
Giê-hô-va đã ban cho các con
trai của Ða-vít, các ngươi một
đoàn đông lớn, có đem theo
bò con vàng mà
Giê-rô-bô-am đã đúc
làm thần của các ngươi.
9. Các ngươi há chẳng có đuổi những
thầy tế lễ của Ðức Giê-hô-va, là
con cháu A-rôn, và người
Lê-vi sao? Các ngươi có theo phong tục
của các dân ngoại mà lập lấy những thầy
tế lễ cho mình; phàm ai đến đem một con
bò đực tơ và bảy con chiên đực đặng
dâng làm lễ, thì được làm
thầy tế lễ của những thần hư không.
10. Nhưng về phần chúng ta, Giê-hô-va
vẫn là Ðức Chúa Trời của chúng
ta, chúng ta chẳng có lìa bỏ
Ngài; những thầy tế lễ, là con cháu
của A-rôn, đều phục sự Ðức
Giê-hô-va, và các người
Lê-vi giữ phần việc của họ;
11. mỗi buổi sớm mai và buổi chiều, chúng
xông của lễ thiêu và thuốc thơm cho
Ðức Giê-hô-va; chúng cũng sắp
bánh trần thiết trên bàn sạch sẽ, thắp
các đèn của chơn đèn vàng
để nó cháy mỗi buổi chiều tối; vì
chúng ta vâng giữ làm theo mạng lịnh
của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng ta, còn các ngươi lại bỏ đi.
12. Nầy, Ðức Chúa Trời ở cùng
chúng ta, làm đầu chúng ta,
và những thầy tế lễ của Ngài cầm những
kèn tiếng vang đặng thổi lên nghịch
cùng các ngươi. Hỡi con cái
Y-sơ-ra-ên! chớ tranh chiến cùng
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ các ngươi, vì chẳng thắng được đâu!
13. Nhưng Giê-rô-bô-am truyền binh phục
đi vòng đặng đến phía sau chúng vậy
quân Y-sơ-ra-ên ở đằng trước quân Giu-đa
còn binh phục ở đằng sau.
14. Giu-đa xây ngó lại, kìa, giặc
đã có phía trước và
phía sau, bèn kêu cầu cùng
Ðức giê-hô-va, và những thầy tế
lễ thổi kèn.
15. Bấy giờ người Giu-đa kêu la, thì Ðức
Giê-hô-va đánh
Giê-rô-bô-am và cả
Y-sơ-ra-ên tại trước mặt A-bi-gia và dân
Giu-đa.
16. Dân Y-sơ-ra-ên chạy trốn trước mặt
dân Giu-đa, và Ðức Chúa Trời
phó chúng nó vào tay
dân Giu-đa.
17. A-bi-gia và quân lính người
làm cho chúng bị thua trận cả thể, có
năm mươi vạn tinh binh của Y-sơ-ra-ên bị thương
ngã chết.
18. Như vậy, trong lúc ấy, dân
Y-sơ-ra-ên bị sỉ nhục, còn dân Giu-đa
được thắng hơn, vì chúng nhờ cậy nơi
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ họ.
19. A-bi-gia đuổi theo Giê-rô-bô-am,
chiếm lấy những thành, là
Bê-tên và các hương
thôn nó; Giê-sa-na và
các hương thôn nó;
Ép-rôn và các hương
thôn nó.
20. Trong lúc A-bi-gia còn sống,
Giê-rô-bô-am chẳng được cường thạnh lại;
Ðức Giê-hô-va hành hại người,
thì người chết.
21. Còn A-bi-gia được cường thạnh, cưới mười bốn người vợ,
sanh được hai mươi hai con trai và mười sáu con
gái.
22. Các công sự khác của A-bi-gia,
những việc làm và lời nói của người,
đều chép trong sách truyện của tiên tri
Y-đô.
2 Sử-Ký 14
Home
1. A-bi-gia an giấc cùng tổ phụ mình,
và người ta chôn người trong thành
Ða-vít. A-sa, con trai người, cai trị thế cho người.
Trong đời người, xứ được hòa bình mười năm.
2. A-sa làm điều thiện và ngay thẳng trước mặt
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
người;
3. vì người cất bỏ các bàn thờ của
thần ngoại bang, và những nơi cao, đập bể các trụ
thờ, và đánh đổ những tượng A-sê-ra;
4. người khuyên Giu-đa phải tìm cầu
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ chúng, cùng làm theo luật
pháp và điều răn của Ngài.
5. Người cũng trừ bỏ những nơi cao và trụ thờ mặt trời khỏi
các thành của Giu-đa. Nước được bằng an trước mặt
người.
6. Người xây những thành bền vững trong đất
Giu-đa, vì trong mấy năm đó xứ hòa
bình, không có chiến trận, bởi
Ðức Giê-hô-va đã ban cho người
được an nghỉ.
7. Người bảo dân Giu-đa rằng: Ta hãy xây
cất các thành này, đắp vách
tường chung quanh, dựng tháp, làm cửa
và then, đương lúc xứ hãy
còn thuộc về chúng ta; vì
chúng ta có tìm kiếm
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
chúng ta; chúng ta có tìm
được Ngài, Ngài đã ban cho
chúng ta bình an bốn phía.
Chúng bèn xây cất và được
thành công. A-sa thắng quân
Ê-thi-ô-bi
8. A-sa có một đạo binh ba mươi vạn người Giu-đa, cầm
khiên và giáo, và hai mươi
tám vạn người người Bên-gia-min cầm thuẫn
và giương cung; hết thảy đều là người mạnh dạn.
9. Xê-rách, người Ê-thi-ô-bi
kéo đạo binh một trăm vạn người, và ba trăm cỗ
xe, ra hãm đánh người Giu-đa, và đi
đến Ma-rê-sa.
10. A-sa ra đón người, dàn trận tại trong trũng
Xê-pha-ta, gần Ma-rê-sa.
11. A-sa cầu khẩn Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời mình, mà rằng: Lạy
Ðức Giê-hô-va! Trừ ra Chúa chẳng
có ai giúp đỡ người yếu thắng được người mạnh;
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng tôi ôi! Xin hãy
giúp đỡ chúng tôi, vì
chúng tôi nương cậy nơi Chúa; ấy
là nhơn danh Chúa mà chúng
tôi đến đối địch cùng đoàn
quân này. Ðức
Giê-hô-va ôi! Ngài
là Ðức Chúa Trời chúng
tôi; chớ để loài người thắng hơn Chúa!
12. Ðức Giê-hô-va bèn
đánh dân Ê-thi-ô-bi tại trước
mặt dân Giu-đa và vua A-sa; quân
Ê-thi-ô-bi chạy trốn.
13. A-sa và quân lính theo người, đều
đuổi chúng cho đến Ghê-ra; quân
Ê-thi-ô-bi ngã chết nhiều, đến đỗi chẳng
còn gượng lại được, vì chúng bị thua
trước mặt Ðức Giê-hô-va và đạo
binh của Ngài. Người Giu-đa đoạt được của giặc rất nhiều;
14. cũng hãm đánh các thành
chung quanh Ghê-ra, vì sự kinh khiếp của
Ðức Giê-hô-va giáng
trên các thành đó; rồi
quân lính A-sa cướp lấy hết thảy của cải trong
các thành ấy, vì trong nó
có của cải rất nhiều.
15. Lại cũng đánh phá các chuồng
súc vật, bắt đem đi rất nhiều chiên và
lạc đà; đoạn trở về Giê-ru-sa-lem.
2 Sử-Ký 15
Home
1. Thần Ðức Chúa Trời cảm động A-xa-ria, con trai
của Ô-đết: người đi ra đón A-sa, mà
nói với người rằng:
2. Hỡi A-sa, cả Giu-đa, và Bên-gia-min,
hãy nghe lời ta: Các ngươi theo Ðức
Giê-hô-va chừng nào, thì
Ðức Giê-hô-va ở với các ngươi
chừng nấy; nếu các ngươi tìm Ngài, ắt
sẽ gặp Ngài được; nếu các ngươi lìa bỏ
Ngài, thì Ngài sẽ lìa bỏ
các ngươi.
3. Ðã lâu ngày,
Y-sơ-ra-ên không có Chúa
thật, không có thầy tế lễ dạy dỗ, cũng chẳng
có luật pháp;
4. song trong lúc khốn khó, chúng trở
lại cùng Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, mà
tìm cầu Ngài, thì lại gặp
Ngài đặng.
5. Trong khi ấy, dân của xứ phải bị sự rối loạn nhiều, kẻ ra
kẻ vào không được bằng yên.
6. Nước nầy giày đạp nước kia, thành
này giày đạo thành nọ; vì
Ðức Chúa Trời lấy đủ thứ khổ nạn làm cho
chúng rối loạn.
7. Song các ngươi hãy mạnh lòng, tay
các ngươi chớ nhát sợ, vì việc
các ngươi làm sẽ được phần thưởng.
8. Khi A-sa đã nghe các lời này
và lời tiên tri của tiên tri
Ô-đết, thì giục lòng mạnh mẽ,
bèn trừ bỏ những thần tượng gớm ghiếc khỏi cả đất Giu-đa
và Bên-gia-min, cùng khỏi
các thành người đã đoạt lấy
trên miền núi Ép-ra-im; người tu bổ lại
cái bàn thờ của Ðức
Giê-hô-va ở trước hiên cửa Ðức
Giê-hô-va.
9. Người nhóm hiệp hết thảy người Giu-đa, người
Bên-gia-min, và kẻ khách thuộc về chi
phái Ép-ra-im, Ma-na-se, và
Si-mê-ôn, vẫn kiều ngụ với chúng;
vì có nhiều người Y-sơ-ra-ên khi thấy
rằng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
A-sa ở cùng người, thì đều về đằng người.
10. Tháng ba năm mười lăm đời A-sa, chúng
nhóm hiệp tại Giê-ru-sa-lem;
11. nhằm ngày ấy họ lấy trong các súc
vật mình đã đoạt được dẫn về bảy trăm con
bò đực và bảy ngàn con chiên
mà tế lễ Ðức Giê-hô-va.
12. Chúng toan ước nhau hết lòng hết ý
tìm kiếm Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của tổ phụ mình,
13. và hễ ai không tìm kiếm
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, thì sẽ bị xử tử vô luận nhỏ
hay lớn, nam hay nữ.
14. Chúng cất tiếng lớn mà thề cùng
Ðức Giê-hô-va, reo mừng, thổi
kèn, thổi còi.
15. Cả Giu-đa đều vui mừng về lời thề ấy, vì
chúng hết lòng mà phát thề,
và hết ý tìm cầu Ðức
Giê-hô-va; rồi chúng tìm gặp
Ngài đặng. Ðức Giê-hô-va
bèn ban cho chúng được bình an bốn
phía.
16. Vả lại, vì Ma-a-ca, mẹ vua A-sa lột chức thái
hậu của bà, đánh đổ hình tượng ấy
và nghiền nát đi, rồi thiêu đốt trong
trũng Xết-rôn.
17. Song các nơi cao không phá dỡ khỏi
Y-sơ-ra-ên; dầu vậy, lòng A-sa vẫn trọn
lành cả đời người.
18. Người đem vào đền của Ðức
Giê-hô-va các vật thánh của
cha người, và những vật mà chính
mình người đã biệt riêng ra
thánh, hoặc vàng, hoặc bạc, hay là
những khí dụng.
19. Chẳng có giặc giã cho đến năm thứ ba mươi lăm
đời A-sa.
2 Sử-Ký 16
Home
1. Năm thứ ba mươi sáu đời A-sa, Ba-ê-ba, vua
Y-sơ-ra-ên, đi lên đánh Giu-đa, cất đồn
lũy Ra-ma, để làm cho dân sự của A-sa, vua Giu-đa,
không ra vào được.
2. Khi ấy A-sa lấy bạc vàng ở trong kho của đền Ðức
Giê-hô-va và trong kho của cung vua, gởi
đến Bên-Ha-đát, vua Sy-ri, ở tại
Ða-mách, mà rằng:
3. Chúng ta hãy lập giao ước với nhau, y như
thân phụ của tôi và thân phụ
của ông đã làm. Kìa,
tôi gởi dâng cho ông bạc và
vàng: hãy đi hủy ước của ông với
Ba-ê-ba, vua Y-sơ-ra-ên, để người xa khỏi
tôi.
4. Bên-Ha-đát nghe theo lời vua A-sa,
bèn sai các tướng đạo binh mình đi
hãm đánh các thành của
Y-sơ-ra-ên, chiếm lấy Y-giôn, Ðan,
A-bên-Ma-im, cùng các thành
kho tàng của đất Nép-ta-li.
5. Xảy khi Ba-ê-ba hay điều đó, liền
thôi xây đồn Ra-ma và bãi
công việc.
6. Vua A-sa bèn nhóm hết thảy người Giu-đa;
chúng lấy đem đi đá và gỗ
mà Ba-ê-ba đã dùng
xây cất Ra-ma; rồi A-sa dùng đồ ấy xây
cất Ghê-ba và Mích-ba.
7. Trong khi ấy, đấng tiên kiến Ha-na-ni đến cùng
A-sa, vua Giu-đa, mà nói rằng: Bởi vì
vua nương cậy vua Sy-ri, không nương cậy nơi
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
ông, nên đạo quân vua Sy-ri đã
thoát khỏi tay ông.
8. Dân Ê-thi-ô-bi và
dân Li-by há chẳng phải một đạo quân
đông lắm sao? Xe và lính kỵ họ
há chẳng phải nhiều lắm ư? Dẫu vậy, bởi vua nhờ cậy
Ðức Giê-hô-va, nên
Ngài phó chúng nó
vào tay vua.
9. Vì con mắt của Ðức Giê-hô-va
soi xét khắp thế gian, đặng giúp sức cho kẻ
nào có lòng trọn thành đối
với Ngài. Trong việc này vua có cư xử
cách dại dột, nên từ này về sau vua sẽ
có giặc giã.
10. A-sa nổi giận đấng tiên kiến, đem cầm tù
người; vì tại việc ấy, vua tức giận người lắm. Trong
lúc đó, A-sa cũng hà hiếp mấy người
của dân sự.
11. Nầy các công việc của A-sa, từ đầu đến cuối,
đều đã chép trong sách các
vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.
12. Năm thứ ba mươi chín đời A-sa trị vì, A-sa bị
đau chơn, đến đỗi nặng lắm; trong cơn bịnh người không
tìm kiếm Ðức Giê-hô-va, nhưng
tìm kiếm những thầy thuốc.
13. A-sa an giấc cùng tổ phụ người, băng hà năm
thứ bốn mươi mốt đời người trị vì.
14. Người ta chôn người nơi mồ mả chính người
đã đào cho mình trong thành
Ða-vít, để người nằm trên một
cái giường đầy thuốc thơm, chế theo phép
hòa hương; đoạn người ta xông hương cho người rất
nhiều.
2 Sử-Ký 17
Home
1. Giô-sa-phát, con trai A-sa, cai trị thế cho
người; người làm cho nước mình ra mạnh để nghịch
cùng Y-sơ-ra-ên,
2. đặt những cơ binh nơi các thành bền vững của
Giu-đa, lập đồn trong xứ Giu-đa và trong các
thành Ép-ra-im, mà A-sa, cha người,
đã chiếm lấy.
3. Ðức Giê-hô-va ở cùng
Giô-sa-phát, vì người đi theo đường lối
đầu tiên của Ða-vít, tổ phụ
mình, không tìm cầu thần Ba-anh,
4. nhưng tìm cầu Ðức Chúa Trời của tổ phụ
mình, giữ theo các điều răn của Ngài,
chớ chẳng làm như Y-sơ-ra-ên.
5. Vì vậy Ðức Giê-hô-va khiến
nước vững chắc trong tay người; cả Giu-đa dâng lễ vật cho
Giô-sa-phát, người được của cải nhiều
và sự vinh hiển lớn.
6. Người vững lòng theo các đường lối của
Ðức Giê-hô-va; lại phá dỡ
các nơi cao và những thần tượng A-sê-ra
khỏi Giu-đa.
7. Năm thứ ba đời Giô-sa-phát trị vì,
người sai các tôi tớ mình,
là Bên-Hai, Ô-ba-đia, Xa-cha-ri,
Na-tha-na-ên, và Mi-ca-gia đi dạy dỗ trong
các thành xứ Giu-đa;
8. có mấy người Lê-vi đi với họ, là
Sê-ma-gia, Nê-tha-nia, Xê-ba-đia,
A-sa-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giô-na-than,
A-đô-ni-gia, Tô-bi-gia, và
Tô-ba-đô-ni-gia; lại có
Ê-li-sa-ma và Giô-ram, hai thầy tế lễ
cũng đi nữa;
9. chúng có đem theo mình
sách luật pháp của Ðức
Giê-hô-va, đi vòng các
thành xứ Giu-đa mà dạy dỗ dân sự.
10. Ðức Giê-hô-va khiến các nước
ở bốn phía của Giu-đa kinh hãi, chẳng
dám chinh chiến với Giô-sa-phát.
11. Có dân Phi-li-tin đem dâng cho
Giô-sa-phát những lễ vật và bạc cống
thuế; người A rạp cũng dẫn đến cho người những bầy súc vật:
bảy ngàn bảy trăm con chiên đực, và bảy
ngàn bảy trăm con dê đực.
12. Giô-sa-phát càng ngày
càng cường đại, cho đến tột bực. Người xây cất
trong xứ Giu-đa những đền đài và thành
kho tàng.
13. Người có nhiều công việc trong các
thành Giu-đa, và tại Giê-ru-sa-lem
có những lính chiến mạnh dạn.
14. Ðây là sổ kể các người ấy
tùy theo nhà tổ phụ họ; về Giu-đa, có
những quan tướng ngàn người, là Át-na
làm đầu, người lãnh ba mươi vạn người mạnh dạn;
15. kế người có Giô-ha-nan làm đầu,
người lãnh hai mươi tám vạn người mạnh dạn;
16. sau người này có A-ma-sia, con trai của
Xiếc-ri, là người vui lòng dâng
mình cho Ðức Giê-hô-va, người
lãnh hai mươi vạn người mạnh dạn.
17. Về Bên-gia-min có Ê-li-a-đa,
là người mạnh dạn, người lãnh hai mươi vạn
quân cầm cung và khiên;
18. kế người có
Giê-hô-xa-bát, người lãnh
mười tám vạn binh đều sắm sửa ra trận.
19. Ðó là những người giúp
việc vua, trừ ra những người mà vua đặt trong các
thành bền vững khắp xứ Giu-đa.
2 Sử-Ký 18
Home
1. Giô-sa-phát đã được nhiều của cải
và sự vinh hiển, bèn kết sui gia cùng
A-háp.
2. Cách một vài năm, người đi xuống
A-háp tại Sa-ma-ri, A-háp giết nhiều
chiên bò ăn mừng Giô-sa-phát
và dân sự theo người, rồi khuyên người
đi lên hãm đánh Ra-mốt tại
Ga-la-át.
3. A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, nói với
Giô-sa-phát, vua Giu-đa, rằng: Vua muốn đến
cùng tôi hãm đánh Ra-mốt tại
Ga-la-át chăng? Người đáp: Tôi cũng như
vua; dân sự tôi cũng như dân sự vua;
tôi sẽ cùng vua đi chinh chiến.
4. Giô-sa-phát lại nói với vua
Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi xin vua hãy cần vấn
Ðức Giê-hô-va trước đã.
5. Vua Y-sơ-ra-ên nhóm các
tiên tri, số là bốn trăm người, mà hỏi
rằng: Chúng ta có nên đánh
Ra-mốt tại Ga-la-át, hay là chẳng nên?
Chúng đáp rằng: Hãy đi lên;
Ðức Chúa Trời sẽ phó nó
vào tay vua.
6. Nhưng Giô-sa-phát tiếp rằng: Ở đây,
còn có một đấng tiên tri nào
khác của Ðức Giê-hô-va, để
chúng ta hỏi người ấy chăng?
7. Vua Y-sơ-ra-ên đáp với
Giô-sa-phát rằng: Còn có một
người tên là Mi-chê con trai của
Giêm-la, nhờ người ấy ta có thể cầu vấn
Ðức Giê-hô-va; nhưng tôi
ghét người, vì người không hề
nói tiên tri lành về tôi,
bèn là dữ luôn.
Giô-sa-phát nói: Xin vua chớ
nói như vậy!
8. Vua Y-sơ-ra-ên bèn gọi một hoạn quan đến
mà bảo rằng: Hãy đòi Mi-chê,
con trai Giêm-la, đến lập tức.
9. Vả, vua Y-sơ-ra-ên và
Giô-sa-phát, vua Giu-đa, mỗi người đều mặc đồ
triều phục, đương ngồi trên ngai mình, ở nơi
sân đạp lúa tại cửa thành Sa-ma-ri;
còn hết thảy các tiên tri
nói tiên tri ở trước mặt hai vua.
10. Sê-đê-kia, con trai Kê-na-na,
làm lấy những sừng bằng sắt, và nói
rằng: Ðức Giê-hô-va phán như
vầy: Với các sừng nầy, vua sẽ báng dân
Sy-ri cho đến khi diệt hết chúng nó.
11. Các tiên tri đều nói một
cách mà rằng: Hãy đi lên
đánh Ra-mốt tại Ga-la-át; vua sẽ được thắng,
vì Ðức Giê-hô-va sẽ
phá thành ấy vào tay vua.
12. Vả, sứ giả đã đi đòi Mi-chê,
nói với người rằng: Nầy những tiên tri đều đồng
thinh báo cáo sự lành cho vua; vậy
tôi xin ông cũng hãy lấy lời như lời của
họ mà báo cáo điều lành.
13. Nhưng Mi-chê đáp rằng: Nguyện Ðức
Giê-hô-va hằng sống, hễ sự gì
Ðức Chúa Trời ta sẽ phán dặn,
thì ta sẽ nói cho.
14. Khi người đã đến cùng vua, vua bèn
hỏi rằng: Hỡi Mi-chê, chúng ta có
nên hãm đánh Ra-mốt tại
Ga-la-át, hay là chẳng nên đi? Người
đáp: Hãy đi lên, vua sẽ được thắng;
chúng nó sẽ bị phó vào tay
hai vua.
15. Vua nói với người rằng: Biết bao lần ta đã
lấy lời thề buộc ngươi nhơn danh Ðức
Giê-hô-va nói chơn thật với ta?
16. Mi-chê đáp: Tôi thấy cả
Y-sơ-ra-ên tản lạc trên các
núi như bầy chiên không có
người chăn; và Ðức Giê-hô-va
có phán rằng: Những kẻ ấy không
có chủ, ai nấy hãy trở về nhà
mình bình an.
17. Vua Y-sơ-ra-ên nói với
Giô-sa-phát rằng: Tôi há
chẳng có nói với vua rằng người không
nói tiên tri điều lành về việc
tôi, bèn là điều dữ sao?
18. Mi-chê lại tiếp: Vậy, hãy nhe lời của
Ðức Giê-hô-va. Tôi thấy
Ðức Giê-hô-va ngự trên
ngôi Ngài, còn cả đạo binh
trên trời đứng chầu bên hữu và
bên tả.
19. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Ai
sẽ đi dụ A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, để người đi
lên Ra-mốt tại Ga-la-át mà
ngã chết ở đó? Rồi người nói
cách này, kẻ nói cách
khác.
20. Bấy giờ, có một thần đi ra, đứng trước mặt Ðức
Giê-hô-va, mà thưa rằng: Tôi
sẽ đi dụ người Ðức Giê-hô-va
phán hỏi: Dụ làm sao?
21. Thần thưa lại rằng: Tôi sẽ đi ra làm một thần
nói dối trong miệng các tiên tri của
người. Ðức Giê-hô-va phán: Phải,
ngươi sẽ dụ người được: Hãy đi, làm như lời.
22. Vậy bây giờ, hãy xem Ðức
Giê-hô-va đã đặt một thần nói
dối trong miệng các tiên tri của vua,
và Ðức Giê-hô-va đã
phán sẽ giáng họa trên vua.
23. Sê-đê-kia, con trai của Kê-na-na, đi
đến gần, vả Mi-chê nơi má, mà rằng:
Thần Ðức Giê-hô-va có từ khỏi ta
mà đi ngả nào đặng mách bảo cho ngươi?
24. Mi-chê đáp: Kìa, trong
ngày ngươi chạy từ phòng này qua
phòng kia đặng ẩn lánh, thì sẽ biết
điều đó.
25. Vua Y-sơ-ra-ên truyền lịnh rằng: Hãy bắt
Mi-chê dẫn đến A-môn, là quan cai
thành, và cho Giô-ách, con
trai của vua,
26. rồi hãy nói: Vua bảo như vầy: Hãy
bỏ tù người này, lấy bánh
và nước khổ nạn mà nuôi nó
cho đến khi ta trở về bình an.
27. Mi-chê bèn nói: Nếu vua trở về
bình an, ắt Ðức Giê-hô-va
không có cậy tôi phán. Người
lại nói: Hỡi chúng dân, hết thảy
hãy nghe điều đó!
28. Vậy, vua Y-sơ-ra-ên và
Giô-sa-phát, vua Giu-đa, đồng đi lên
Ra-mốt tại ga-la-át.
29. Vua Y-sơ-ra-ên nói với
Giô-sa-phát rằng: Tôi sẽ cải dạng ăn
mặc, rồi ra trận; còn vua, hãy mặc áo
xống vua. Vua Y-sơ-ra-ên bèn ăn mặc cải dạng, rồi
hai người đi ra trận.
30. Vả, vua Sy-ri có truyền lịnh cho các quan cai
xe mình rằng: Chớ áp đánh ai hoặc nhỏ
hay lớn, nhưng chỉ một mình vua Y-sơ-ra-ên
mà thôi,
31. Xảy khi các quan cai xe thấy
Giô-sa-phát, thì nói rằng:
Ấy là vua Y-sơ-ra-ên. Chúng
bèn xây lại đặng áp đánh
người. Giô-sa-phát kêu la lớn,
Ðức Giê-hô-va tiếp cứu người, và
Ðức Chúa Trời khiến chúng dang xa khỏi
người.
32. Vậy, xảy khi các quan cai xe thấy chẳng phải vua
Y-sơ-ra-ên, thì thối lại chẳng đuổi theo nữa.
33. Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung bắn
vua Y-sơ-ra-ên trúng nhằm vua nơi mối
giáp đâu lại; A-háp nói với
người đánh xe mình rằng: Hãy quay
cương lại đem ta ra khỏi hàng quân, vì
ta bị thương nặng.
34. Trong ngày đó thế trận càng
thêm dữ dội; song vua Y-sơ-ra-ên đứng vịn
trên xe mình, đối mặt cùng
dân Sy-ri, cho đến buổi chiều; người chết vào lối
mặt trời lặn.
2 Sử-Ký 19
Home
1. Giô-sa-phát, vua Giu-đa, trở về bình
an nơi cung mình tại Giê-ru-sa-lem.
2. Giê-hu, con trai của Ha-na-ni, đấng tiên kiến,
đi ra đón vua Giô-sa-phát,
mà nói rằng: Vua há giúp đỡ
kẻ hung ác, và thương mến kẻ ghen ghét
Ðức Giê-hô-va sao? Bởi cớ đó,
có cơn giận của Ðức Giê-hô-va
đến trên vua.
3. Nhưng trong vua có điều lành, vì
vua có trừ diệt khỏi xứ những thần A-sê-ra,
và rắp lòng tìm cầu Ðức
Chúa Trời.
4. Giô-sa-phát ở tại Giê-ru-sa-lem.
Ðoạn, người lại đi ra tuần soát dân sự, từ
Bê-e-Sê-ba cho đến núi
Ép-ra-im, dẫn dắt chúng trở về cùng
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ họ.
5. Người lập quan xét trong khắp nước, tại các
thành bền vững của Giu-đa, thành nào
cũng có.
6. Rồi người bảo các quan xét rằng:
Hãy cẩn thận việc các người làm;
vì chẳng phải vì loài người
mà các ngươi xét đoán
đâu, bèn là vì Ðức
Giê-hô-va; Ngài sẽ ở cùng
các ngươi trong việc xét đoán.
7. Vậy bây giờ, phải kính sợ Ðức
Giê-hô-va, khá cẩn thận mà
làm; vì Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của chúng ta chẳng trái
phép công bình, chẳng thiên
vị người, chẳng nhận của hối lộ.
8. Lại Giô-sa-phát cũng chọn mấy người
Lê-vi, thầy tế lễ và trưởng tộc của
Y-sơ-ra-ên, đặt họ tại Giê-ru-sa-lem, đặng
vì Ðức Giê-hô-va mà
đoán xét và phân xử việc
kiện cáo. Chúng đều trở về
Giê-ru-sa-lem.
9. Người dạy biểu chúng rằng: Các ngươi phải
kính sợ Ðức Giê-hô-va, lấy
lòng trọn lành trung tín mà
làm như vậy.
10. Hễ có anh em các ngươi ở trong các
thành họ, đem đến trước mặt các ngươi việc tranh
tụng nào, hoặc vì sự đổ huyết, hoặc vì
phạm luật lệ và điều răn, giới mạng và
pháp độ, thì các ngươi phải dạy bảo họ
chớ phạm tội cùng Ðức Giê-hô-va,
e có cơn giận nghịch cùng các ngươi
và anh em các ngươi: các ngươi
làm như vậy, ắt không gây cho
mình mắc tội.
11. Nầy thầy tế lễ cả A-ma-ria, sẽ quản lý những việc thuộc
về Ðức Giê-hô-va, và
Xê-ba-đia, con trai Ích-ma-ên, trưởng
tộc chi phái Giu-đa, sẽ quản lý những việc thuộc
về vua; trước mặt các ngươi cũng có những người
Lê-vi làm quan cai. Các ngươi
khác làm việc cách can đởm,
và Ðức Giê-hô-va sẽ ở
cùng người thiện.
2 Sử-Ký 20
Home
1. Sau các việc này, xảy có
dân Mô-áp, dân
Am-môn, và những người Mao-nít ở
cùng họ, kéo đến đặng đánh giặc với
Giô-sa-phát
2. Bấy giờ, có người đến thuật cho
Giô-sa-phát, mà rằng: Có một
đám quân rất đông từ bên bờ
kia của biển, từ nước Sy-ri, mà đến hạm đánh vua;
kìa chúng đương ở tại
Hát-sát-son-Tha-ma, cũng gọi là
Ên-ghê-đi.
3. Giô-sa-phát sợ hãi, và
rao khắp xứ Giu-đa phải kiêng ăn một ngày.
4. Giu-đa nhóm lại đặng cầu Ðức
Giê-hô-va cứu giúp; người ta ở
các thành Giu-đa đều đến đặng tìm cầu
Ðức Giê-hô-va.
5. Giô-sa-phát đứng trong hội chúng
Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, tại trong đền của
Ðức Giê-hô-va, trước hành lang
mới,
6. mà cầu nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của tổ phụ chúng
tôi! Ngài há chẳng phải là
Chúa ở trên các từng trời sao?
Há chẳng phải Ðấng quản trị muôn
dân muôn nước sao? Ở nơi tay Chúa
có quyền thế năng lực, chẳng ai chống trả Chúa
cho nổi.
7. Hỡi Ðức Chúa Trời chúng tôi!
Ngài há chẳng phải đã đuổi
dân ở xứ này khỏi trước mặt dân
Y-sơ-ra-ên của Ngài, mà ban xứ ấy cho
dòng dõi Áp-ra-ham, là bạn
hữu Chúa, làm sản nghiệp đời đời sao?
8. Chúng đã ở đó, và
đã cất cho danh Chúa một đền thánh
mà rằng:
9. Nếu tai họa giáng trên chúng
tôi, hoặc gươm giáo, hoặc sự đoán phạt,
hoặc dịch hạch, hay là cơn đói kém,
thì chúng tôi sẽ đứng trước đền
này và trước mặt Chúa (vì
danh Chúa ở trong đền này), mà
kêu cầu Chúa trong sự gian nan chúng
tôi, thì Chúa sẽ dủ nghe và
giải cứu cho.
10. Trong lúc dân Y-sơ-ra-ên từ xứ
Ê-díp-tô lên, Chúa
có cấm họ loán đến xứ dân
Am-môn, dân Mô-áp,
và người ở núi Sê-i-rơ; dân
Y-sơ-ra-ên xây khỏi chúng nó,
không diệt chúng nó đi;
11. kìa, chúng nó báo lại
chúng tôi dường nào, đến toan đuổi
chúng tôi khỏi sản nghiệp Chúa
đã ban cho chúng tôi nhận lấy.
12. Hỡi Ðức Chúa Trời chúng tôi
ôi, chớ thì Ngài sẽ không
xét đoán chúng nó sao?
Vì nơi chúng tôi chẳng còn
sức lực gì đối địch cùng đám
quân đông đảo này đương đến
hãm đánh chúng tôi,
và chúng tôi cũng không biết
điều gì mình phải làm; nhưng con mắt
chúng tôi ngửa trông Chúa!
13. Cả Giu-đa đều đứng tại trước mặt Ðức
Giê-hô-va với các đứa nhỏ, vợ,
và con cái mình.
14. Bấy giờ, tại giữa hội chúng, Thần Ðức
Giê-hô-va cảm động Gia-ha-xi-ên, con trai
Xa-cha-ri, cháu Bê-na-gia, chắt
Giê-hi-ên, chít Ma-tha-nia,
là người Lê-vi thuộc về dòng
A-sáp,
15. mà phán rằng: Hỡi các người Giu-đa
và dân cư thành
Giê-ru-sa-lem, cùng vua
Giô-sa-phát, hãy nghe! Ðức
Giê-hô-va phán cho các ngươi
như vầy: Chớ sợ, chớ kinh hãi bởi cớ đám
quân đông đảo này: vì trận
giặc này chẳng phải của các ngươi đâu,
bèn là của Ðức Chúa Trời.
16. Ngày mai, hãy đi xuống đón
chúng nó: kìa, chúng
nó đi lên dốc Xít, các ngươi
sẽ gặp chúng nó nơi đầu trũng, trước mặt đồng
vắng Giê-ru-ên.
17. Trong trận này các ngươi sẽ chẳng cần
gì tranh chiến; hãy dàn ra, đứng
yên lặng mà xem thấy sự giải cứu của Ðức
Giê-hô-va ở cùng các ngươi.
Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! chớ sợ, chớ kinh
hãi; ngày mai, hãy đi ra
đón chúng nó, vì
Ðức Giê-hô-va ở cùng
các ngươi.
18. Giô-sa-phát bèn cúi sấp
mặt xuống đất; và cả Giu-đa và dân cư
thành Giê-ru-sa-lem đều sấp mặt xuống trước mặt
Ðức Giê-hô-va, mà thờ lạy
Ngài.
19. Người Lê-vi về dòng
Kê-hát và về dòng
Cô-rê đều đứng dậy cất tiếng lớn mà khen
ngợi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên.
20. Buổi sớm mai, chúng đều chổi dậy thật sớm,
kéo ra đồng vắng Thê-cô-a; đương
lúc chúng đi, Giô-sa-phát
đứng tại đó, mà nói rằng: Hỡi người
Giu-đa và dân cư thành
Giê-ru-sa-lem! hãy nghe ta: Khá tin cậy
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
các ngươi, thì các ngươi sẽ vững chắc;
hãy tin các đấng tiên tri
Ngài, thì các ngươi sẽ được may mắn.
21. Khi người đã bàn nghị với dân sự,
bèn lập những người ca xướng cho Ðức
Giê-hô-va mặc áo lễ thánh
mà đi ra trước cơ binh ngợi khen Chúa rằng:
Hãy ngợi khen Ðức Giê-hô-va,
vì sự thương xót Ngài hằng
có đời đời.
22. Ðương lúc chúng khởi ca
hát và ngợi khen thì Ðức
Giê-hô-va đặt phục binh xông
vào dân Am-môn, dân
Mô-áp và những kẻ ở núi
Sê-i-rơ đã đến hãm đánh
Giu-đa; và các dân ấy đều bị bại.
23. Dân Am-môn và dân
Mô-áp dấy lên đánh
dân ở núi Sê-i-rơ, đặng diệt
chúng nó đi; khi đã diệt dân
ở Sê-i-rơ rồi, thì chúng lại trở giết
lẫn nhau.
24. Khi dân Giu-đa đến tháp canh nơi đồng vắng,
nhìn đến đám quân đông đảo,
thì thấy những thây nằm sãi
trên đất, chẳng có một ai thoát khỏi
được.
25. Giô-sa-phát và dân sự
người đến cướp lấy tài vật của chúng, thấy
có nhiều của cải, xác chết, và đồ
quí báu, bèn cướp lấy cho đến chừng
đem đi không đặng; họ cướp lấy tài vật trong ba
ngày, vì là rất nhiều.
26. Qua ngày thứ tư, họ nhóm hiệp tại trũng
Bê-ra-ca đặt tên chỗ đó là
trũng Bê-ra-ca cho đến, ngày nay.
27. Hết thảy người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem
cùng Giô-sa-phát đi đầu trước, trở về
Giê-ru-sa-lem cách vui vẻ; vì
Ðức Giê-hô-va đã làm
cho chúng vui mừng, vì cớ quân
thù nghịch mình bị đánh bại.
28. Chúng gảy đờn cầm, đờn sắt, và thổi
sáo mà trở về Giê-ru-sa-lem, đến đền
của Ðức Giê-hô-va.
29. Khi các nước thiên hạ nghe Ðức
Giê-hô-va đã đánh bại
quân thù nghịch của Y-sơ-ra-ên,
thì lấy làm kinh hãi Ðức
Chúa Trời.
30. Vậy, nước của Giô-sa-phát được hòa
bình, vì Ðức Chúa Trời người
ban cho người sự an nghỉ bốn bên.
31. Vậy, Giô-sa-phát làm vua nước
Giu-đa; khi lên ngôi thì tuổi được ba
mươi lăm, và người cai trị hai mươi lăm năm tại
Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là A-xu-ba,
con gái của Si-li.
32. Người đi theo con đường của A-sa, cha người, không
lìa bỏ, làm điều ngay thẳng trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
33. Song người không trừ bỏ các nơi cao,
và dân sự chưa dốc lòng tìm
cầu Ðức Chúa Trời của tổ phụ mình.
34. Các công việc khác của
Giô-sa-phát từ đầu đến cuối, đều chép
tong truyện Giê-hu, con trai Ha-na-ni, và truyện
ấy đã đem vào sách các vua
Y-sơ-ra-ên.
35. Sau việc đó, Giô-sa-phát, vua
Giu-đa, kết giao với A-cha-xia, vua Y-sơ-ra-ên; người
này ăn ở rất gian ác.
36. Hai vua hội hiệp nhau đặng đóng tàu vượt đi
Ta-rê-si; họ đóng tàu tại
Ê-xi-ôn-Ghê-be.
37. Khi ấy, Ê-li-ê-xe, con trai
Ðô-đa-va ở Ma-rê-sa, nói
tiên tri về vua Giô-sa-phát,
mà rằng: Bởi vì vua kết giao với A-cha-xia,
nên Ðức Giê-hô-va đã
hủy phá công việc vua; những tàu
bèn bị bể nát, không vượt đi
Ta-rê-si được.
2 Sử-Ký 21
Home
1. Giô-sa-phát an giấc cùng tổ phụ
mình, được chôn trong thành
Ða-vít với tổ phụ người; Giô-ram con trai
người, cai trị thế cho người.
2. Người có các em ruột, tức là những
con trai Giô-sa-phát: A-xa-ria,
Giê-hi-ên, Xa-cha-ri, A-xa-ria-u,
Mi-ca-ên, và Sê-pha-ti-a; các
người này đều là con trai của
Giô-sa-phát, vua Y-sơ-ra-ên.
3. Vua cha có ban cho chúng nhiều của cải bằng
bạc và vàng, những bửu vật với các
thành vững bền trong xứ Giu-đa; nhưng người ban
ngôi nước cho Giô-ram, bởi vì người
là con trưởng.
4. Khi Giô-ram lên ngôi nước cha
mình, làm cho mình mạnh mẽ,
bèn lấy gươm giết các em mình
và mấy người quan trưởng của Y-sơ-ra-ên.
5. Giô-ram được ba mươi hai tuổi, khi lên
ngôi làm vua, và người cai trị
tám năm tại Giê-ru-sa-lem.
6. Người đi trong con đường của các vua
Y-sơ-ra-ên, theo điều nhà A-háp
đã làm; vì người có cưới
con gái A-háp làm vợ; người
làm điều ác trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
7. Nhưng, vì Ðức Giê-hô-va
đã lập giao ước với Ða-vít, bởi
Ngài đã hứa rằng sẽ ban một ngọn đèn
cho người và cho con cháu người đến đời đời,
nên Ngài không muốn diệt nhà
Ða-vít.
8. Trong đời Giô-ram, Ê-đôm phản nghịch
cùng Giu-đa, và lập một vua cho mình.
9. Giô-ram với các quan tướng và
các xe của mình, ban đêm chổi dậy,
kéo ra đánh Ê-đôm
đã vây phủ mình và
các quan cai xe.
10. Song Ê-đôm dấy nghịch, không phục
dưới tay Giu-đa cho đến ngày nay. Cũng trong một
lúc ấy, Líp-na phản nghịch, không phục
dưới tay Giô-ram nữa, bởi vì người đã
lìa bỏ Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của tổ phụ người.
11. Người cũng lập những nơi cao trong các núi
Giu-đa, xui cho dân cư thành
Giê-ru-sa-lem thông dâm, và
khiến cho dân Giu-đa lầm lạc.
12. Ðấng tiên tri Ê-li gởi thơ cho
Giô-ram, mà nói rằng:
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Ða-vít, tổ phụ ông, đã
phán như vầy: bởi ngươi không đi theo đường lối
của Giô-sa-phát, cha ngươi, lại cũng chẳng đi theo
con đường của A-sa, vua Giu-đa,
13. nhưng đã đi theo đường lối của các vua
Y-sơ-ra-ên, xui cho người Giu-đa và dân
cư thành Giê-ru-sa-lem thông
dâm y như nhà A-háp đã
làm vậy, và cũng đã giết
các em ngươi về nhà cha của ngươi, là
những người tốt hơn ngươi,
14. này Ðức Giê-hô-va sẽ
giáng họa lớn trên dân sự ngươi,
trên con cái ngươi, trên các
vợ ngươi, cùng trên các tài
vật của ngươi;
15. còn chính mình ngươi sẽ bị bịnh
trong gan ruột càng ngày càng nặng cho
đến đỗi gan ruột tan rớt ra.
16. Vả lại, Ðức Giê-hô-va khêu
lòng dân Phi-li-tin và dân A
rạp ở gần bên dân Ê-thi-ô-bi,
nghịch với Giô-ram;
17. chúng kéo lên hãm
đánh Giu-đa, lấn vào trong cả xứ, đoạt lấy
các tài vật thấy trong cung điện vua,
và bắt các vương tử cùng hậu phi của
người đi làm phu tù, đến nỗi trừ ra
Giô-a-cha con trai út người, thì chẳng
còn sót lại cho người một con trai nào
hết.
18. Sau các việc ấy, Ðức
Giê-hô-va hành hại người, khiến cho bị
bịnh bất trị trong ruột.
19. Ngày qua tháng lụn, xảy cuối năm thứ
nhì, thì ruột gan Giô-ram vì
bịnh tan rớt ra, và người chết cách đau đớn dữ
tợn; dân sự không xông thuốc thơm cho
người như đã xông cho tổ phụ người.
20. Khi người lên ngôi, thì tuổi được ba
mươi hai, và người cai trị tám năm tại
Giê-ru-sa-lem; người qua đời chẳng ai tiếc người; người ta
chôn người trong thành Ða-vít,
song chẳng phải tại mồ các vua.
2 Sử-Ký 22
Home
1. Dân cư thành Giê-ru-sa-lem lập
A-cha-xia, con trai út của Giô-ram, làm
vua thay vì người; vì đạo quân đến với
dân A rạp xông vào trại quân,
đã giết các con trai lớn hơn người. Ấy vậy,
A-cha-xia, con trai Giô-ram, vua Giu-đa, lên
ngôi làm vua.
2. A-cha-xia được hai mươi hai tuổi khi người tức vị; người cai trị một
năm tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là
A-tha-li, con gái của Ôm-ri.
3. Người cũng đi theo các đường lối của nhà
A-háp vì mẹ người là kẻ bày
mưu giục người làm điều ác.
4. Người làm những điều ác trước mặt Ðức
Giê-hô-va như nhà A-háp
đã làm; vì sau khi vua cha qua đời,
nhà A-háp làm kẻ bày mưu
cho người, gây cho người bị bại hoại.
5. Người cũng theo mưu chước của chúng mà đi với
Giô-ram, con trai A-háp, vua Y-sơ-ra-ên,
đến Ra-mốt tại Ga-la-át, đặng tranh chiến cùng
Ha-xa-ên, vua Sy-ri. Dân Sy-ri làm cho
Giô-ram bị thương.
6. Người bèn trở về
Gít-rê-ên, đặng chữa lành
các dấu thương người đã bị tại Ra-ma, khi
đánh giặc với Ha-xa-ên, vua Sy-ri, A-cha-xia, con
trai Giô-ram, vua Giu-đa đi xuống
Gít-rê-ên đặng thăm bịnh
Giô-ram, con trai A-háp.
7. Việc A-cha-xia đi đến cùng Giô-ram bởi
ý Ðức Chúa Trời, và
gây cho người bị bại hoại; vì khi người đến tận
nơi, bèn cùng Giô-ram kéo ra
đánh Giê-hu, con trai Nim-si, là người
Ðức Giê-hô-va đã xức dầu cho,
đặng trừ diệt nhà A-háp.
8. Xảy đương khi Giê-hu trừ diệt nhà
A-háp, lại gặp được các quan trưởng Giu-đa
và các con trai của anh em A-cha-xia vẫn phục sự
người, thì liền giết chúng nó đi.
9. Người cũng tìm A-cha-xia đương ẩn tại Sa-ma-ri, người ta
bắt người, dẫn đến cùng Giê-hu, rồi giết người đi,
đoạn họ chôn người, vì nói rằng: Hắn
là con trai của Giô-sa-phát, tức người
hết lòng tìm cầu Ðức
Giê-hô-va. Trong nhà A-cha-xia chẳng
còn ai có thể giữ quyền cai trị nước được.
10. Vả, khi A-tha-li, mẹ của A-cha-xia, thấy con trai mình
đã chết, bèn chổi dậy diệt cả dòng
giống vua Giu-đa.
11. Nhưng Giô-sa-bát, con gái của vua,
bồng trộm Giô-ách, con trai của A-cha-xia, đem
khỏi vòng các con trai cua mà người ta
toan giết, rồi để nó và kẻ vú
nó trong phòng ngủ. Như vậy,
Giô-sa-bát, con gái của vua
Giô-ram, vợ thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa,
giấu Giô-ách khỏi trước mắt A-tha-li,
và A-tha-li không giết nó được;
Giô-sa-bát là em gái của
A-cha-xia.
12. Giô-ách bị ẩn giấu với họ trong sáu
năm tại đền thờ của Ðức Chúa Trời; còn
A-tha-li cai trị trên xứ.
2 Sử-Ký 23
Home
1. Năm thứ bảy, Giê-hô-gia-đa làm cho
mình nên mạnh, vời các quan tướng cai
trăm người, là A-cha-xia, con trai của
Giê-rô-ham, Ích-ma-ên, con
trai của Giô-ha-nan, A-xa-ria, con trai của Ô-bết,
Ma-a-xê-gia, con trai của A-đa-gia, và
Ê-li-sa-phát, con trai của Xiếc-ri, và
lập giao ước với các người ấy.
2. Những người ấy đi khắp xứ Giu-đa, và từ các
thành Giu-đa nhóm người Lê-vi
và các trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên; rồi
họ đều đến Giê-ru-sa-lem.
3. Cả hội chúng đều lập giao ước với vua tại trong đền thờ
của Ðức Chúa Trời. Giê-hô-gia-đa
nói với chúng rằng: Nầy con trai của vua sẽ cai
trị theo lời Ðức Giê-hô-va đã
phán về con cháu Ða-vít.
4. Nầy điều các ngươi sẽ làm: Một phần ba trong
các ngươi, tức những thầy tế lễ và người
Lê-vi, đến phiên trong ngày
sa-bát, sẽ giữ cửa;
5. một phần ba sẽ vào trong cung vua, và một phần
ba ở nơi cửa Giê-sốt; còn cả dân sự sẽ ở
nơi hành lang của đền Ðức
Giê-hô-va.
6. Chớ để ai vào trong đền của Ðức
Giê-hô-va ngoại trừ những thầy tế lễ và
các người Lê-vi phục sự: họ sẽ vào, bởi
vì họ thánh sạch, cả dân sự sẽ giữ mạng
lịnh của Ðức Giê-hô-va.
7. Người Lê-vi sẽ vây chung quanh vua, hễ ai
vào đền thờ thì sẽ bị giết; các ngươi
khá theo hầu vua khi người đi ra đi vào.
8. Người Lê-vi và cả Giu-đa đều làm
theo lời thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đã dặn
bảo; mỗi người đều lãnh kẻ thủ hạ mình, hoặc
những kẻ vào phiên ngày
sa-bát hay là kẻ mãn phiên
ngày sa-bát; vì thầy tế lễ
Giê-hô-gia-đa không cho các
phiên đổi về.
9. Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa phát cho
các quan tướng cai trăm người, những giáo,
khiên nhỏ và lớn của vua
Ða-vít, để trong đền Ðức Chúa
Trời.
10. Người khiến dân chúng, ai nấy cầm binh
khí mình, sắp hàng đứng chung quanh
vua dài theo bàn thờ và đền, từ
bên hữu đền cho đến bên tả đền.
11. Ðoạn chúng đem vương tử ra, đội mão
triều thiên trên đầu người, và trao luật
pháp cho người, rồi tôn người làm vua;
Giê-hô-gia-đa và các con trai
người xức dầu cho người mà rằng: Vua vạn tuế!
12. Khi A-tha-li nghe tiếng dân sự chạy và
chúc tụng vua, thì đi đến cùng
dân sự tại trong đền Ðức
Giê-hô-va.
13. Bà xem thấy vua đứng trên cái sạp
tại cửa vào; các quan tướng và kẻ thổi
kèn đứng gần bên vua; còn cả
dân sự của xứ đều vui mừng và thổi kèn,
lại có những kẻ ca xướng gảy nhạc khí,
mà ngợi khen Ðức Chúa Trời. A-tha-li
bèn xé áo mình
mà la lên rằng: Phản ngụy! phản ngụy!
14. Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đòi ra
các quan tướng cai trăm người được đặt thống quản đạo
quân, mà biểu rằng: Hãy dẫn
bà ra ngoài khỏi hàng quân,
hễ ai theo bà, khá giết nó bằng gươm,
vì thầy tế lễ đã dạy rằng: Chớ giết bà
tại trong đền thờ của Ðức Giê-hô-va.
15. Chúng bèn vẹt đường cho bà;
bà trở vào cung vua bởi nơi cửa ngựa
vào; rồi chúng giết bà tại
đó.
16. Giê-hô-gia-đa bèn lập giao ước với
cả dân sự và với vua, để chúng
làm dân sự của Ðức
Giê-hô-va.
17. Cả dân sự đều đi đến miễu Ba-anh, phá dỡ
nó, đập bể bàn thờ và hình
tượng nó, rồi giết Ma-than, thầy tế lễ của Ba-anh, tại trước
bàn thờ.
18. Chiếu theo ban thứ Ða-vít đã định
trong đền của Ðức Giê-hô-va,
Giê-hô-gia-đa giao các chức sự về đền
Ðức Giê-hô-va vào tay những thầy
tế lễ và người Lê-vi, đặng dân những của
lễ thiêu cho Giê-hô-va cách ca
hát vui mừng, y theo đều đã chép trong
luật pháp của Môi-se, và theo lệ
Ða-vít đã định.
19. Người cũng đặt những kẻ canh cửa ở nơi các cửa đền
Ðức Giê-hô-va, hầu cho ai bị ô uế
về vô luận sự gì, đều chẳng được vào
đó.
20. Người lãnh lấy những quan tướng cai trăm người, kẻ tước
vị và những người quan trưởng của dân,
cùng cả dân sự của xứ, mà rước vua từ
đền Ðức Giê-hô-va xuống, đi vào
cung vua bởi cửa trên, rồi đặt vua ngồi trên
ngôi nước.
21. Hết thảy dân sự của xứ đều vui mừng, và
thành được bình tịnh. Vả, chúng
đã giết A-tha-li bằng gươm.
2 Sử-Ký 24
Home
1. Giô-ách được bảy tuổi khi người lên
làm vua; người cai trị bốn mươi năm tại
Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên là Xi-bia,
quê ở Bê-e-Sê-ba.
2. Giô-ách làm điều thiện trước mặt
Ðức Giê-hô-va trọn đời thầy tế lễ
Giê-hô-gia-đa.
3. Giê-hô-gia-đa cưới hai vợ cho
Giô-ách; người sanh được những con trai
và con gái.
4. Sau việc này, Giô-ách có
ý tu bổ đền của Ðức Giê-hô-va,
5. bèn nhóm những thầy tế lễ và người
Lê-vi, mà bảo rằng: Hãy đi khắp
các thành Giu-đa, thâu lấy tiền bạc của
cả Y-sơ-ra-ên, để hằng năm tu bổ lại cái đền của
Ðức Chúa Trời các ngươi; khá
làm việc này cho mau. Song người Lê-vi
trì hưỡn.
6. Vua vời thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-gia-đa,
mà bảo rằng: Cớ sao người Lê-vi từ Giu-đa
và Giê-ru-sa-lem đem nộp thuế, mà
Môi-se, tôi tớ của Ðức
Giê-hô-va, đã định cho hội
chúng Y-sơ-ra-ên phải dâng cho trại
chứng cớ?
7. Vì A-tha-li, người nữ độc ác kia,
và các con trai nàng đã
phá hủy đền của Ðức Chúa Trời;
và chúng nó đã
dâng các vật thánh của đền Ðức
Giê-hô-va cho thần Ba-anh.
8. Vua bèn truyền dạy người ta đóng một
cái hòm, để phía ngoài cửa
đền Ðức Giê-hô-va.
9. Rồi người ta rao cho khắp xứ Giu-đa và thành
Giê-ru-sa-lem ai nấy phải đem dâng cho Ðức
Giê-hô-va tiền thuế mà Môi-se,
tôi tớ của Ðức Chúa Trời, đã
định về Y-sơ-ra-ên tại trong đồng vắng.
10. Hết thảy các quan trưởng và cả dân
sự đều vui mừng, đem bạc đến bỏ vào trong hòm cho
đến đầy.
11. Khi người Lê-vi thấy trong hòm đựng nhiều bạc,
bèn đem nó lên giao cho vua kiểm
soát; thơ ký vua và người của thầy tế
lễ thượng phẩm đều đến trút hòm ra, rồi đem để
lại chỗ cũ. Mỗi ngày họ làm như vậy,
và thâu được rất hiều bạc.
12. Vua và Giê-hô-gia-đa giao bạc ấy cho
những kẻ coi sóc công việc trong đền Ðức
Giê-hô-va; họ mướn thợ đẽo đá,
và thợ mộc, đặng tu bổ đền Ðức
Giê-hô-va; cũng mướn những thợ sắt và
thợ đồng đặng sửa lại đền Ðức Giê-hô-va.
13. Vậy, các thợ làm công việc,
và nhờ tay họ việc tu bổ được thành;
chúng làm lại đền của Ðức Chúa
Trời như cũ, và làm cho vững chắc.
14. Khi đã làm xong, chúng
bèn đem bạc còn dư lại đến trước mặt vua
và Giê-hô-gia-đa; người ta
dùng bạc ấy làm những đồ lễ về đền Ðức
Giê-hô-va, tức những đồ dùng về việc
phụng sự, và về cuộc tế lễ, những chén,
và những khí dụng bằng vàng bằng bạc.
Trọn đời Giê-hô-gia-đa, người ta hằng
dâng của lễ thiêu tại đền của Ðức
Giê-hô-va luôn luôn.
15. Vả, Giê-hô-gia-đa đã trở về
già tuổi rất cao, rồi qua đời; lúc người
thác, được một trăm ba mươi tuổi.
16. Người ta chôn người tại trong thành
Ða-vít chung với các vua, vì
người có công lao trong Y-sơ-ra-ên,
có hầu việc Ðức Chúa Trời, và
tu bổ đền của Ngài.
17. Sau khi Giê-hô-gia-đa đã qua đời,
các quan trưởng Giu-đa đến chầu lạy vua. Vua bèn
nghe theo lời của chúng,
18. lìa bỏ đền Ðức Giê-hô-va
là Ðức Chúa Trời của tổ phụ
mình, mà phục sự những thần A-sê-ra
và các hình tượng; tại cớ tội lỗi ấy,
bèn có cơn giận của Chúa nghịch
cùng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
19. Ðức Giê-hô-va sai các đấng
tiên tri đến cùng chúng, để dắt
chúng trở lại cùng Ðức
Giê-hô-va; nhưng chúng không
chịu nghe.
20. Thần của Ðức Chúa Trời cảm động Xa-cha-ri, con
trai của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa; người đứng dậy
trước mặt dân sự, mà nói rằng:
Ðức Chúa Trời phán như vầy: Cớ sao
các ngươi phạm các điều răn của Ðức
Giê-hô-va? Các ngươi sẽ chẳng may mắn
được, vì đã lìa bỏ Ðức
Giê-hô-va, và Ðức
Giê-hô-va cũng đã lìa bỏ
các ngươi.
21. Chúng bèn phản nghịch với người,
và theo lịnh vua ném đá người tại
trong hành lang của đền Ðức
Giê-hô-va.
22. Ấy vậy, vua Giô-ách không nhớ đến sự
nhân từ của Giê-hô-gia-đa, cha của
A-cha-xia, đã làm cho mình, nhưng giết
con trai người đi; khi người chết thì có
nói rằng: Nguyện Ðức Giê-hô-va
xem xét và báo lại cho!
23. Xảy khi đến cuối năm, thì đạo binh Sy-ri kéo
lên hãm đánh
Giô-ách; chúng nó
loán đến Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, giết
các quan trưởng của dân, rồi gởi hết những của
cướp về cho vua tại Ða-mách.
24. Ðạo binh Sy-ri kéo đến có
ít người, Ðức Giê-hô-va lại
phó một đạo binh rất đông vào tay
chúng nó, bởi vì họ đã
lìa bỏ Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của tổ phụ mình. Như vậy, dân
Sy-ri xử hình phạt cho Giô-ách.
25. Khi chúng đã bỏ đi rồi (vả chúng
để người ở lại bị đau nặng), các đầy tớ người bèn
phản nghịch cùng người, vì cớ huyết của con trai
thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, giết người tại
trên giường, và người chết; người ta
chôn người tại trong thành
Ða-vít, song không phải trong mồ
các vua.
26. Nầy là những kẻ dấy nghịch cùng người:
Xa-bát, con trai của Si-mê-át,
là đờn bà Am-môn, và
Giô-xa-bát, con trai Sim-rít,
là đờn bà Mô-áp.
27. Còn về việc các con trai người, số cống thuế
người phải nộp, và cuộc tu bổ đền của Ðức
Giê-hô-va, thảy đều chép trong
sách truyện các vua. A-ma-xia, con trai người,
cai trị thế cho người.
2 Sử-Ký 25
Home
1. A-ma-xia được hai mươi lăm tuổi khi người lên
ngôi làm vua; người cai trị hai mươi
chín năm tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên
là Giô-a-đan, quê ở
Giê-ru-sa-lem.
2. Người làm điều thiện tại trước mặt Ðức
Giê-hô-va, song lòng không
được trọn lành.
3. Xảy khi nước người được vững chắc, thì người xử tử những
đầy tớ đã giết cha mình.
4. Nhưng người không xử tử các con trai
chúng, theo điều đã chép trong
sách luật pháp của Môi-se, như
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn rằng: Cha sẽ chẳng phải chết vì con, con cũng sẽ chẳng
phải chết vì cha; song mỗi người sẽ chết vì tội
mình.
5. A-ma-xia nhóm những người Giu-đa, cứ theo họ
hàng của tổ phụ Giu-đa và Bên-gia-min,
mà lập những quan tướng cai ngàn người
và cai trăm người; lại tu bộ những người từ hai mươi tuổi
sấp lên, số cọng được ba mươi vạn người kén chọn
ra trận được cùng có tài cầm
giáo và khiên.
6. Người cũng mộ mười vạn người mạnh dạn trong Y-sơ-ra-ên,
giá một trăm ta lâng bạc.
7. Nhưng có người của Ðức Chúa Trời đến
nói với người rằng: Hỡi vua! đạo binh Y-sơ-ra-ên
chớ kéo đi với vua; vì Ðức
Giê-hô-va chẳng ở cùng
Y-sơ-ra-ên, chẳng ở cùng các con
cháu Ép-ra-im.
8. Còn nếu vua muốn đi, thì hãy đi đi
khá làm cho mình mạnh mẽ mà
chinh chiến đi; Ðức Chúa Trời sẽ khiến vua
ngã trước mặt quân thù; vì
Ðức Chúa Trời có quyền giúp
cho thắng và cũng có quyền làm cho sa
bại.
9. A-ma-xia nói với người Ðức Chúa Trời
rằng: Còn về một trăm ta lâng bạc kia,
mà ta đã phát cho đạo binh
Y-sơ-ra-ên, thì phải làm sao? Người của
Ðức Chúa Trời đáp: Ðức
Giê-hô-va có thể ban cho vua nhiều hơn
số ấy.
10. Vậy, A-ma-xia phân rẽ đạo binh đã từ
Ép-ra-im đến cùng người, cho chúng trở
về nhà; tại cớ ấy, chúng giận Giu-đa lắm,
và trở về nhà lấy làm nóng
giận phừng.
11. A-ma-xia làm dạn dĩ, kéo dân sự
mình đến trũng Muối, đánh một vạn người của
dân Sê-i-rơ.
12. Dân Giu-đa bắt sống một vạn người đem chúng
nó lên trên chót
hòn đá, rồi từ trên chót
hòn đá xô chúng
nó xuống, thảy đều bị giập chết hết.
13. Còn đạo binh mà A-ma-xia khiến trở về,
không cho đi ra trận với mình, thì
xông vào các thành Giu-đa,
từ Sa-ma-ri cho đến Bết-Hô-rôn, đánh
giết ba ngàn người tại đó, và cướp lấy
nhiều của cải.
14. Khi đánh được dân Ê-đôm
trở về, thì đem các thần của dân
Sê-i-rơ về, lập lên làm thần của
mình, quì lạy trước mặt chúng
nó, và đốt hương cho.
15. Vì vậy, cơn thạnh nộ của Ðức
Giê-hô-va nổi lên cùng
A-ma-xia, Ngài sai một đấng tiên tri đến
nói với người rằng: Cớ sao ngươi đi cầu các thần
không giải cứu được dân tộc thờ lạy
chúng nó khỏi tay ngươi?
16. Xảy khi đấng tiên tri tâu với vua,
thì vua bảo người rằng: Ta há lập ngươi
làm mưu sĩ cho vua sao? Hãy thôi đi,
kẻo ta đánh ngươi chăng Ðấng tiên tri
bèn thôi, và nói rằng:
Tôi biết rằng Ðức Giê-hô-va
đã quyết định hủy diệt vua, bởi vì vua
đã làm điều ấy, và không
nghe lời tôi.
17. A-ma-xia, vua Giu-đa, mưu nghị rồi, thì sai đến
Giô-ách, con trai Giô-a-cha,
cháu Giê-hu, vua Y-sơ-ra-ên,
mà nói rằng: Hãy đến, để
chúng ta thấy nhau.
18. Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, sai sứ đến
A-ma-xia, vua Giu-đa, mà nói rằng: Cây
gai ở Li-ban có sai đến nói với cây
bá hương ở Li-ban rằng: Hãy gả con gái
ngươi cho con trai ta làm vợ. Song có một con
thú đồng ở Li-ban đi ngang qua, giày đạp
cây gai đi.
19. Ngươi nói: Nầy ta đã đánh
Ê-đôm! Lòng ngươi lại tự cao tự khoe.
Bây giờ, khá ở trong nhà ngươi, cớ sao
làm cho mình mắc họa, và khiến cho
ngươi và Giu-đa phải sa ngã?
20. A-ma-xia không nghe lời, vì điều đó
do ý Ðức Chúa Trời, để phó
chúng vào tay kẻ thù nghịch, bởi
vì chúng có tìm kiếm
các thần của Ê-đôm.
21. Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên,
kéo lên; người và A-ma-xia, vua Giu-đa,
bèn thấy nhau tại Bết-sê-mết trong xứ Giu-đa.
22. Quân Giu-đa bị quân Y-sơ-ra-ên
đánh đuổi, bèn chạy trốn, ai về trại nấy.
23. Tại Bết-sê-mết, Giô-ách vua
Y-sơ-ra-ên, bắt A-ma-xia, vua Giu-đa, con trai
Giô-ách, cháu Giô-a-cha, điệu
người về Giê-ru-sa-lem đoạn người phá cửa
Góc, một khúc dài bốn trăm thước.
24. Người lấy hết vàng, bạc, và những
khí dụng ở trong đền của Ðức Chúa Trời,
có Ô-bết-Ê-đôm coi giữ,
cùng các bửu vật của cung vua; người cũng bắt kẻ
cầm làm tin, rồi trở về Sa-ma-ri.
25. A-ma-xia, con trai Giô-ách, vua Giu-đam
còn sống mười lăm năm nữa, sau khi Giô-a-cha, vua
Y-sơ-ra-ên, đã băng hà.
26. Các công việc khác của A-ma-xia từ
đầu đến cuối, đều đã chép trong sách
các vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.
27. Vả từ khi A-ma-xia xây bỏ Ðức
Giê-hô-va về sau, thì có
người phản nghịch cùng người tại Giê-ru-sa-lem,
người bèn chạy trốn đến La-ki; song người ta sai đuổi theo
người đến La-ki, và giết người tại đó.
28. Ðoạn người ta có chở thây người về
trên ngựa, chôn người tại trong thành
Giu-đa chung cùng các tổ phụ người.
2 Sử-Ký 26
Home
1. Cả dân Giu-đa đều lập Ô-xia làm vua
thế cho A-ma-xia, cha người; tuổi người được mười sáu.
2. Sau khi vua cha đã an giấc với các tổ phụ,
người xây cất Ê-lốt, và khôi
phục nó cho Giu-đa.
3. Ô-xia được mười sáu tuổi, khi người
lên làm vua; người cai trị năm mươi hai năm tại
Giê-ru-sa-lam; mẹ người tên là
Giê-cô-lia, quê ở Giê-ru-sa-lem.
4. Người làm điều thiện trước mặt Ðức
Giê-hô-va, y theo mọi điều A-ma-xia, cha người
đã làm.
5. Trong đời Xa-cha-ri, là người thông hiểu
các dị tượng của Ðức Chúa Trời,
thì Ô-xia rắp lòng tìm kiếm
Ðức Chúa Trời; và người tìm
kiếm bao lâu; thì Ðức Chúa Trời
khiến cho người đặng may mắn bấy lâu.
6. Người kéo ra chiến tranh với dân Phi-li-tin
đánh đổ tường thành Gát, tường
thành Giáp-nê, và tường
thành Ách-đốt; người xây cất những
thành trong địa hạt Ách-đốt và tại đất
người Phi-li-tin.
7. Ðức Chúa Trời giúp đỡ người được thắng
dân Phi-li-tin, dân A rạp ở tại Gu-rơ-Ba-anh,
và dân Ma-ôn.
8. Dân Am-môn cũng tiến cống cho Ô-xia;
danh tiếng người đồn đến cõi
Ê-díp-tô, vì người
đã trở nên rất cường thạnh.
9. Ô-xia cũng xây những tháp tại
Giê-ru-sa-lem, trên cửa Góc,
trên cửa Trũng, và trên Góc
tường, làm cho nó vững chắc.
10. Người cũng cất những tháo trong đồng vắng,
đào nhiều giếng, vì có nhiều
súc vật trong đồng bằng và trên đồng
cao; cũng có những người làm ruộng, kẻ trồng nho
trên núi và tại Cạt-mên,
vì người thích việc canh nông.
11. Ô-xia có một đạo binh đặn đi chinh chiến,
kéo ra trận từ tốp, tùy số tu bộ mà
thơ ký Giê-hi-ên, và quan
giám thị Ma-a-xê-gia đã làm,
có Ha-na-nia, đại thần của vua, cai quản.
12. Trọn số các trưởng tộc, tức là những người
mạnh dạn, là hai ngàn sáu trăm người.
13. Chúng quản lãnh một đạo binh ba mươi vạn bảy
ngàn sáu trăm người, đều hay đánh giặc
cách mạnh dạn, hầu giúp vua đối địch với cừu địch.
14. Ô-xia sắm sửa cho cả đạo binh những khiên,
giáo, mũ, giáp, cung, và những
đá trành.
15. Ở Giê-ru-sa-lem, người khiến tay kỹ sư chế tạo những
máy dùng đặt trên các
tháp, và trên chót đồn lũy,
đặng bắn tên và đá lớn. Danh tiếng
người đồn ra phương xa; bởi vì người được Chúa
giúp đỡ cách lạ thường, cho đến trở nên
cường thạnh.
16. Song khi người được trở nên cường thạnh, lòng
bèn kiêu ngạo, đến đỗi làm
ác, phạm tội cùng Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của người; vì người
vào trong đền thờ Ðức Giê-hô-va,
xông hương trên bàn thờ xông
hương.
17. Thầy tế lễ A-xa-ria vào sau người, có
tám mươi thầy tế lễ, đều là người mạnh dạn, đồng
đi theo.
18. Chúng cản cự vua Ô-xia mà rằng: Hỡi
vua, chẳng phải phần vua xông hương cho Ðức
Giê-hô-va đâu, bèn
là phần của những thầy tế lễ, con cháu
A-rôn, đã được biệt riêng ra
thánh đặng xông hương vậy. Hãy đi ra
khỏi đền thánh, vì vua đã phạm tội;
lại vì việc này Ðức
Giê-hô-va sẽ chẳng làm cho vua được vinh
hiển đâu
19. Ô-xia bèn nổi giận; người cầm nơi tay một
cái bình hương toan xông hương;
và đang khi người nổi giận cùng những thầy tế lễ,
phung bèn nổi lên nơi trán người trước
mặt những thầy tế lễ, tại trong đền của Ðức
Giê-hô-va ở gần bên bàn thờ
xông hương.
20. A-xa-ria, thầy tế lễ thượng phẩm, và hết thảy thầy tế lễ
khác ngó xem người, thấy người bị bịnh phung ở
nơi trán, bèn đuổi người ra khỏi đó;
và chính người cũng lật đật ra, vì
Ðức Giê-hô-va hành hại người.
21. Ô-xia bị bịnh phung cho đến ngày băng
hà; và vì bị phung phải ở
riêng ra trong một nhà khác, chẳng
còn được vào đền của Ðức
Giê-hô-va nữa; Giô-tham, con trai người,
quản lý cung vua, và xét
đoán dân sự của nước.
22. Ðấng tiên tri Ê-sai, con trai của
A-mốt, đã biên chép các
công sự khác của Ô-xia từ đầu đến cuối.
23. Ô-xia an giấc cùng tổ phụ người, và
người ta chôn người chung với tổ phụ người tại ruộng lăng tẩm
của các vua; vì người ta nói rằng:
Người bị phung. Giô-tham, con trai người, cai trị thế cho
người.
2 Sử-Ký 27
Home
1. Giô-tham được hai mươi lăm tuổi khi người lên
ngôi làm vua, và người cai trị mười
sáu năm tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên
là Giê-ru-sa, con gái của Xa-đốc.
2. Người làm điều thiện trước mặt Ðức
Giê-hô-va, y theo mọi điều Ô-xia, cha
người, đã làm; song người không
vào đền thờ của Ðức Giê-hô-va;
còn dân sự lại càng làm
luông tuồng nữa.
3. Người xây cửa trên của đền Ðức
Giê-hô-va, và xây nhiều
trên tường thành Ô-phên.
4. Người cũng xây những thành trong miền
núi Giu-đa, và đền đài cùng
những tháp ở trên rừng.
5. Người đánh giặc với vua dân Am-môn,
và thắng được chúng. Trong năm đó,
dân Am-môn nộp cho người một trăm ta lâng
bạc một vạn cô-rơ lúa miến, và một vạn
cô-rơ lúc mạch. Trong năm thứ nhì
và thứ ba, dân Am-môn cũng tiến cống
người số ấy.
6. Vậy, Giô-tham trở nên cường thạnh, bởi
vì người đi đường chánh đáng trước mặt
Ðức Giê-hô-va, là Ðức
Chúa Trời mình.
7. Các công việc khác của
Giô-tham, hết thảy những chiến trận và đường lối
của người, đều chép trong sách các vua
Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
8. Người được hai mươi lăm tuổi khi lên làm vua,
và người cai trị mười sáu năm tại
Giê-ru-sa-lem.
9. Người an giấc cùng tổ tiên mình,
người ta chôn người tại trong thành
Ða-vít; đoạn A-cha, con trai người, cai trị thế cho
người.
2 Sử-Ký 28
Home
1. A-cha được hai mươi tuổi khi người lên ngôi
làm vua; người cai trị mười sáu năm tại
Giê-ru-sa-lem, chẳng làm điều thiện trước mặt
Ðức Giê-hô-va y như
Ða-vít, tổ phụ người, đã làm;
2. nhưng người đi theo đường lối của các vua
Y-sơ-ra-ên, lại cũng làm những hình
tượng đúc cho thần Ba-anh,
3. đốt hương trong trũng con Hi-nôm, và
thiêu con cái mình nơi lửa, theo sự gớm
ghiếc của các dân tộc mà Ðức
Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt
dân Y-đơ-ra-ên.
4. Người dâng của lễ và xông hương
trên các nơi cao, trên các
gò nổng và dưới các cây rậm.
5. Vì vậy, Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời người phó người vào tay vua
Sy-ri; quân Sy-ri đánh được người, bắt trong
dân người rất nhiều phu tù, và dẫn về
Ða-mách, Người cũng bị phó vào
tay của Y-sơ-ra-ên, làm cho người phải thất trận
cả thể.
6. Vả, Phê-ca, con trai của Rê-ma-lia, giết trong
một ngày mười hai vạn người Giu-đa, thảy đều là
người mạnh dạn; bởi vì chúng đã
lìa bỏ Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của tổ phụ mình.
7. Xiếc-ri, một người mạnh dạn ở đất Ép-ra-im, giết
Ma-a-xê-gia, con trai vua, A-ri-kham, quan cai cung vua,
và Ên-ca-na, quan tể tướng.
8. Người Y-sơ-ra-ên bắt trong anh em mình hai mươi
vạn phu tù, cả đờn bà, con trai, con
gái; cũng cướp lấy nhiều của cải mà đem về
Sa-ma-ri.
9. Ở tại đó, có một đấng tiên tri của
Ðức Giê-hô-va, tên là
Ô-đết, đi ra đón đạo binh đang trở về Sa-ma-ri,
mà nói rằng: Nầy bởi vì
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ các ngươi nổi giận cùng Giu-đa, nên
Ngài đã phó chúng
vào tay các ngươi, các ngươi
có giết chúng trong cơn căm giận dữ
quá đến đỗi thấu đến trời.
10. Bây giờ, các ngươi lại toan bắt phục
các người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem
làm tôi trai tớ gái cho các
ngưi sao! Còn về các ngươi, các ngươi
há chẳng có phạm tội cùng
Giê-hô-va Ðức Chúa trời của
các ngươi sao?
11. Vậy bây giờ, khá nghe ta, cho về những phu
tù mà các ngươi đã bắt
trong anh em các ngươi vì cơn giận của
Ðức Giê-hô-va nổi phừng cùng
các ngươi.
12. Khi ấy, có mấy người trong các quan trưởng
của dân Ép-ra-im, là A-xa-ria, con trai
của Giô-ha-nan, Bê-rê-kia, con trai của
mê-si-lê-mốt, Ê-xê-chia, con
trai của Sa-lum, và A-ma-sa con trai của Hát-lai,
đều đứng dậy nghịch cùng những kẻ đi đánh giặc
trở về, mà rằng:
13. Các ngươi chớ đem những phu tù vào
đây; vì các ngươi toan làm
điều gây cho chúng ta mắc tội cùng
Ðức Giê-hô-va, đặng gia thêm
vào tội và ác của chúng ta;
vì tội lỗi chúng ta thật lớn và
Chúa nổi giận phừng phừng cùng
Y-sơ-ra-ên
14. Quân lính bèn thả các
phu tù và bỏ của cải tại trước mặt các
quan trưởng và cả hội chúng.
15. Những người đã kể tên trước đây,
bèn chổi dậy, dẫn các phu tù ra, lấy
của cướp mặc cho các người trong họ bị trần truồng;
chúng mặc quần áo và mang
giày cho họ, cho ăn, uống, và xức dầu cho,
cùng để những người yếu đuối cỡi lừa, rồi đưa họ về
cùng anh em mình, đến
Giê-ri-cô, thành cây
chà là; đoạn chúng trở về Sa-ma-ri.
16. Trong lúc đó, vua A-cha sai sứ đi cầu vua
A-si-ri tiếp cứu mình
17. Vì dân Ê-đôm đã
trở lại đánh Giu-đa và bắt dẫn những phu
tù về.
18. Dân Phi-li-tin cũng xông vào
các thành tại xứ đồng bằng và tại miền
nam xứ Giu-đa, chiếm lấy Bết-sê-mết, A-gia-lôn,
Ghê-đê-rốt, Sô-cô,
và các làng địa hạt nó,
Thim-na và các làng địa hạt
nó, Ghim-xô và các
làng địa hạt nó, rồi chúng
nó ở tại các nơi ấy.
19. Bởi cớ A-cha, vua Giu-đa, Ðức Giê-hô-va
có hạ Giu-đa xuống, vì A-cha đã xui
cho dân Giu-đa buông tuồng, và phạm tội
nặng cùng Ðức Giê-hô-va.
20. Tiếc-lát Phim-nê-se, vua A-si-ri, đến
cùng người, và hà hiếp người, song
chẳng tiếp cứu chút nào.
21. A-cha thâu lấy những đồ nơi đền của Ðức
Giê-hô-va, trong cung vua, và trong
nhà các quan trưởng, rồi giao vật ấy cho vua
A-si-ri; song người cũng không tiếp cứu.
22. Trong cơn hoạn nạn, vua A-cha lại càng phạm tội
cùng Ðức Giê-hô-va;
23. người cúng tế các thần của dân
Ða-mách, là dân đã
đánh mình; người nói rằng: Bởi
vì các thần của vua Sy-ri đã
phù trợ họ, nên ta sẽ cúng tế
các thần ấy, hầu cho các thần ấy cũng
phù trợ ta nữa. Song le chúng nó
gây cho vua và cả Y-sơ-ra-ên phải sa
ngã.
24. A-cha góp lấy các khí dụng của đền
Ðức Chúa Trời, đập bể nó ra,
và đóng các cửa đền của Ðức
Giê-hô-va; đoạn lập lấy cho mình những
bàn thờ trong mỗi nơi xó góc của
thành Giê-ru-sa-lem.
25. Trong các thành xứ Giu-đa, người dựng
lên những nơi cao đặng xông hương cho
các thần khác mà chọc giận
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ người.
26. Vả, các chuyện khác của người,
thói ăn cách ở người từ đầu đến cuối, đều
chép trong sách các vua Giu-đa
và Y-sơ-ra-ên.
27. A-cha an giấc cùng tổ phụ mình, và
người ta chôn người trong thành
Giê-ru-sa-lem; song không để người nơi lăng tẩm
các vua Y-sơ-ra-ên. Ê-xê-chia
con trai người, cai trị thế cho người.
2 Sử-Ký 29
Home
1. Ê-xê-chia được hai lăm tuổi khi người
lên ngôi làm vua; người cai trị hai mươi
chín năm tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên
là A-bi-gia, con gái của Xa-cha-ri.
2. Người làm điều thiện trước mặt Ðức
Giê-hô-va, y theo mọi điều
Ða-vít, tổ phụ người, đã làm.
3. Tháng giêng năm đầu người trị vì,
người mở các cửa đền của Ðức
Giê-hô-va, và sửa sang lại.
4. Người đòi những thầy tế lễ và người
Lê-vi đến, hiệp chúng lại tại nơi phố
phía đông,
5. mà bảo rằng: Hỡi người Lê-vi, hãy
nghe ta! Bây giờ khá dọn mình ra
thánh, và dọn đền của
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
các ngươi cho thánh sạch, cùng cất
những điều dơ dáy khỏi nơi đền thánh đi.
6. Vì các tổ phụ chúng ta
đã phạm tội, làm điều ác trước mặt
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng ta, lìa bỏ Ngài, ngảnh mặt khỏi
nơi ngự của Ðức Giê-hô-va, và
xây lưng lại Ngài.
7. Chúng lại đóng các hiên
cửa, tắt các đèn, không xông
hương và không dâng của lễ
thiêu tại nơi thánh cho Ðức
Giê-hô-va của Y-sơ-ra-ên.
8. Vì vậy cơn thạnh nộ của Ðức
Giê-hô-va giáng trên Giu-đa
và Giê-ru-sa-lem, và Ngài
phó chúng vào sự khổ sở, sự bại hoại,
và sự chê bai, y như các ngươi
đã thấy tận mắt mình.
9. Nầy, vì cớ ấy mà các tổ phụ ta bị
gươm ngã chết, các con trai, con gái,
và vợ ta, phải bị bắt dẫn đi làm phu
tù.
10. Bây giờ, ta có ý lập giao ước
cùng Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, để cơn thạnh nộ
Ngài lìa khỏi chúng ta.
11. Hỡi các con, chớ trì hưỡn nữa, vì
Ðức Giê-hô-va có chọn
các ngươi làm đầy tớ Ngài, để đứng
trước mặt Ngài, hầu việc và xông hương
cho Ngài.
12. Những người Lê-vi bèn chổi dậy; về
dòng Kê-át có
Ma-hát, con của A-ma-sai, và
Giô-ên, con trai của A-sa-ria; về dòng
Mê-ra-ri có Kích, con trai
Áp-đi, và A-xa-ria, con trai
Giê-ha-lê-le; về dòng Ghẹt-sôn
có Giô-a, con trai của Xim-ma, Ê-đen,
con trai của Giô-a;
13. về dòng Ê-lít-sa-phan có
Sim-ri và Giê-i-ên; về dòng
A-sáp có Xa-cha-ri và Ma-tha-nia;
14. về dòng Hê-man có
Giê-hi-ên và Si-mê-i; về
dòng Giê-đu-thun có Sê-ma-gia
và U-xi-ên.
15. Chúng hiệp anh em mình lại, dọn
mình cho sạch, rồi cứ theo lịnh vua truyền dạy,
và lời phán của Ðức
Giê-hô-va, họ đi vào làm sạch
đền của Ðức Giê-hô-va.
16. Những thầy tế lễ đi vào trong đền của Ðức
Giê-hô-va, đặng dọn nó cho sạch;
phàm điều gì dơ dáy thấy ở trong đền
của Ðức Giê-hô-va, họ lấy liệng ra
ngoài ở nơi hành lang của đền; rồi người
Lê-vi lấy nó đem quăng ở ngoài tại
trong khe Xết-rôn.
17. Ngày mồng một tháng giêng,
chúng khởi việc dọn đền cho sạch; qua ngày mồng
tám tháng ấy, chúng đến nơi
hiên cửa của Ðức Giê-hô-va; trong
tám ngày họ dọn đền của Ðức
Giê-hô-va cho sạch; và qua
ngày mười sáu tháng giêng
công việc làm xong.
18. Chúng vào cung vua
Ê-xê-chia, mà nói rằng:
Chúng tôi đã dọn sạch cả đền
Ðức Giê-hô-va, bàn thờ của lễ
thiêu và các đồ dùng
nó, cái bàn sắp bánh trần
thiết và các đồ dùng nó;
19. Lại những khí dụng mà vua A-cha quăng bỏ,
trong đời người trị vì, lúc người phạm tội,
thì chúng tôi đã sắp sửa lại
và dọn ra sạch; kìa, nó ở trước mặt
bàn thờ của Ðức Giê-hô-va.
20. Vua Ê-xê-chia dậy sớm, nhóm hiệp
các quan trưởng trong thành, và
lên đền của Ðức Giê-hô-va;
21. đem theo bảy con bò đực, bảy con chiên đực,
bảy con chiên con, và bảy con dê đực
đặng làm của lễ chuộc tội cho nước, cho đền
thánh, và cho Giu-đa. Vua biểu những thầy tế lễ,
con cháu của A-rôn, dâng các
con sinh ấy trên bàn thờ của Ðức
Giê-hô-va.
22. Chúng bèn giết các con
bò đực, thầy tế lễ hứng lấy huyết mà rảy
trên bàn thờ; rồi giết các con
chiên đực và rảy huyết trên
bàn thờ; chúng cũng giết các con
chiên con, và rảy huyết trên
bàn thờ.
23. Ðoạn, chúng đem các con dê
đực dùng về của lễ chuộc tội lại gần tại trước mặt vua
và hội chúng, đặt tay mình
trên chúng nó,
24. rồi, thầy tế lễ giết chúng nó, hứng lấy huyết
rảy trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội
cho cả Y-sơ-ra-ên; vì vua có dạy rằng
của lễ thiêu và của lễ chuộc tội phải
dâng lên vì cả Y-sơ-ra-ên.
25. Vua đặt người Lê-vi ở trong đền Ðức
Giê-hô-va cầm chập chỏa, đờn cầm, đờn sắt,
tùy theo lệ định của Ða-vít, của
Gát, là đấng tiên kiến của vua,
và của tiên tri Na-than; vì lệ định ấy
do nơi Ðức Giê-hô-va cậy các
tiên tri Ngài mà dạy biểu.
26. Các người Lê-vi đứng cầm nhạc khí
của Ða-vít, còn những thầy tế lễ cầm
còi.
27. Ê-xê-chia truyền dâng của lễ
thiêu, và đương lúc khởi dâng
của lễ thiêu, thì khởi hát
bài ca khen ngợi Ðức Giê-hô-va,
có còi thổi và nhạc khí của
Ða-vít, vua Y-sơ-ra-ên, họa thêm.
28. Cả hội chúng thờ lạy, người ca hát đều
hát, và kẻ thổi kèn đều thổi
kèn, cho đến đã xông của lễ
thiêu đoạn.
29. Khi dâng của lễ thiêu xong, vua và
các người ở với vua bèn cúi xuống thờ
lạy.
30. Vả lại, vua Ê-xê-chia và
các quan trưởng biểu người Lê-vi hát
ngợi khen Ðức Giê-hô-va bằng lời của
Ða-vít và của A-sáp,
là đấng tiên kiến; chúng bèn
hát ngợi khen cách vui mừng, rồi cúi
đầu xuống mà thờ lạy.
31. Ê-xê-chia cất tiếng nói rằng:
Bây giờ các ngươi đã biệt
mình riêng ra thánh cho Ðức
Giê-hô-va; vậy hãy đến gần, đem những hi
sinh và của lễ cảm tạ vào trong đền của
Ðức Giê-hô-va. Hội chúng
bèn dẫn đến những hi sinh và của lễ cảm tạ;
còn kẻ nào vui lòng thì đem
dâng những của lễ thiêu.
32. Số con sinh dùng về của lễ thiêu mà
hội chúng đem đến là bảy mươi con bò
đực, một trăm con chiên đực, và hai trăm con
chiên con; họ dùng các thú
đó làm của lễ thiêu cho Ðức
Giê-hô-va.
33. Cũng biệt riêng ra thánh sáu trăm
con bò đực và ba ngàn con trừu.
34. Song thầy tế lễ chỉ có ít quá,
không đủ lột da các con sinh dùng về
của lễ thiêu vì vậy anh em họ, là người
Lê-vi, bèn giúp đỡ họ cho đến khi xong
công việc, và những thầy tế lễ đã dọn
mình thánh sạch; vì người
Lê-vi có lòng thành dọn
mình thánh sạch hơn những thầy tế lễ.
35. Lại cũng có nhiều của lễ thiêu, mỡ của lễ
thù ân, và lễ quán cặp theo
mỗi của lễ thiêu. Vậy, cuộc tế lễ trong đền Ðức
Giê-hô-va đã lập lại rồi.
36. Ê-xê-chia và cả dân sự đều
vui mừng về điều Ðức Chúa Trời đã sắm sửa
cho dân sự; bởi công việc ấy thình
lình mà làm thành.
2 Sử-Ký 30
Home
1. Ê-xê-chia sai sứ đến cả Y-sơ-ra-ên
và Giu-đa, cũng viết thơ cho người Ép-ra-im
và người Ma-na-se, đòi chúng tới đền
Ðức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem,
đặng giữ lễ Vượt qua cho Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
2. Vua và các quan trưởng cùng cả hội
chúng ở Giê-ru-sa-lem hội nghị nhau, định dự lễ
Vượt qua trong tháng hai;
3. vì chúng không thể dự lễ trong
lúc ấy, bởi số thầy tế lễ dọn mình
thánh sạch không đủ, và dân
sự chưa nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem.
4. Vua và cả hội chúng đều lấy việc ấy
làm phải;
5. bèn nhất định rao truyền khắp xứ Y-sơ-ra-ên, từ
Bê-e-Sê-ba cho đến Ðan, khiến người ta đến
dự lễ Vượt qua của Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, tại
Giê-ru-sa-lem; vì từ lâu nay
chúng không có dự lễ ấy như
đã chép trong luật lệ.
6. Vậy, các trạm vâng mạng đem thơ của vua
và của các quan trưởng đi khắp xứ
Y-sơ-ra-ên và xứ Giu-đa, thơ rằng: Hỡi con
cháu Y-sơ-ra-ên, hãy trở lại
cùng Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác
và của Y-sơ-ra-ên, hầu cho Ngài trở lại
cùng những kẻ còn sót lại trong
các ngươi mà được thoát khỏi tay
các vua A-si-ri.
7. Chớ nên giống như tổ phụ và anh em
các ngươi đã phạm tội cùng
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ họ, đến đỗi Ngài phó chúng
vào sự hư bại, như các ngươi đã thấy.
8. Bây giờ, chớ cứng cổ như tổ phụ các ngươi
hãy giơ tay mình ra cho Ðức
Giê-hô-va, vào trong nơi
thánh mà Ngài đã biệt
riêng ra thánh đời đời, và hầu việc
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
các ngươi, để cơn giận phừng của Ngài
xây khỏi các ngươi.
9. Vì nếu các ngươi trở lại cùng
Ðức Giê-hô-va, thì anh em
và con cái của các ngươi sẽ được ơn
trước mặt những kẻ bắt họ làm phu tù,
và họ sẽ được trở về trong xứ này; bởi
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
các ngươi có lòng nhân từ
và hay thương xót, sẽ không
xây mặt khỏi các ngươi, nếu các ngươi
trở lại cùng Ngài.
10. Các trạm thành này qua
thành kia, trong khắp xứ Ép-ra-im, Ma-na-xe,
và cho đến đất Sa-nu-lôn; song người ta
chê cười nhạo báng chúng
11. Dầu vậy, cũng có mấy người trong A-se, Ma-na-se,
và Sa-bu-lôn chịu hạ mình xuống
và đến Giê-ru-sa-lem.
12. Ðức Chúa Trời cũng cảm động người Giu-đa, đồng
lòng vâng mạng lịnh của vua và
các quan trưởng đã truyền ra, theo lời của
Ðức Giê-hô-va.
13. Tháng hai, có nhiều người nhóm lại
tại Giê-ru-sa-lem, một hội rất đông đảo, đặng giữ
lễ bánh không men.
14. Chúng chổi dậy, cất hết các bàn
thờ ở trong Giê-ru-sa-lem, và những
bình đốt hương, rồi đem liệng nó trong khe
Xết-rôn.
15. Ngày mười bốn tháng hai, người ta giết con
sinh về lễ Vượt qua; còn những thầy tế lễ và
người Lê-vi, thì lấy làm hổ thẹn,
bèn dọn mình thanh sạch, và đem những
của lễ thiêu vào trong đền Ðức
Giê-hô-va.
16. Chúng đều đứng trong chỗ mình, theo thường lệ
đã định trong luật pháp của Môi-se,
người của Ðức Chúa Trời; và những thầy tế
lễ nhận lấy huyết nơi tay người Lê-vi mà rảy ra.
17. Trong hội chúng còn nhiều người chưa dọn
mình thanh sạch; vì vậy người Lê-vi
phải giết dâng con sinh về lễ Vượt qua thế cho mỗi người
không thanh sạch, để làm họ nên thanh
sạch cho Ðức Giê-hô-va.
18. Vì trong dân sự, nhất là trong
dân Ép-ra-im, Ma-na-se, Y-sa-ca, và
Sa-bu-lôn có nhiều người không dọn
mình thanh sạch, lại ăn lễ Vượt qua, chẳng theo lệ
đã chép; vì
Ê-xê-chia có cầu nguyện cho
chúng, mà rằng:
19. Nguyện Ðức Giê-hô-va là
Ðấng nhân từ, tha tội cho những người đã
hết lòng tìm kiếm Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của tổ phụ họ, mặc dầu không
theo lệ tẩy uế của đền thánh mà dọn
mình cho thanh sạch.
20. Ðức Giê-hô-va dủ nghe lời cầu nguyện
của Ê-xê-chia và chữa lành
cho dân sự.
21. Những người Y-sơ-ra-ên ở tại Giê-ru-sa-lem giữ
lễ bánh không men trong bảy ngày
cách vui vẻ; người Lê-vi và những thầy
tế lễ ngày này sang ngày kia,
dùng nhạc khí hát mừng ngợi khen
Ðức Giê-hô-va.
22. Ê-xê-chia nói an ủi lòng
những người Lê-vi thông sáng hiểu biết
cuộc thờ phượng Ðức Giê-hô-va.
Chúng ăn lễ trong bảy ngày, dâng những
của lễ thù ân, và cảm tạ
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ mình.
23. Cả hội chúng bèn quyết định giữ lễ
thêm bảy ngày; rồi chúng vui vẻ giữ
thêm bảy ngày nữa.
24. Vì Ê-xê-chia, vua Giu-đa,
đã ban cho hội chúng một ngàn con
bò đực và bảy ngàn con
chiên; các quan trưởng cũng ban cho hội
chúng một ngàn con bò đực
và mười ngàn con chiên lại
có nhiều thầy tế lễ dọn mình ra thanh sạch.
25. Cả hội chúng Giu-đa với những thầy tế lễ, người
Lê-vi, và hội chúng đến từ
Y-sơ-ra-ên, cùng những người ngoại bang, kẻ
thì kiều ngụ trong xứ Y-sơ-ra-ên, người
thì kiều ngụ trong xứ Giu-đa, thảy đều vui mừng.
26. Ấy vậy, ở Giê-ru-sa-lem có sự vui mừng cả thể;
vì từ đời Sa-lô-môn, con trai
Ða-vít, vua Y-sơ-ra-ên, tại
thành Giê-ru-sa-lem chẳng có sự
gì như vậy.
27. Ðoạn, những thầy tế lễ và người Lê-vi
đứng dậy chúc phước cho dân sự; tiếng của
chúng được nhậm, lời cầu nguyện chúng thấu đến
nơi ngự thánh của Ðức Giê-hô-va
trên các từng trời.
2 Sử-Ký 31
Home
1. Khi các việc ấy đã xong, những người
Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó đi ra
các thành Giu-đa, đập bể những trụ thờ,
đánh đổ các thần A-sê-ra,
phá dỡ những nơi cao, và các
bàn thờ trong khắp đất Giu-đa, Bên-gia-min,
Ép-ra-im, và Ma-na-se, cho đến khi đã
phá hủy hết thảy. Ðoạn, hết thảy dân
Y-sơ-ra-ên ai nấy đều trở về thành
mình, về nơi sản nghiệp mình.
2. Ê-xê-chia lập lại các ban thứ của
những thầy tế lễ và của người Lê-vi,
tùy theo phần việc của mỗi người đặng dâng của lễ
thiêu và của lễ thù ân, đặng
phụng sự, cảm tạ, và hát ngợi khen
Chúa tại nơi các cửa trại của Ðức
Giê-hô-va.
3. Người cũng định phần vua phải lấy trong tài sản
mình đặng dùng làm của lễ
thiêu về buổi sớm mai và buổi chiều,
cùng dùng về những của lễ thiêu trong
ngày sa-bát, ngày mồng một,
và trong các này lễ trọng thể, y như
đã chép trong luật pháp của
Ðức Giê-hô-va.
4. Người cũng truyền cho dân sự ở tại
Giê-ru-sa-lem, phải cung cấp phần của những thầy tế lễ
và người Lê-vi, hầu cho chúng chuyện lo
gìn giữ luật pháp của Ðức
Giê-hô-va.
5. Khi chỉ dụ của vua mới truyền ra, thì dân
Y-sơ-ra-ên đem đến rất nhiều sản vật đầu mùa về
ngũ cốc, rượu, dầu, mật, và những thổ sản khác;
chúng đem đến một phần mười của mọi vật thật rất nhiều.
6. Người Y-sơ-ra-ên và người Giu-đa ở trong
các thành xứ Giu-đa, cũng đều đem đến nộp một
phần mười về bò và chiên,
cùng một phần mười về các vật đã biệt
riêng ra thánh cho Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của chúng, rồi để ra từng
đống.
7. Tháng thứ ba, chúng khởi gom lại từng đống,
và qua đến tháng bảy mới xong.
8. Khi Ê-xê-chia và các quan
trưởng đến, thấy các đống ấy, thì ngợi khen
Ðức Giê-hô-va, và
chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên của
Ngài.
9. Ê-xê-chia hỏi thăm những thầy tế lễ
và người Lê-vi về tích những đống ấy.
10. A-xa-ria, thầy tế lễ cả về dòng Xa-đốc, thưa lại
cùng người mà rằng: Từ khi dân sự khởi
đem lễ vật vào trong đền Ðức
Giê-hô-va, thì chúng
tôi có ăn được đầy đủ, và
còn dư lại nhiều; vì Ðức
Giê-hô-va đã ban phước cho dân
sự Ngài; còn số nhiều này, ấy
là phần dư lại.
11. Ê-xê-chia truyền dọn dẹp các
phòng trong đền Ðức Giê-hô-va;
người ta bèn dọn dẹp,
12. rồi đem vào cách ngay thẳng các lễ
vật, thuế một phần mười, và các vật
thánh. Cô-na-nia, người Lê-vi, cai quản
những vật ấy, và Si-mê-i, em người, làm
phó;
13. còn Giê-hi-ên, A-xa-xia,
Na-hát, A-sa-ên, Giê-ri-mốt,
Giô-sa-bát, Ê-li-ên,
Gít-ma-kia, Ma-hát, và
Bê-na-gia, đều làm kẻ coi sóc dưới
quyền Cô-na-nia và Si-mê-i, em người, cứ
theo lịnh của vua Ê-xê-chia và A-xa-ria,
là người cai trị đền Ðức Chúa Trời.
14. Cô-rê, con trai của Dim-na, người
Lê-vi, là kẻ giữ cửa phía
đông, được đặt cai quản các lễ vật lạc
ý dâng cho Ðức Chúa Trời, đặng
phân phát các lễ vật dâng cho
Ðức Giê-hô-va và những vật rất
thánh.
15. Dưới tay người có Ê-đen, Min-gia-min,
Giê-sua, Sê-ma-gia, A-ma-ria, và
Sê-ca-nia, ở trong các thành thầy tế
lễ, đặng phân phát lễ vật ấy cách
công bình cho anh em mình, hoặc nhỏ hay
lớn, thao ban thứ của họ.
16. Ngoại trừ những nam đinh đã biên tên
vào gia phổ từ ba tuổi sắp lên, tức những kẻ theo
ban thứ mình mà vào đền Ðức
Giê-hô-va đặng phụng sự trong chức mình,
làm việc ngày nào theo ngày
nấy;
17. lại phân phát cho những thầy tế lễ
đã theo tông tộc mình mà ghi
tên vào gia phổ, và cho người
Lê-vi từ hai mươi tuổi sắp lên, tùy theo
chức phận và ban thứ của họ;
18. cùng phân phát cho hết thảy con nhỏ
của họ, vợ họ, con trai và con gái họ, tức cả hội
chúng ghi tên vào gia phổ;
vì chúng thành tín biệt
mình riêng ra đặng nên thánh.
19. Còn về con cháu A-rôn, tức
là những thầy tế lễ ở trong đồng ruộng, rải rác
nơi địa hạt các thành của họ, thì
có đặt trong mỗi thành những người gọi từng
tên, đặng phân phát phần cho hết thảy
người nam trong những thầy tế lễ và cho những kẻ trong
vòng người Lê-vi đã ghi tên
vào gia phổ.
20. Trong khắp Giu-đa, Ê-xê-chia làm như
vậy. Người làm những điều lành, ngay thẳng
và chơn thành, tại trước mặt
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
người.
21. Trong các việc người làm, hoặc quản
lý sự phục dịch nơi đền của Ðức Chúa
Trời, hoặc theo luật pháp hay là điều răn đặng
tìm kiếm Ðức Chúa Trời của người,
thì người hết lòng mà làm,
và được hanh thông.
2 Sử-Ký 32
Home
1. Sau các việc này và sự
thành tín này, thì
San-chê-ríp loán đến trong xứ Giu-đa,
vây các thành bền vững, có
ý hãm lấy nó.
2. Khi Ê-xê-chia thấy
San-chê-ríp đã đến, toan hãm
đánh Giê-ru-sa-lem,
3. thì người hội nghị với các quan trưởng
và những người mạnh dạn đặng ngăn nước suối ở
ngoài thành; họ bèn giúp đỡ
người.
4. Dân sự nhóm lại đông, chận
các suối và các khe chảy giữ xứ,
mà rằng: Làm gì để cho vua A-si-ri
đến, thấy có nước nhiều?
5. Người tự can đảm, xây đắp vách thành
đã bị hư lủng, xây nó lên đến
tận tháp; rồi lại xây một cái
vách khác ở phía ngoài;
người làm cho vững chắc Mi-lô ở trong
thành Ða-vít và chế nhiều
cây lao cùng khiên.
6. Người lập những quan tướng trên dân sự, rồi hiệp
lập chúng lại gần mình tại phố bên cửa
thành, nói động lòng chúng,
mà rằng:
7. Khá vững lòng bền chí, chớ sợ, chớ
kinh hãi trước mặt vua A-si-ri và đám
quân đông đảo theo người; vì
có một Ðấng ở cùng chúng ta
thắng hơn kẻ ở với họ:
8. với người chỉ một cánh tay xác thịt;
còn với chúng ta có
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
chúng ta đặng giúp đỡ và chiến tranh
thế cho chúng ta. Dân sự bèn nương cậy
nơi lời của Ê-xê-chia, vua Giu-đa.
9. Sau việc ấy, San-chê-ríp, vua A-si-ri, với cả
đạo binh của người hãy còn vây La-ki,
có sai các đầy tớ người đến
Ê-xê-chia và dân Giu-đa ở tại
Giê-ru-sa-lem, mà nói rằng:
10. San-chê-ríp, vua A-si-ri, nói như
vầy: Các ngươi nương cậy điều gì, mà
chịu ở vậy trong thành Giê-ru-sa-lem như thế?
11. Ê-xê-chia nói rằng:
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng ta sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay vua
A-si-ri, ấy há chẳng phải người dỗ dành
các ngươi đặng phó các ngươi
đói khát cho chết hay sao?
12. Chớ thì chẳng phải chính
Ê-xê-chia này đã cất những
nơi cao và bàn thờ của Ngài, rồi biểu
dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng:
Các ngươi khá thờ lạy trước một bàn
thờ, và chỉ xông hương tại trên
đó mà thôi?
13. Các ngươi há chẳng biết điều ta và
tổ phụ ta đã làm cho các dân
thiên hạ sao? Các thần của những dân tộc
thiên hạ, há giải cứu xứ chúng
nó được khỏi tay ta ư?
14. Nội trong các thần của những dân tộc
mà tổ phụ ta đã diệt hết đi, há
có thần nào giải cứu dân
mình cho khỏi tay ta chăng? Dễ có một
mình Thần các ngươi giải cứu các ngươi
được khỏi tay ta chớ!
15. Vậy bây giờ, chớ để Ê-xê-chia phỉnh
gạt, khuyên dụ các ngươi như thế, và
các ngươi chớ tin người; vì chẳng có
thần của dân nào nước nào giải cứu
dân mình được khỏi tay ta hay là khỏi
tay tổ phụ ta; huống chi Ðức Chúa Trời
các ngươi giải cứu các ngươi khỏi tay ta!
16. Các đầy tớ người lại còn nói
nghịch cùng Giê-hô-va là
Ðức Chúa Trời thật, và nghịch
cùng Ê-xê-chia, là
tôi tớ Ngài.
17. Người cũng viết thơ sỉ nhục Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,
và nói phạm đến Ngài mà
rằng: Hễ thần của các dân tộc thiên hạ
chẳng giải cứu dân mình khỏi tay ta thế
nào, thì thần của Ê-xê-chia
cũng chẳng giải cứu được dân sự người khỏi tay ta thế ấy.
18. Chúng la lớn lên, nói bằng tiếng
Giu-đa cho dân Giê-ru-sa-lam ở trên
vách thành, đặng làm cho
chúng sợ hoảng, để hãm lấy thành.
19. Chúng lại nói về Ðức Chúa
Trời của Giê-ru-sa-lem, như thể các thần của
dân thiên hạ đều là công việc
của tay người ta làm ra.
20. Vua Ê-xê-chia, và tiên tri
Ê-sai, con trai A-mốt, cầu nguyện về việc này,
và kêu la thấu đến trời.
21. Ðức Giê-hô-va bèn sai một
thiên sứ diệt những người mạnh dạn, các quan
trưởng và các quan tướng ở trong trại
quân của vua A-si-ri. người trở về trong xứ mình,
mặt hổ thẹn; và khi người vào trong miễu thần
mình, có những kẻ bởi lòng người sanh
ra đều lấy gươm giết người tại đó.
22. Như vậy Ðức Giê-hô-va cứu
Ê-xê-chia và dân cư
thành Giê-ru-sa-lem khỏi tay
San-chê-ríp, vua A-si-ri, và khỏi tay
mọi người khác, cùng phù hộ cho
chúng bốn bên.
23. Có nhiều người đem những lễ vật đến dâng cho
Ðức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem,
và những vật quí báu cho
Ê-xê-chia, vua Giu-đa; nên từ khi ấy về
sau, người được tôn cao trước mặt các nước.
24. Trong lúc ấy, Ê-xê-chia bị đau
hòng chết; người cầu nguyện Ðức
Giê-hô-va, Ðức
Giê-hô-va phán cùng người,
và ban cho người một dấu lạ.
25. Nhưng Ê-xê-chia chẳng báo
đáp lại ơn Chúa mà người đã
lãnh, vì lòng người tự cao;
bèn có cơn thạnh nộ của Chúa nổi
lên cùng người, cùng Giu-đa
và Giê-ru-sa-lem.
26. Song Ê-xê-chia hạ sự tự cao trong
lòng mình xuống, người và
dân cư Giê-ru-sa-lem cũng vậy, nên trong
đời Ê-xê-chia, cơn thạnh nộ của Ðức
Giê-hô-va không giáng
trên chúng.
27. Ê-xê-chia được rất giàu rất sang;
người cất những kho để trử bạc, vàng, đá
quí, thuốc thơm, khiên, và
các thứ khí giới tốt đẹp;
28. những lẫm đặng chứa ngũ cốc, rượu, và dầu; những chuồng
để nhốt các thứ thú vật, bầy chiên,
và bầy bò.
29. Người cũng xây những thành, có
nhiều bầy chiên và bò; vì
Ðức Chúa Trời ban cho người rất nhiều của cải.
30. Ấy là Ê-xê-chia này lấp
nguồn trên của nước Ghi-hôn, và dẫn
nó chảy ngầm dưới đất qua phía tây của
thành Ða-vít. Trong mọi việc
Ê-xê-chia được hanh thông.
31. Song khi sứ giả mà vua Ba-by-lôn sai đến người
đặng hỏi thăm dấu lạ đã xảy ra trong xứ, thì
Ðức Chúa Trời tạm lìa bỏ người đặng thử
người, để cho biết mọi điều ở trong lòng người.
32. Các công việc khác của
Ê-xê-chia, và những việc thiện của
người, đều chép trong sách dị tượng của
Ê-sai, đấng tiên tri, con trai của A-mốt,
và trong sách các vua Giu-đa
và Y-sơ-ra-ên.
33. Ê-xê-chia an giấc cùng tổ phụ
mình, người ta chôn người trong lăng tẩm cao của
con cháu Ða-vít; cả Giu-đa và
Giê-ru-sa-lem đều tôn kính người
lúc người thác; Ma-na-se, con trai người, cai trị
thế cho người.
2 Sử-Ký 33
Home
1. Ma-na-se được mười hai tuổi khi người lên làm
vua, và người cai trị năm mươi lăm năm tại
Giê-ru-sa-lem.
2. Người làm điều ác trước mặt Ðức
Giê-hô-va, theo những sự gớm ghiếc của
các dân tộc mà Ðức
Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt
dân Y-sơ-ra-ên.
3. Người cất lại các nơi cao mà
Ê-xê-chia, cha người, đã phá
dỡ, dựng lên những bàn thờ cho Ba-anh,
làm các tượng A-sê-ra, thờ lạy cả cơ
binh trên trời, và hầu việc chúng
nó.
4. Người xây những bàn thờ tại trong đền
Ðức Giê-hô-va, là về nơi ấy
mà Ðức Giê-hô-va đã
phán rằng: Danh ta sẽ ngự nơi Giê-ru-sa-lem đời
đời.
5. Người cũng lập những bàn thờ cho các cơ binh
trên trời, tại trong hai hành lang của đến
Ðức Giê-hô-va,
6. và đưa con cái mình qua lửa, tại
trong trũng con Hi-nôm; người xem bói; ếm
chú, dùng pháp thuật, ham theo những
kẻ cầu vong và thầy phù thủy: người
làm điều ác thái quá tại
trước mặt Ðức Giê-hô-va đặng chọc giận
Ngài.
7. Người đặt hình tượng chạm mà mình
đã làm trong đền của Ðức Chúa
Trời, là về đền ấy mà Ðức Chúa
Trời có phán với Ða-vít
và Sa-lô-môn, con trai người, rằng:
Trong đền này và tại Giê-ru-sa-lem,
thành ta đã chọn trong các chi
phái Y-sơ-ra-ên, ta sẽ đặt danh ta ở đời đời;
8. nếu Y-sơ-ra-ên gìn giữ làm theo
các luật pháp, điều răn, và mạng lịnh,
mà ta đã cậy Môi-se phán dạy
chúng nó, thì ta sẽ chẳng cất chơn của
chúng nó khỏi đất ta đã ban cho tổ phụ
chúng nó.
9. Ma-na-se quyến dụ Giu-đa và dân sự
Giê-ru-sa-lem, đến đỗi chúng làm điều
ác hơn các dân tộc mà
Ðức Giê-hô-va đã hủy diệt khỏi
trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
10. Ðức Giê-hô-va phán bảo
Ma-na-se và dân sự người; song chúng
không chủ ý đến.
11. Vì cớ ấy, Ðức Giê-hô-va
khiến các quan tướng đạo binh của vua A-si-ri đến
hãm đánh chúng; các quan ấy
bắt đóng cùm Ma-na-se, xiềng người lại, rồi dẫn
về Ba-by-lôn.
12. Khi người bị hoạn nạn, bèn cầu khẩn
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
người và hạ mình xuống lắm trước mặt Ðức
Chúa Trời của tổ phụ người.
13. Ma-na-se cầu nguyện cùng Ngài;
Ngài nhậm người, dủ nghe lời nài xin của người,
dẫn người về Giê-ru-sa-lem trong nước người; khi ấy Ma-na-se
nhìn biết Giê-hô-va là
Ðức Chúa Trời.
14. Sau việc ấy, người xây vách ngoài
thành Ða-vít, về phía
tây Ghi-hôn trong trũng, đến lối vào cửa
cá, và chung quanh Ô-phên,
xây nó rất cao rồi người đặt những quan tướng
trong các thành bền vững xứ Giu-đa.
15. Người cất khỏi đền Ðức Giê-hô-va những
thần ngoại bang, hình tượng, và bàn
thờ mà người đã xây trên
núi của đền Ðức Giê-hô-va
và tại Giê-ru-sa-lem, rồi quăng nó ra
ngoài thành.
16. Ðoạn, người sửa sang bàn thờ của Ðức
Giê-hô-va, dâng của lễ bình an
và của lễ thù ân tại đó;
người truyền dạy dân Giu-đa phục sự
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên.
17. Dầu vậy, dân sự còn tế lễ cho
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
mình mà thôi.
18. Các công việc khác của Ma-na-se,
lời người cầu nguyện cùng Ðức Chúa Trời
người, và các lời của đấng tiên kiến
nhân danh Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà
phán với người, đều đã chép trong
sách các vua Y-sơ-ra-ên.
19. Bài cầu nguyện người, và làm sao
Ðức Chúa Trời nhậm lời người, các tội
lỗi, và gian ác người đã phạm, những
chỗ người lập nơi cao, dựng lên thần A-sê-ra
và tượng chạm, trước khi người chưa hạ mình
xuống, kìa, thảy đều chép trong truyện
Hô-xai.
20. Ma-na-xe an giấc cùng tổ phụ mình, được
chôn trong cung điện người; A-môn con trai người,
cai trị thế cho người.
21. A-môn được hai mươi hai tuổi khi người lên
ngôi làm vua; người cai trị hai năm tại
Giê-ru-sa-lem.
22. Người làm điều ác tại trước mặt Ðức
Giê-hô-va y như Ma-na-se, cha người, đã
làm, cúng tế cho các tượng chạm
mà Ma-na-se, cha người, đã làm,
và hầu việc chúng nó.
23. Người không hạ mình xuống trước mặt
Ðức Giê-hô-va như Ma-na-se, cha người,
đã làm; nhưng người càng
thêm phạm tội.
24. Các đầy tớ người mưu phản, giết người tại trong cung
điện người.
25. Còn dân sự của xứ lại giết các kẻ
đã mưu phản giết vua A-môn; rồi lập
Giô-si-a, con trai người, làm vua thế cho người.
2 Sử-Ký 34
Home
1. Giô-si-a được tám tuổi khi người lên
ngôi làm vua, và cai trị ba mươi mốt
năm tại Giê-ru-sa-lem.
2. Người làm điều thiện trước mặt Ðức
Giê-hô-va, và đi theo con đường của
Ða-vít, tổ phụ người, không xây
về bên hữu hay là bên tả.
3. Năm thứ tám đời người trị vì, khi người
hãy còn trẻ tuổi, thì người khởi
tìm kiếm Ðức Chúa Trời của
Ða-vít, tổ phụ người; năm thứ mười hai, người khởi
dọn sạch Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, trừ bỏ những nơi
cao, thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng
đúc.
4. Trước mặt vua, người ta phá dỡ các
bàn thờ Ba-anh, đánh đổ những trụ thờ mặt trời ở
trên cao bàn thờ ấy; còn thần
A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc,
thì bẻ gãy, nghiền nát nó
ra, rồi rải trên mồ mả của những kẻ đã
cúng tế nó.
5. Người cũng thiêu hài cốt của những thầy tế lễ
tại trên bàn thờ các thần ấy,
và dọn sạch Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
6. Trong các thành của Ma-na-se, của
Ép-ra-im, và của Si-mê-ôn,
cho đến Nép-ta-li khắp chung quanh các nơi đổ
nát,
7. người phá dỡ các bàn thờ
và nghiền nát ra bụi những thần
A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc,
đánh đổ các trụ thờ mặt trời ở trong khắp xứ
Y-sơ-ra-ên; rồi người trở về Giê-ru-sa-lem.
8. Năm thứ mười tám đời người trị vì, sau khi
đã dọn sạch xứ và đền thờ rồi, thì
người sai Sa-phan, con trai A-sa-lia, Ma-a-xê-gia, quan cai
thành, và Giô-a, con trai
Giô-a-cha, quan thái sử, đặng sửa sang đền của
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời người.
9. Các người ấy đi đến cùng Hinh-kia, thầy tế lễ
thượng phẩm, giao cho người tiền bạc đã đem vào
đền Ðức Chúa Trời, tức tiền bạc mà người
Lê-vi, kẻ giữ cửa, đã nhận nơi tay người Ma-na-se,
người Ép-ra-im, và nơi những kẻ còn
sót lại trong Y-sơ-ra-ên, cùng nhận nơi
cả Giu-đa, Bên-gia-min và những dân cư
thành Giê-ru-sa-lem.
10. Chúng giao bạc ấy nơi tay những người coi sóc
công việc của đền Ðức Giê-hô-va;
họ phát cho các thợ đặng tu bổ, sửa sang đền thờ:
11. tức giao cho các nhà thuộc về đền
mà các vua Giu-đa đã phá
hủy.
12. Các thợ ấy đều làm công việc
cách thành tâm. Kẻ quản đốc
các thợ ấy là Gia-hát và
Ô-ba-đia, hai người Lê-vi thuộc về dòng
Mê-ra-ri; Xa-cha-ri và Mê-su-lam về
dòng Kê-hát, cùng mấy người
Lê-vi khác, đánh nhạc khí
giỏi.
13. Chúng cũng quản đốc kẻ khiêng gánh,
và coi sóc những người làm đủ mọi thứ
công việc; còn những ký lục, quan cai
và kẻ canh cửa đều là người Lê-vi.
14. Khi người ta đem bạc đã đem vào đền
Ðức Giê-hô-va ra, thì Hinh-kia,
thầy tế lễ, tìm được cuốn sách luật
pháp của Ðức Giê-hô-va truyền
lại bởi Môi-se.
15. Hinh-kia cất tiếng lên nói với thơ
ký Sa-phan rằng: Ta có tìm được cuốn
sách luật pháp ở trong đền của Ðức
Giê-hô-va. Rồi Hinh-kia giao sách ấy cho
Sa-phan.
16. Sa-phan đem sách đó cho vua; rồi người cũng
tâu với vua rằng: Mọi việc giao nơi tay các
tôi tớ vua thì họ đương làm.
17. Chúng đã lấy bạc tìm được trong
đền Ðức Giê-hô-va ra, và
đã giao nơi tay các đốc công
và những người làm công việc.
18. Thơ ký Sa-phan lại tâu với vua rằng: Thầy tế
lễ Hinh-kia có trao cho tôi một cuốn
sách. Sa-phan bèn đọc tại trước mặt vua.
19. Xảy khi vua nghe các lời luật pháp rồi,
thì xé áo mình.
20. Vua truyền lịnh cho Hinh-kia, A-hi-cam, con trai của Sa-phan,
Áp-đôn, con trai của Mi-ca, Sa-phan, thơ
ký, và A-sa-gia, quan cận thần vua, mà
rằng:
21. Hãy vì ta, vì các người
Y-sơ-ra-ên và vì người Giu-đa
còn sót lại, mà đi cầu vấn Ðức
Giê-hô-va về các lời phán của
sách này đã tìm lại được
vì cơn giận của Ðức Giê-hô-va
đã giáng trên chúng ta thật
lớn thay, bởi các tổ phụ ta không gìn
giữ lời phán của Ðức Giê-hô-va,
và chẳng làm theo các điều
đã chép trong sách này.
22. Hinh-kia và các kẻ vua sai đi đến Hun-đa, nữ
tiên tri, vợ của Sa-lum, là người giữ
áo lễ, con trai của Tô-cát,
cháu Hát-ra; bà ở tại
Giê-ru-sa-lem trong quận thứ nhì; chúng
nói với bà theo các lời vua
đã phán.
23. Bà bèn nói với chúng
rằng: Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của Y-sơ-r-ên phán như vầy: Hãy
nói cùng người đã sai các
ngươi đến cùng ta rằng:
24. Ðức Giê-hô-va phán như vầy:
nầy ta sẽ khiến các tai vạ giáng trên
chỗ này và trên dân ở chỗ
này, tức là các sự rủa sả
chép trong sách mà người ta
đã đọc trước mặt vua Giu-đa.
25. Bởi vì chúng đã lìa bỏ
ta, xông hương cho các tà thần, lấy
các công việc tay chúng nó
làm mà chọc giận ta; nên cơn thạnh nộ
ta sẽ đổ ra trên chỗ này, không hề
nguôi.
26. Còn vua Giu-đa đã sai các ngươi đi
cầu vấn Ðức Giê-hô-va, các ngươi
hãy nói cho người như vầy: Về các lời
ngươi đã nghe, Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có
phán như vầy:
27. Khi ngươi nghe lời ta phán nghịch cùng chỗ
này, và nghịch cùng dân cư
nó, thì ngươi có lòng mềm
mại, hạ mình xuống trước mặt ta, xé áo
ngươi, và khóc lóc tại trước mặt ta;
bởi vậy cho nên ta cũng có nghe ngươi.
28. Kìa, ta sẽ khiến ngươi về cùng tổ phụ ngươi,
ngươi sẽ được chôn bình an, và mắt
ngươi sẽ chẳng thấy các tai vạ ta toan giáng
xuống trên chốn này cùng trên
dân cư nó. Chúng bèn
tâu lại cho vua những lời ấy.
29. Vua bèn sai người nhóm các trưởng
lão Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
30. Ðoạn, vua đi lên đền Ðức
Giê-hô-va, có hết thảy người Giu-đa,
dân cư Giê-ru-sa-lem, những thầy tế lễ, người
Lê-vi, và cả dân sự, từ nhỏ đến lớn, đều
đi theo người; người đọc cho chúng nghe các lời
của sách giao ước đã tìm được trong
đền của Ðức Giê-hô-va,
31. Vua đứng tại chỗ mình, lập giao ước trước mặt
Ðức Giê-hô-va, hứa đi theo Ðức
Giê-hô-va, hết lòng hết ý
gìn giữ các điều răn, chứng cớ, và
luật lệ của Ngài, đặng làm trọn lời giao ước giao
ước đã chép trong sách ấy.
32. Người cũng khiến những người ở Giê-ru-sa-lem
và Bên-gia-min ưng theo giao ước ấy. Vậy,
dân cư Giê-ru-sa-lem đều làm theo giao
ước của Ðức Chúa Trời, là Ðức
Chúa Trời của tổ phụ họ.
33. Giô-si-a cất hết thảy sự gớm ghiếc khỏi các xứ
thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, và buộc hết
thảy những người ở xứ Y-sơ-ra-ên phải phục sự
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của họ.
Trọn đời Giô-si-a, chúng hằng theo
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ họ, chẳng lìa bỏ Ngài.
2 Sử-Ký 35
Home
1. Giô-si-a giữ lễ Vượt qua cho Ðức
Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem
ngày mười bốn tháng giêng, họ giết con
sinh về lễ Vượt qua.
2. Người cắt những thầy tế lễ giữ chức phận mình,
và khuyên giục chúng về việc của đền
Ðức Giê-hô-va.
3. Người phán cùng những người Lê-vi
vẫn dạy dỗ cả Y-sơ-ra-ên, và đã biệt
mình riêng ra thánh cho Ðức
Giê-hô-va, mà rằng: Hãy để
hòm thánh tại trong đền mà
Sa-lô-môn, con trai của Ða-vít,
vua Y-sơ-ra-ên, đã xây cất;
các ngươi không còn khiêng
hòm ấy trên vai. Bây giờ, hãy
phục sự Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của các ngươi và giúp việc cho
Y-sơ-ra-ên là dân sự của Ngài;
4. các ngươi hãy tùy tông
tộc và ban thứ các ngươi, mà dọn
mình cho sẵn, chiếu theo lệ luật mà
Ða-vít, vua Y-sơ-ra-ên, và
Sa-lô-môn, con trai người, đã
chép.
5. Ðoạn hạy đứng trong nơi thánh, theo thứ tự
tông tộc của anh em các ngươi, là
dân Y-sơ-ra-ên, và theo thứ tự
tông tộc của anh em các ngươi, là
dân Y-sơ-ra-ên, và theo thứ tự
tông tộc của người Lê-vi.
6. Các ngươi hãy giết con sinh về lễ Vượt qua,
biệt mình riêng ra thánh và
sắm sửa lễ Vượt qua thế cho anh em các ngươi, để
làm y như lời của Ðức Giê-hô-va
cậy Môi-se phán.
7. Giô-si-a ban cho dân sự những súc vật
nhỏ, số là ba vạn chiên con và
dê con, cùng ba ngàn con bò
đực, dùng trọn về lễ Vượt qua cho các người
có mặt tại đó; các thú
đó đều bắt nơi sản vật của vua.
8. Các quan trưởng cũng đều đành lòng
ban súc vật cho dân sự, cấp cho thầy tế lễ
và người Lê-vi. Hinh-kia, Xa-cha-ri, và
Giê-hi-ên, là các người quản
đốc đền Ðức Chúa Trời, cấp cho những thầy tế lễ, hai
ngàn sáu trăm con chiên, và
ba trăm con bò để dùng về lễ Vượt qua.
9. Cô-na-nia, Sê-ma-gia, Na-tha-na-ên,
và các anh em người, Ha-sa-bia,
Giê-i-ên, và
Giô-xa-bát, là các quan
trưởng của người Lê-vi, đều cấp cho người Lê-vi năm
ngàn con chiên, và năm trăm con
bò để dùng về lễ Vượt qua.
10. Vậy, việc tế lễ đã sắp đặt rồi, những thầy tế lễ đều
đứng tại chỗ mình, và người lê-vi cứ
theo ban thứ mình, y theo mạng lịnh của vua.
11. Người Lê-vi giết con sinh về lễ Vượt qua, và
những thầy tế lễ nhận lấy huyết nơi tay chúng mà
rảy nó ra; còn người Lê-vi
thì lột da con sinh.
12. Chúng để những của lễ thiêu riêng
ra, đặng phân phát cho dân sự, theo thứ
tự tông tộc của họ, để dâng cho Ðức
Giê-hô-va, tùy theo điều đã
chép trong sách của Môi-se; họ cũng
làm như vậy về các con bò đực.
13. Chúng theo lệ định, mà quay thịt con sinh về
lễ Vượt qua; còn những vật thánh thì
nấu trong cái nồi, cái vạc, và
cái chảo, rồi hối hả đem phân phát cho
cả dân sự.
14. Kế sau, chúng lo sắm sửa vật dùng cho
mình và cho những thầy tế lễ; vì những
thầy tế lễ, là con cháu A-rôn, đều mắc
việc dâng của lễ thiêu và mỡ cho đến
chiều tối; vì vậy người Lê-vi sắm sửa vật
dùng cho mình và cho những thầy tế lễ,
là con cháu của A-rôn.
15. Những người ca hát, là con cháu
của A-sáp, đều ở tại chỗ mình, tùy
theo lệ của Ða-vít, A-sáp,
Hê-man, và Giê-đu-thun, đấng
tiên kiến của vua, đã định; các người
canh cửa đều ở tại mỗi cửa, không cần rời khỏi việc
mình, vì anh em của họ, là người
Lê-vi, sắm sửa vật dùng cho họ.
16. Nội ngày đó, các cuộc thờ phượng
Ðức Giê-hô-va đã sắp đặt rồi, để
giữ lễ Vượt qua, và dâng những của lễ
thiêu trên bàn thờ của Ðức
Giê-hô-va, tùy theo mạng lịnh của vua
Giô-si-a.
17. Những người Y-sơ-ra-ên có mặt tại
đó, đều giữ lễ Vượt qua trong lúc ấy,
và giữ lễ bánh không men trong bảy
ngày.
18. Từ đời tiên tri Sa-mu-ên, trong
Y-sơ-ra-ên, người ta không có giữ lễ
Vượt qua giống như vậy; cũng chẳng có vua nào
trong các vua Y-sơ-ra-ên giữ lễ Vượt qua giống như
lễ Vượt qua mà Giô-si-a với những thầy tế lễ,
người Lê-vi, cả dân Giu-đa, và
Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó, đã
giữ.
19. Người ta giữ lễ Vượt qua này nhằm năm thứ mười
tám đời Giô-si-a trị vì.
20. Sau các việc ấy, khi Giô-si-a đã
sửa sang đền thờ rồi, thì Nê-cô, vua
Ê-díp-tô, đi lên
hãm đánh Cạt-kê-mít,
trên bờ sông Ơ-phơ-rát;
Giô-si-a kéo ra đón người.
21. Nê-cô sai sứ đến nói với người rằng:
Hỡi vua Giu-đa, ta với ngươi có điều gì chăng?
Ngày nay ta chẳng đến đặng hãm đánh
ngươi đâu, nhưng ta ra đánh nhà
thù nghịch nước ta; Ðức Chúa Trời
đã phán biểu ta khá vội
vàng; vậy, hãy thôi, chớ chống cự
Ðức Chúa Trời, là Ðấng ở
cùng ta, e Ngài hủy diệt ngươi chăng.
22. Dầu vậy, Giô-si-a chẳng khứng thối lại, chẳng chịu nghe
lời Ðức Chúa Trời cậy Nê-cô
mà phán ra; nhưng lại ăn mặc giả dạng đặng đối
địch cùng người bèn đến đánh giặc tại
trũng Mê-ghi-đô.
23. Các lính cầm cung bắn nhằm vua
Giô-si-a; vua nói với đầy tớ mình rằng:
hãy đem ta ra khỏi đây vì ta bị thương
nặng.
24. Các đầy tớ người đem người khỏi xe, để người trong một
cái xe thứ nhì mà người có
sẵn, rồi đem người về Giê-ru-sa-lem. Người thác,
được chôn tại trong mồ mả của tổ phụ người. Cả Giu-đa
và Giê-ru-sa-lem đều thương khóc người.
25. Giê-rê-mi đặt bài ai ca về
Giô-si-a; lại các kẻ ca xướng, năm và
nữ, hãy còn hát về Giô-si-a
trong bài ai ca của mình cho đến ngày
nay; người ta lập điều đó như một thường lệ trong
Y-sơ-ra-ên; kìa, các chuyện ấy
đã chép trong sách ai ca.
26. Các công việc khác của
Giô-si-a, những việc thiện người làm cứ theo điều
đã chép trong sách luật
pháp của Ðức Giê-hô-va
và các sự người, từ đầu đến cuối,
27. kìa, đã ghi chép trong
sách các vua Y-sơ-ra-ên và
Giu-đa.
2 Sử-Ký 36
Home
1. Dân sự của xứ bèn lập Giô-a-cha, con
trai Giô-si-a, làm vua thay vì cha
người tại Giê-ru-sa-lam.
2. Giô-a-cha được hai mươi ba tuổi khi lên
ngôi làm vua, và cai trị ba
tháng tại Giê-ru-sa-lem.
3. Vua Ê-díp-tô truất ngôi
người tại Giê-ru-sa-lem, và bắt vạ xứ một trăm ta
lâng bạc và một ta lâng vàng.
4. Ðoạn, vua Ê-díp-tô lập
Ê-li-a-kim, em Giô-a-cha, làm vua của
Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, và đổi
tên người ra là
Giê-hô-gia-kim. Nê-cô bắt
Giô-a-cha, anh của Giê-hô-gia-kim, đem
người về xứ Ê-díp-tô.
5. Giê-hô-gia-kim được hai mươi lăm tuổi khi người
lên ngôi làm vua; người cai trị mười một
năm tại Giê-ru-sa-lem, và làm điều
ác trước mặt Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của người.
6. Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đi
lên hãm đánh người, xiềng người lại,
và dẫn người qua Ba-by-lôn.
7. Nê-bu-cát-nết-sa cũng đoạt lấy đem về
Ba-by-lôn những khí dụng của đền Ðức
Giê-hô-va, rồi để vào trong miễu người
tại Ba-by-lôn.
8. Các công việc khác của
Giê-hô-gia-kim những sự gớm ghiếc người
đã làm, và sự đã
tìm được trong lòng người, thảy đều
chép trong sách các vua
Y-sơ-ra-ên và Giu-đa
Giê-hô-gia-kin, con trai người, cai trị thế cho
người.
9. Giê-hô-gia-kin được mười tám tuổi khi
người lên ngôi làm vua, và
cai trị ba tháng mười ngày tại
Giê-ru-sa-lem. Người làm điều ác tại
trước mặt Ðức Giê-hô-va.
10. Sang đầu năm, vua Nê-bu-cát-nết-sa sai bắt
người dẫn về Ba-by-lôn, cùng đoạt lấy đem về
các vật tốt đẹp của đền Ðức
Giê-hô-va, rồi lập Sê-đê-kia,
em người, làm vua Giu-đa và
Giê-ru-sa-lem.
11. Sê-đê-kia được hai mươi mốt tuổi, khi người
lên ngôi làm vua, và cai trị
mười một năm tại Giê-ru-sa-lem.
12. Người làm điều ác trước mặt
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
người, không hạ mình xuống trước mặt
Giê-rê-mi, là đấng tiên tri
vâng mạng Ðức Giê-hô-va
mà khuyên bảo người.
13. Người cũng dấy lên nghịch cùng vua
Nê-bu-cát-nết-sa, là vua đã
buộc người chỉ Ðức Chúa Trời mà thề; song
người lại cứng cổ rắn lòng, không khứng trở về
cùng Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
14. Những thầy tế lễ cả và dân sự đều theo những
sự gớm ghiếc của các dân ngoại bang mà
phạm tội lỗi nhiều quá đỗi; làm cho ô
uế đền của Ðức Giê-hô-va mà
Ngài đã biệt riêng ra thánh
tại Giê-ru-sa-lem.
15. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
tổ phụ chúng, vì có lòng
thương xót dân sự và đền của
Ngài; nên hằng sai sứ giả đến cùng
chúng;
16. nhưng chúng nhạo báng sứ giả của Ðức
Chúa Trời, khinh bỉ các lời phán
Ngài, cười nhạo những tiên tri của
Ngài, cho đến đỗi cơn thạnh nộ của Ðức
Giê-hô-va nổi lên cùng
dân sự Ngài, chẳng còn phương chữa được.
17. Vì vậy, Ðức Chúa Trời khiến vua
dân Canh-đê lên hãm
đánh chúng, người dùng gươm giết những
trai trẻ của chúng tại đền thánh họ; người chẳng
thương xót đến, hoặc trai trẻ, nữ đồng trinh, già
cả, hay là kẻ đầu bạc: Ngài phó hết
thảy vào tay của vua Canh-đê.
18. Các khí dụng nhỏ và lớn của đền
Ðức Chúa Trời, các bửu vật của vua
và của các quan trưởng vua, cả thảy đều bị đem
qua Ba-by-lôn.
19. Chúng đốt đền Ðức Chúa Trơi,
đánh đổ vách thành
Giê-ru-sa-lem, lấy lửa đốt các cung điện,
và phá hủy các khí dụng tốt
đẹp của nó.
20. Phàm ai thoát khỏi gươm, thì người
bắt đem qua Ba-by-lôn; chúng làm
tôi mọi cho người và cho con trai người cho đến
đời nước Phe-rơ-sơ hưng khởi;
21. để cho ứng nghiệm lời của Ðức Giê-hô-va
đã cậy miệng Giê-rê-mi mà
phán ra, tức cho đến khi xứ được hưởng các năm
sa-bát của nó; vì trọn lúc
xứ bị bỏ hoang, thì dường như giữ sa-bát, cho đến
khi mãn hạn bảy mươi năm.
22. Năm thứ nhất đời Si-ru, vua Phe-rơ-sơ trị vì,
Ðức Giê-hô-a muốn làm cho ứng
nghiệm lời Ngài đã cậy miệng
Giê-rê-mi mà phán ra,
bèn cảm động lòng Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, rao
truyền trong khắp nước mình, và cũng ra chiếu
chỉ, mà rằng:
23. Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, nói như vầy:
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
đã ban cho ta các nước thế gian, và
biểu ta xây cất cho Ngài một cái đền ở
tại Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa. Trong các
ngươi, phàm ai thuộc về dân sự Ngài,
hãy trở lên Giê-ru-sa-lem; nguyện
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
người ấy ở cùng người!