[1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] [22]
1 Các Vua 1
Home
1. Vua Ða-vít đã già; tuổi
cao; và mặc dầu người ta đắp áo cho người, cũng
không thể ấm được.
2. Các tôi tớ người nói với người rằng:
Xin tìm cho vua chúa tôi một
gái trẻ đồng trinh, để hầu hạ vua và săn
sóc vua. Nàng sẽ nằm trong lòng vua,
thì vua chúa tôi có thể ấm
được.
3. Vậy người ta tìm trong khắp địa phận Y-sơ-ra-ên
một người gái trẻ đẹp, và gặp được
A-bi-sác, người Su-nem, dẫn nàng đến
cùng vua.
4. Người gái trẻ này rất là lịch sự.
Nàng săn sóc và hầu hạ vua; nhưng vua
không thân cận nàng.
5. Vả, A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, tự
tôn mà rằng: Ta sẽ làm vua. Người sắm
xe và quân kỵ, cùng năm mươi người chạy
trước mặt mình.
6. Cha người chẳng hề phiền lòng người mà hỏi
rằng: Cớ sao mầy làm như vậy? Vả lại, A-đô-ni-gia
rất đẹp, sanh ra kế sau Áp-sa-lôm.
7. Người bàn tính với
Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia
và với thầy tế lễ A-bia-tha; hai người theo phe
A-đô-ni-gia và giúp đỡ người.
8. Nhưng thầy tế lễ Xa-đốc và Bê-na-gia, con trai
Giê-hô-gia-đa, Na-than, thầy tiên tri,
Si-mê-i, Rê-i, và các
dõng sĩ của Ða-vít không theo
phe A-đô-ni-gia.
9. A-đô-ni-gia dâng những chiên,
bò, và bò con mập bên
hòn đá Xô-hê-lết, ở cạnh
giếng Ên-Rô-ghên; rồi mời anh em
mình, là các con trai của vua,
và hết thảy những người Giu-đa phục sự vua.
10. Nhưng người chẳng mời Na-than, là đấng tiên
tri, Bê-na-gia, các dõng sĩ,
cùng Sa-lô-môn, em mình.
11. Bấy giờ, Na-than nói với Bát-Sê-ba,
mẹ của Sa-lô-môn, mà rằng: Bà
há chẳng hay rằng A-đô-ni-gia, con trai
Ha-ghít, đã làm vua, mà
Ða-vít, chúa ta, chẳng hay biết sao?
12. Thế thì, bây giờ, hãy nghe;
tôi sẽ cho bà một kế để bà cứu mạng
sống mình và mạng sống của
Sa-lô-môn.
13. Hãy đi ra mắt vua Ða-vít,
và tâu rằng: Ôi vua, chúa
tôi! chúa há chẳng có thề
cùng con đòi của chúa rằng: Con trai
ngươi là Sa-lô-môn ắt sẽ trị
vì?
14. Trong lúc bà tâu với vua như vậy,
thì chính tôi cũng sẽ đi vào
sau, làm cho quả quyết các lời của bà.
15. Vậy, Bát-Sê-ba đi đến cùng vua, tại
trong phòng. Vua đã già lắm
có A-bi-sác, người Su-nem, hầu hạ người.
16. Bát-Sê-ba cúi mình xuống
và lạy trước mặt vua. Vua hỏi rằng: Ngươi muốn chi?
17. Bà tâu rằng: Chúa tôi
ôi! chúa đã nhơn danh
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúa thề cùng con đòi của
chúa rằng: Sa-lô-môn con trai ngươi sẽ
trị vì kế ta, và nó sẽ ngồi
trên ngôi ta.
18. Ôi vua chúa tôi! nhưng bây
giờ, A-đô-ni-gia làm vua, mà
chúa chẳng biết chi đến.
19. Người lại có giết bò đực, bò tơ
mập, và chiên rất nhiều, cũng có mời
hết thảy các vương tử với A-bia-tha, thầy tế lễ,
và Giô-áp, quan tổng binh; nhưng người
không mời Sa-lô-môn, kẻ tôi tớ
vua.
20. Ôi vua chúa tôi! cả
Y-sơ-ra-ên đều xây mắt về vua, đợi vua cho họ biết
ai là người kế vua phải ngồi trên ngai của vua,
là chúa tôi.
21. Chẳng vậy, khi vua chúa tôi an giấc với
các tổ phụ, thì tôi và con
trai tôi là Sa-lô-môn sẽ bị xử
như kẻ có tội.
22. Bà đương còn tâu với vua,
thì tiên tri Na-than đến.
23. Người ta đến thưa cùng vua rằng: Nầy có
tiên tri Na-than. Na-than ra mắt vua, sấp mình
xuống trước mặt người mà lạy.
24. và nói rằng: Ôi vua chúa
tôi! có phải vua đã phán
rằng: A-đô-ni-gia sẽ trị vì kế ta và
ngồi trên ngai ta, chăng?
25. Thật vậy, ngày nay, người đã đi xuống giết
bò, bò tơ mập, và chiên rất
nhiều, cùng mời hết thảy các vương tử, quan
tướng, và thầy tế lễ A-bia-tha; kìa, họ ăn uống
tại trước mặt người, và la lên rằng:
A-đô-ni-gia vạn tuế!
26. Còn tôi là kẻ tôi tớ vua,
thầy tế lễ Xa-đốc, Bê-na-gia, con trai
Giê-hô-gia-đa, và
Sa-lô-môn, tôi tớ vua, thì
người chẳng có mời.
27. Việc này há phải bởi vua chúa
tôi mà ra? Và lại vua không
cho các tôi tớ vua biết ai là người kế
vua, phải ngồi trên ngai của vua chúa
tôi.
28. Vua Ða-vít đáp rằng: Hãy
gọi Bát-Sê-ba cho ta. Bà vào
và đứng trước mặt vua.
29. Ða-vít bèn thề mà rằng:
Nguyện Ðức Giê-hô-va hằng sống,
là Ðấng đã giải cứu mạng sống ta khỏi
các hoạn nạn!
30. Ta nhơn danh Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề
cùng ngươi rằng: Quả hẳn Sa-lô-môn, con
trai ngươi, sẽ trị vì kế ta, nó sẽ ngồi
trên ngai thế cho ta; thì ngày nay ta
sẽ làm hoàn thành điều đó.
31. Bát-Sê-ba cúi mặt xuống đất
và lạy trước mặt vua, mà tâu rằng:
Nguyện vua Ða-vít, chúa tôi,
vạn tuế!
32. Ðoạn, vua Ða-vít nói:
Hãy gọi cho ta thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri
Na-than, và Bê-na-gia, con trai của
Giê-hô-gia-đa. Mấy người ấy bèn ra mắt
vua.
33. Rồi vua nói với họ rằng: Hãy đem
các đầy tớ của chủ các ngươi theo, đỡ
Sa-lô-môn, con trai ta, lên cỡi con la
của ta, rồi đưa nó đến Ghi-hôn.
34. Ở đó, thầy tế lễ Xa-đốc và tiên tri
Na-than phải xức dầu cho người làm vua Y-sơ-ra-ên.
Ðoạn, các ngươi hãy thổi kèn
lên mà họ rằng:
35. Vua Sa-lô-môn vạn tuế! Các ngươi sẽ
theo sau người mà ta đã lập làm vua
của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
36. Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa
tâu cùng vua rằng: A-men!
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của vua
chúa tôi, cũng phán định như vậy.
37. Ðức Giê-hô-va đã ở
cùng vua chúa tôi thể nào,
nguyện Ngài cũng ở cùng
Sa-lô-môn thể ấy, và khiến
ngôi người còn cao trọng hơn ngôi của
vua Ða-vít, là chúa
tôi!
38. Ðoạn, thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than,
Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, những
người Kê-rê-thít và
Phê-lê-thít, đều đi xuống, đỡ
Sa-lô-môn lên cỡi con la của vua
Ða-vít rồi đưa người đến Ghi-hôn.
39. Thầy tế lễ Xa-đốc lấy cái sừng dầu trong Ðền
tạm, và xức cho Sa-lô-môn. Người ta thổi
kèn, cả dân sự đều hô lên
rằng: Vua Sa-lô-môn vạn tuế!
40. Chúng đều theo người đi lên, thổi
sáo, và vui mừng khôn xiết, đến nỗi đất
rúng động bởi tiếng la của họ.
41. A-đô-ni-gia và hết thảy kẻ dự tiệc với
mình đều nghe tiếng này khi vừa ăn xong.
Lúc Giô-áp nghe tiếng kèn,
thì nói: Sao trong thành có
tiếng xôn xao ấy?
42. Người hãy còn nói, kìa
Giô-na-than, con trai thầy tế lễ A-bia-tha, chợt đến.
A-đô-ni-gia nói với người rằng: Hãy
vào, vì ngươi là một tay
dõng sĩ, chắc ngươi đem những tin lành.
43. Nhưng Giô-na-than đáp với
A-đô-ni-gia rằng: Thật trái hẳn. Vua
Ða-vít, chúa chúng ta,
đã lập Sa-lô-môn làm vua.
44. Vua có sai thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri
Na-than, Bê-na-gia, con trai
Giê-hô-gia-đa, người
Kê-rê-thít cùng người
Phê-lê-nít đi theo người, và
họ đã đỡ người lên cỡi con la của vua.
45. Ðoạn, tại Ghi-hôn, thầy tế lễ Xa-đốc
và tiên tri Na-than đã xức dầu cho
người làm vua; họ đã từ đó trở
lên cách reo mừng, và cả
thành đều vang động. Ðó là
tiếng xôn xao mà các ông
đã nghe.
46. Lại, Sa-lô-môn đã ngồi
trên ngôi nước;
47. các tôi tớ của vua đến chúc phước
cho vua Ða-vít, chúa chúng ta,
mà tâu rằng: Nguyện Ðức Chúa
Trời của vua làm cho danh Sa-lô-môn
tôn vinh hơn danh của vua, và khiến cho
ngôi người cao trọng hơn ngôi của vua! Rồi
cúi lạy nơi giường mình;
48. và có nói như vầy:
Ðáng khen ngợi thay Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,
vì ngày nay Ngài có ban một
người để ngồi trên ngôi của tôi
mà mắt tôi xem thấy.
49. Bấy giờ, hết thảy các người dự tiệc với
A-đô-ni-gia đều bắt sợ hãi, đứng dậy, ai đi đường
nấy.
50. A-đô-ni-gia cũng sợ Sa-lô-môn hay
điều đó, rằng: Nầy, A-đô-ni-gia sợ vua
Sa-lô-môn; kìa người đã nắm
các sừng bàn thờ.
51. Có người đến thuật cho Sa-lô-môn hay
điều đó, rằng: Nầy, A-đô-ni-gia sợ vua
Sa-lô-môn; kìa người đã nắm
các sừng bàn thờ, mà nói
rằng: Hôm nay, vua Sa-lô-môn
hãy thề với tôi rằng vua sẽ không giết
đầy tớ người bằng gươm.
52. Sa-lô-môn đáp rằng: Nếu người ăn ở
ra người tử tế, thì chẳng một sợi tóc
nào của người sẽ rụng xuống đất; bằng có thấy sự
ác nơi người, ắt người sẽ chết.
53. Vua Sa-lô-môn sai kẻ đem người xuống khỏi
bàn thờ. A-đô-ni-gia đến sấp mình xuống
trước mặt Sa-lô-môn; Sa-lô-môn
bèn nói với người rằng: Hãy trở về
nhà ngươi.
1 Các Vua 2
Home
1. Khi ngày của Ða-vít hầu trọn, người
truyền lịnh cho Sa-lô-môn, con trai
mình, mà rằng:
2. Ta hầu đi con đường chung của thế gian, khá mạnh dạn
và nên người trượng phu!
3. Hãy giữ điều Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời muốn con giữ, để đi trong đường lối
Ngài, gìn giữ những luật pháp, điều
răn, mạng lịnh, và sự dạy dỗ của Ngài, y như
đã chép trong luật pháp của
Môi-se, hầu cho con làm điều chi hay là
đi nơi nào cũng đều được thành công,
4. và Ðức Giê-hô-va sẽ
làm ứng nghiệm lời Ngài đã
phán về ta, rằng: Nhược bằng các con trai ngươi
cẩn thận về đường lối mình, hết lòng, hết
ý theo lẽ thật mà đi ở trước mặt ta,
thì ngươi sẽ chẳng hề thiếu người ngồi trên
ngôi Y-sơ-ra-ên.
5. Con biết sự Giô-áp, con trai
Xê-ru-gia, đã làm cho cha, sự
nó đã làm cho hai quan tướng của
Y-sơ-ra-ên, là Áp-ne, con trai của
Nê-rơ, và A-ma-sa, con trai của Giê-the,
là hai người nó đã giết,
làm đổ huyết ra trong lúc hòa
bình như trong cơn chiến trận, và khiến cho huyết
đổ ra trong chiến trận dính vào đai nó
thắt lưng, cùng vào giày nó
mang nơi chơn.
6. Con hãy cứ sự khôn ngoan con mà cư
xử, chớ để đầu bạc nó xuống âm phủ cách
bình yên.
7. Con hãy ở với các con trai
Bát-xi-lai, người Ga-la-át, cách nhơn
từ cho họ ăn đồng bàn cùng con; vì
chính chúng nó đã
đãi cha như vậy, mà đến đón rước cha,
lúc cha chạy trốn trước mặt Áp-sa-lôm,
anh con.
8. Nầy còn kẻ ở với con, là Si-mê-i,
con trai Ghê-ra, người Bên-gia-min, ở A-hu-rim,
là kẻ lấy những lời độc ác mà nguyền
rủa cha trong ngày cha đi đến Ma-ha-na-im; nhưng
nó xuống đón cha tại Giô-đanh,
thì cha đã nhơn danh Ðức
Giê-hô-va mà thề với nó rằng:
Ta sẽ chẳng giết ngươi bằng gươm.
9. Bây giờ, con chớ để nó khỏi phạt, vì
con là khôn ngoan, biết thế nào phải xử
nó: con khá làm cho đầu bạc
nó dính máu mà xuống
âm phủ.
10. Ða-vít an giấc với các tổ phụ
mình, và được chôn trong
thành Ða-vít.
11. Những ngày Ða-vít trị vì
trên Y-sơ-ra-ên là bốn mươi năm: người
trị vì bảy năm tại Hếp-rôn, và ba mươi
ba năm tại Giê-ru-sa-lem.
12. Ðoạn, Sa-lô-môn ngồi trên
ngai Ða-vít, cha mình, và nước
người được lập rất vững bền.
13. A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, đến
cùng Bát-sê-ba, mẹ của
Sa-lô-môn. Bà nói: Ngươi đến
có ý bình an chớ? Người thưa rằng:
Phải, có ý bình an.
14. Người lại rằng: Tôi có một lời nói
cùng bà. Bà đáp:
Hãy nói.
15. Người tiếp: Bà biết rằng nước vốn thuộc về
tôi, và cả Y-sơ-ra-ên đều mong thấy
tôi trị vì; nhưng ngôi nước
đã trở nên của em tôi, vì do
nơi Ðức Giê-hô-va mà thuộc về
người.
16. Vậy bây giờ, tôi có một sự xin với
bà, chớ từ chối. Bà đáp:
Hãy nói.
17. Người nói: Xin bà hãy
nói với vua Sa-lô-môn (vì
người chẳng chối gì với bà), và cầu
người cho tôi lấy A-bi-sác, người Su-nem,
làm vợ.
18. Bát-Sê-ba đáp: Ðược, ta sẽ
nói với vua giùm cho ngươi.
19. Bát-Sê-ba đi đến vua
Sa-lô-môn, để nói với người
giùm cho A-đô-ni-gia. Vua đứng dậy đi
đón bà, cúi xuống lạy bà;
đoạn, người ngồi trên ngai mình, và sai
đặt một ngai khác cho mẹ mình; bà
bèn ngồi bên tay hữu vua.
20. Bà nói với vua rằng: Mẹ có một
việc nhỏ xin con, con chớ từ chối. Vua đáp: Mẹ ôi!
xin hãy nói; vì tôi sẽ chẳng
từ chối với mẹ đâu.
21. Bà tiếp: Hãy ban A-bi-sác, người
Su-nem, làm vợ A-đô-ni-gia, là anh con.
22. Nhưng vua Sa-lô-môn thưa cùng mẹ
mình rằng: Cớ sao mẹ xin A-bi-sác, người Su-nem,
cho A-đô-ni-gia? Cũng hãy xin nước cho người
luôn, vì người là anh cả tôi;
hãy xin cho người, cho thầy tế lễ A-bia-tha, và
cho Giô-áp, con trai Xê-ru-gia.
23. Vua Sa-lô-môn bèn chỉ Ðức
Giê-hô-va mà thề rằng:
A-đô-ni-gia có nói lời đó
nghịch với mạng sống mình; bằng chẳng, nguyện Ðức
Chúa Trời xử tôi cách nặng nề!
24. Bây giờ, tôi chỉ Ðức
Giê-hô-va hằng sống, là Ðấng
đã làm cho tôi vững vàng,
và khiến tôi ngồi trên ngai của
Ða-vít, cha tôi, cùng lập một
nhà cho tôi y như lời Ngài
đã hứa, mà thề rằng: A-đô-ni-gia sẽ bị
xử tử chính ngày hôm nay.
25. Vua Sa-lô-môn bèn truyền lịnh cho
Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa,
xông đánh A-đô-ni-gia, thì
người chết.
26. Ðoạn, vua nói với thầy tế lễ A-bia-tha rằng:
Hãy lui về A-na-tốt, trong đất ngươi, vì ngươi
đáng chết. Song ngày nay ta không giết
ngươi, vì ngươi có khiêng
hòm giao ước của Chúa
Giê-hô-va, trước mặt Ða-vít,
là cha ta, và bởi vì ngươi
đã bị hoạn nạn trong các sự hoạn nạn của cha ta.
27. Như vậy, Sa-lô-môn đuổi A-bia-tha ra đi
không cho làm thầy tế lễ của Ðức
Giê-hô-va nữa, hầu cho lời của Ðức
Giê-hô-va đã phán về
nhà Hê-li, tại Si-lô, được ứng nghiệm.
28. Tin này thấu đến Giô-áp. (Vả
Giô-áp đã theo phe
A-đô-ni-gia, dầu không có theo phe của
Áp-sa-lôm). Người liền trốn đến Ðền tạm
của Ðức Giê-hô-va, và nắm sừng
của bàn thờ.
29. Người ta đến tâu với vua Sa-lô-môn
rằng: Giô-áp đã trốn đến Ðền
tạm của Ðức Giê-hô-va, và
kìa người đứng bên cạnh bàn thờ.
Sa-lô-môn bèn sai Bê-na-gia,
con trai Giê-hô-gia-đa, mà dặn rằng:
Hãy đi đánh giết hắn đi.
30. Bê-na-gia đi đến Ðền tạm của Ðức
Giê-hô-va, nói cùng
Giô-áp rằng: Vua có nói như
vầy: Hãy ra khỏi đó. Giô-áp
đáp: Không; ta muốn chết tại đây.
Bê-na-gia đi thuật lại cho vua, và tâu
rằng: Giô-áp đã nói
và đáp lại như vậy.
31. Vua nói rằng: Hãy làm y như hắn
nó. Hãy giết hắn và chôn đi.
Như vậy, ngươi sẽ cất khỏi ta và khỏi nhà cha ta
huyết mà Giô-áp đã đổ ra
vô cớ.
32. Ðức Giê-hô-va sẽ khiến huyết hắn đổ lại
trên đầu hắn, vì hắn đã xông
vào hai người công bình hơn, tốt hơn
hắn, và giết họ bằng gươm, mà
Ða-vít, cha ta, không hay đến chi cả: ấy
là Áp-ne, con trai của Nê-rơ, quan
tướng của đạo binh Y-sơ-ra-ên, và A-ma-sa, con
trai Giê-the.
33. Huyết hai người ấy sẽ đổ lại trên đầu
Giô-áp và trên đầu của
dòng dõi nó cho đến đời đời;
còn phần Ða-vít và
dòng dõi người, nhà và
ngôi nước người sẽ nhờ Ðức
Giê-hô-va mà được bình
yên mãi mãi.
34. Vậy, Bê-na-gia, con trai
Giê-hô-gia-đa, trở lên xông
vào Giô-áp và giết người.
Người được chôn ở nhà người, tại nơi đồng vắng.
35. Vua đặt Bê-na-gia, con trai
Giê-hô-gia-đa, làm quan tổng binh thay
cho Giô-áp, và lập Xa-đốc
làm thầy tế lễ thay cho A-bia-tha.
36. Ðoạn, vua sai đòi Si-mê-i,
và nói với người rằng: Hãy cất cho
ngươi một cái nhà tại Giê-ru-sa-lem,
và ở đó; chớ ra đặng đi đầu này đầu
kia.
37. Vì khá biết rằng ngày
nào ngươi ra khỏi đó, và đi qua khe
Xết-rôn, thì chắc ngươi sẽ chết: huyết ngươi sẽ đổ
lại trên đầu ngươi.
38. Si-mê-i thưa với vua rằng: Lời ấy phải lắm, vua
chúa tôi phán dặn điều gì,
kẻ tôi tớ vua sẽ làm điều đó. Vậy,
Si-mê-i ở lâu ngày tại
Giê-ru-sa-lem.
39. Cuối ba năm, xảy có hai kẻ tôi tớ của
Si-mê-i trốn đến nhà A-kích, con trai
Ma-a-ca, vua của Gát. Người ta đến thuật điều đó
cho Si-mê-i mà rằng: Kìa, hai kẻ
tôi tớ ông ở tại Gát.
40. Si-mê-i chổi dậy, thắng lừa mình, đi đến
Gát, nơi nhà A-kích, đặng
tìm hai kẻ tôi tớ mình. Gặp đoạn,
bèn dẫn chúng nó về.
41. Người ta thuật cho Sa-lô-môn rằng
Si-mê-i ở Giê-ru-sa-lem đã đi đến
Gát, rồi trở về.
42. Vua sai đòi Si-mê-i mà
phán rằng: Ta há chẳng có bắt ngươi
chỉ Ðức Giê-hô-va mà thề,
và bảo ngươi trước rằng: Khá biết rằng
ngày nào ngươi ra, và đi đầu
này đầu kia, thì ngươi chắc sẽ chết sao?
Và ngươi có thưa cùng ta rằng: Lời
tôi đã nghe, thậm phải?
43. Vậy, cớ sao ngươi không giữ lời chỉ Ðức
Giê-hô-va mà thề, và mạng
lịnh Ðức Giê-hô-va truyền cho ngươi?
44. Vua lại nói với Si-mê-i rằng: Ngươi biết mọi
sự ác ngươi đã làm cho
Ða-vít, là cha ta, mà
lòng ngươi vẫn còn nhớ lắm. Vậy nên
Ðức Giê-hô-va sẽ khiến sự ác của
ngươi đổ lại tên đầu ngươi.
45. Nhưng vua Sa-lô-môn sẽ được phước,
và ngôi của Ða-vít sẽ được lập
vững bền đến đời đời.
46. Ðoạn, vua truyền lịnh cho Bê-na-gia, con trai
Giê-hô-gia-đa; người bèn đi ra
đánh giết Si-mê-i. Như vậy, ngôi nước
được vững bền trong tay Sa-lô-môn.
1 Các Vua 3
Home
1. Sa-lô-môn kết thân với
Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, cưới
con gái người, rước nàng về thành
Ða-vít, đợi xây cất xong cung điện
riêng mình, đền của Ðức
Giê-hô-va, và tường thành
chung quanh Giê-ru-sa-lem.
2. Dân sự hãy còn dâng của lễ
trên các nơi cao, vì cho đến bấy giờ
chưa có xây cất đền nào cho danh
Ðức Giê-hô-va.
3. Sa-lô-môn kính mến Ðức
Giê-hô-va, và đi theo các
luật lệ của Ða-vít, cha mình; song người
dâng của lễ và xông hương tại
trên nơi cao.
4. Vua đi đến Ga-ba-ôn đặng dâng của lễ tại
đó, vì nơi cao ấy là trọng nhất;
trên bàn thờ đó
Sa-lô-môn dâng một ngàn con
sinh làm của lễ thiêu.
5. Tại Ga-ba-ôn, lúc ban đêm,
Ðức Giê-hô-va hiện đến cùng
Sa-lô-môn trong cơn chiêm bao,
và phán với người rằng: Hãy xin điều
gì ngươi muốn ta ban cho ngươi.
6. Sa-lô-môn thưa rằng: Chúa
đã lấy ơn lớn đãi kẻ tôi tớ
Chúa, là Ða-vít, cha
tôi, theo như người lấy sự trung tín, sự
công bình và lòng ngay trọn
vẹn mà đi trước mặt Ðức
Giê-hô-va; lại Chúa có giữ ơn
lớn ấy cho người, mà ban cho người một con trai ngồi
trên ngai của người, y như đã có
ngày nay.
7. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
ôi! bây giờ Chúa đã khiến kẻ
tôi tớ Chúa trị vì kế
Ða-vít, là cha tôi; nhưng
tôi chỉ là một đứa trẻ nhỏ chẳng biết phải ra
vào làm sao.
8. Kẻ tôi tớ Chúa ở giữa dân của
Chúa chọn, là một dân đông
vô số, không thể đếm được.
9. Vậy, xin ban cho kẻ tôi tớ Chúa tấm
lòng khôn sáng, để đoán
xét dân sự Ngài và
phân biệt điều lành điều dữ; vì ai
có thể đoán xét dân rất lớn
này của Chúa?
10. Lời của Sa-lô-môn đẹp lòng
Chúa, vì người đã cầu xin sự
đó.
11. Ðức Chúa Trời phán với người rằng:
Bởi vì ngươi đã cầu xin điều này,
mà không xin sự sống lâu,
không xin sự giàu có, cũng
không xin mạng của những kẻ thù nghịch ngươi,
nhưng xin sự thông minh để biết xét
đoán,
12. nầy, ta đã làm theo lời cầu xin của ngươi,
ban cho ngươi tấm lòng khôn ngoan thông
sáng đến đỗi trước ngươi chẳng có ai bằng,
và sau ngươi cũng sẽ chẳng có ai ngang.
13. Vả lại, ta cũng đã ban cho ngươi những điều ngươi
không xin, tức là sự giàu có
và sự vinh hiển, đến đỗi trọn đời ngươi, trong
vòng các vua, sẽ chẳng có ai giống như
ngươi.
14. Lại nếu ngươi đi trong đường lối ta, như Ða-vít,
cha ngươi, đã đi, thì ta sẽ khiến cho ngươi được
sống lâu ngày thêm.
15. Bấy giờ, Sa-lô-môn thức dậy, thấy là
một điềm chiêm bao. Người trở về Giê-ru-sa-lem,
đứng trước mặt hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va, dâng của lễ thiêu
cùng của lễ thù ân, và
đãi tiệc cho hết thảy tôi tớ mình.
16. Bấy giờ, có hai con bợm đến cùng vua, đứng
trước mặt vua.
17. Một đứa nói: Chúa tôi ôi!
người đờn bà này và tôi ở
chung nhau một nhà, và tôi đẻ
bên người trong nhà đó.
18. Sau bà ngày, người này cũng đẻ;
chúng tôi ở chung nhau, chẳng một người lạ
nào ở với chúng tôi trong
nhà; chỉ có hai chúng tôi ở
đó mà thôi.
19. Lúc ban đêm, con trai của người nầy chết, bởi
vì người đã nằm đè trên
nó.
20. Ðêm khuya người chổi dậy, và trong khi
con đòi vua ngủ, thì người lấy con trai
tôi khỏi bên tôi, mà để
nó nằm trong lòng mình; rồi đặt con
trai chết của nó nằm trong lòng tôi.
21. Sáng sớm, tôi thức dậy đặng cho con trai
tôi bú, thì thấy nó
đã chết; nhưng sáng rõ, tôi
nhìn nó kỹ càng, thấy chẳng phải
là con trai tôi đã đẻ.
22. Người đờn bà kia trả lời rằng: Không phải vậy;
vì đứa sống là con trai tao, đứa chết
là con trai mầy. Song đờn bà này
nói: Không phải vậy đâu; đứa chết
là con trai mầy, còn đứa sống là con
trai tao. Hai người cãi nhau như vậy trước mặt vua.
23. Vua bèn phán rằng: Người này
nói: Ðứa còn sống là con trai
tao, và đứa chết là con trai mầy. Người kia
nói: Không phải vậy đâu; song con trai
mầy ấy là đứa chết, và con trai tao ấy
là đứa sống.
24. Vua bèn tiếp rằng: Vậy, hãy đem cho ta một
cây gươm. Người ta đem cho vua một cây gươm.
25. Vua lại phán: Hãy chia đứa trẻ sống
làm hai; phân nửa cho người nầy và
phân nửa cho người kia.
26. Nhưng mẹ của đứa trẻ sống, vì gan ruột cảm động thương
yêu con mình, bèn tâu với vua
rằng: Ôi chúa tôi! Xin hãy
cho người kia con trẻ sống, chớ giết nó. Nhưng người kia
nói rằng: Nó sẽ chẳng thuộc về tao, cũng chẳng
thuộc về mầy; hãy chia nó đi.
27. Bấy giờ, vua cất tiếng phán rằng: Hãy cho
người nầy đứa trẻ sống, chớ giết nó ấy là mẹ
nó.
28. Cả Y-sơ-ra-ên đều nghe sự đoán xét
mà vua đã làm, thì bắt
kính sợ vua, vì thấy trong lòng người
có sự khôn ngoan của Ðức Chúa
Trời đặng xử đoán công bình.
1 Các Vua 4
Home
1. Vua Sa-lô-môn trị vì trên
cả Y-sơ-ra-ên.
2. Nầy là các triều thần của người: A-xa-ria, con
trai thầy tế lễ Xa-đốc;
3. Ê-li-ô-rếp và A-hi-gia, con trai của
Si-na, làm ký lục;
Giê-hô-sa-phát, con trai
A-hi-lút, làm thủ bộ;
4. Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa,
làm tổng binh, Xa-đốc và A-bia-tha làm
thầy tế lễ.
5. A-xa-ria, con trai na-than, làm đầu các quan
lại; Xa-bút, con trai Na-than, làm tể tướng
và là bạn của vua;
6. A-hi-sa, làm quan cai cung điện; và
A-đô-ni-ram, con trai Áp-đa, coi việc cống thuế.
7. Sa-lô-môn có mười hai người
làm đầu quan lại cai trị cả Y-sơ-ra-ên, để cung
cấp lương thực cho vua và cho nhà vua: mỗi người
trong một năm phải cung cấp một tháng.
8. Nầy là các tên họ: Con trai Hu-rơ,
coi về trong núi Ép-ra-im;
9. con trai Ðê-kem coi về Ma-kát,
Sa-an-bim, Bết-Sê-mết, và
Ê-lôn của Bết-Ha-na;
10. con trai Hê-sết, coi về A-ru-bốt người coi luôn
Sô-cô và cả xứ Hê-phe.
11. Con trai A-bi-na-đáp coi cả đồng cao
Ðô-rơ; Ta-phát, con gái của
Sa-lô-môn, là vợ người.
12. Ba-a-na, con trai A-hi-lút, coi Tha-a-nác,
Mê-ghi-đô, và cả xứ Bết-Sê-an,
ở gần Xạt-han dưới Gít-ê-ên, từ
Bết-Sê-an cho đến
A-bên-Mê-hô-la và cho đến khỏi
bên kia Giốc-mê-am.
13. Con trai Ghê-be ở tại Ra-mốt của Ga-la-át;
người coi thôn Giai-rơ, Giai-rơ là con trai của
Ma-na-se; người cũng cai trị miền Ạt-gốp, trong Ba-san, sáu
mươi thành lớn có tường thành
và then cửa đồng.
14. A-hi-na-đáp, con trai Y-đô, ở tại Ma-ha-na-im;
15. A-hi-mát, trong địa phận Nép-ta-li; người
cũng cưới một con gái của Sa-lô-môn
làm vợ, tên là
Bách-mát.
16. Ba-a-na, con trai Hu-sai, ở trong xứ A-se và A-lốt;
17. Giê-hô-sa-phát, con trai
Pha-ru-ác coi về Y-sa-ca;
18. Si-mê-i, con trai Ê-la, coi về
Bên-gia-min;
19. Ghê-be, con trai U-ri, coi về xứ Ga-la-át,
thuở xưa vốn là xứ của Si-hôn, vua dân
A-mô-rít và của Óc, vua
Ba-san. Chỉ có một mình người làm đầu
quan lại coi về cả miền này.
20. Dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên
đông như cát trên bờ biển, ăn uống
và vui chơi.
21. Sa-lô-môn cai trị trên các
nước, từ sông cái cho đến xứ Phi-li-tin, cho đến
ranh Ê-díp-tô. Các nước ấy
đều tiến cống và phục Sa-lô-môn trọn đời
người.
22. Lương thực của nhà Sa-lô-môn cần
dùng trong mỗi ngày là: ba mươi
cô-rơ bột miến lọc, và sáu mươi
cô-rơ bột miến thường,
23. mười con bò mập, hai mươi con bò nơi đồng cỏ,
và một trăm con chiên, không kể nai đực,
hoàng dương, cá tong, và vịt
gà nuôi mập.
24. Vả lại, Sa-lô-môn cai trị trên
các xứ ở bên này sông,
trên các vua của mấy xứ đó, từ
Típ-sắc cho đến Ga-xa và người hòa hảo
với các dân ở bốn phía.
25. Trọn đời vua Sa-lô-môn trị vì,
dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên ăn ở
yên ổn vô sự từ Ðan cho đến
Bê-e-Sê-ba, ai nấy đều ở dưới cây nho
và cây vả mình.
26. Sa-lô-môn có bốn vạn tàu
để ngựa gác xe, và một vạn hai ngàn
lính kỵ.
27. Các người làm đầu quan lại, mỗi người một
tháng, lo sắm sửa đồ cần dùng cho vua
Sa-lô-môn và cho hết thảy những người
được nhận tiếp nơi bàn vua, chẳng thiếu chi hết.
28. Họ theo phiên mình, mỗi người sắm sửa đem đến
nơi vua ở, lúa mạch và rơm cho ngựa
dùng để kéo và để cỡi.
29. Ðức Chúa Trời ban cho
Sa-lô-môn sự khôn ngoan, sự
thông sáng rất cao, cùng
lòng rộng rãi như cát trên
bờ biển.
30. Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn trổi hơn
sự khôn ngoan của mọi người phương đông,
và sự khôn ngoan của người
Ê-díp-tô.
31. Người khôn ngoan hơn mọi người, khôn ngoan hơn
Ê-than, người Ếch-ra-hít, hơn Hê-man,
Canh-côn, và Ðạt-đa, là
các con trai Ma-hôn; danh tiếng người đồn ra trong
các dân tộc chung quanh.
32. Người nói ba ngàn câu
châm ngôn, và làm một
ngàn năm, bài thơ.
33. Người luận về cây cối, từ cây bá
hương của Li-ban cho đến chùm kinh giới mọc ra nơi
vách; người cũng có luận về loài vật,
chim, loài công trùng, và
cá.
34. Có lẽ từ các dân tộc đến nghe sự
khôn ngoan của Sa-lô-môn, và
các vua ở thế gian mà đã nghe
nói về sự khôn ngoan của người, đều sai sứ đến.
1 Các Vua 5
Home
1. Hi-ram, vua Ty-rơ, hay Sa-lô-môn đã
được xức dầu làm vua đặng kế vị cha người, bèn
sai tôi tớ mình đến cùng người;
vì Hi-ram vẫn yêu mến Ða-vít
luôn.
2. Sa-lô-môn sai sứ nói với Hi-ram rằng:
3. Vua biết rằng Ða-vít, thân phụ
tôi, không cất được một cái đền cho danh
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời người,
vì cớ chinh chiến thù nghịch vây tứ
phía người, cho đến ngày Ðức
Giê-hô-va đã khiến chúng
nó phục dưới chơn người.
4. Nhưng bây giờ, Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời tôi đã ban cho tôi
bằng yên tứ phía, chẳng còn cừu địch,
chẳng còn tai họa.
5. Vậy, tôi tính cất một cái đền cho
danh Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
tôi, theo như Ðức Giê-hô-va
đã phán cùng
Ða-vít, cha tôi, mà rằng: Con
trai ngươi, mà ta sẽ khiến ngồi trên ngai ngươi kế
vị ngươi, sẽ cất một cái đền cho danh ta.
6. Vậy bây giờ, xin vua hãy truyền cho đầy tớ của
vua đốn cho tôi cây bá hương
trên núi Li-ban; tôi cũng sẽ truyền cho
các đầy tớ tôi giúp đỡ các
đầy tớ vua, và tôi sẽ phát cho vua
công giá của họ, tùy theo vua sẽ định
vì vua biết rằng chẳng ai trong chúng ta thạo đốn
gỗ như dân Si-đôn.
7. Khi Hi-ram nghe lời của Sa-lô-môn,
thì mừng lắm, mà rằng: Ngày nay
đáng khen ngợi thay Ðức
Giê-hô-va, vì đã ban cho
Ða-vít một con trai khôn ngoan, để trị
vì dân sự lớn này!
8. Hi-ram bèn sai sứ đáp lời cho
Sa-lô-môn rằng: Tôi đã nghe
được lời vua sai nói với tôi; mọi điều vua ước ao
về gỗ bá hương và gỗ tòng,
thì tôi sẽ làm hết.
9. Các đầy tớ tôi sẽ kéo gỗ ấy từ
Li-ban đến biển, đóng bè thả biển cho đến nơi vua
sẽ chỉ cho. Ở đó tôi sẽ sả nó ra,
và vua sẽ nhận lấy đem đi. Còn vua, sẽ
làm cho thỏa ý tôi mà cấp
lương thực cho nhà tôi.
10. Vậy, Hi-ram cấp cho Sa-lô-môn gỗ bá
hương và gỗ tòng, bao nhiêu
tùy người muốn.
11. Còn Sa-lô-môn cấp cho Hi-ram hai vạn
cô-rơ lúa mạch, dùng làm
lương thực cho nhà người, và hai mươi
cô-rơ dầu rất trong. Ðó là số
Sa-lô-môn cấp cho Hi-ram mỗi năm.
12. Như vậy, Ðức Giê-hô-va ban sự
khôn ngoan cho Sa-lô-môn y như
Ngài đã hứa với người. Hi-ram và
Sa-lô-môn hòa nhau và lập
giao ước với nhau.
13. Vua Sa-lô-môn chiêu mộ trong cả
Y-sơ-ra-ên những người làm xâu, số
là ba vạn người,
14. sai họ đi đến Li-ban, thay phiên mỗi tháng
mười ngàn người họ ở một tháng tại Li-ban, thay
phiên mỗi tháng mười ngàn người họ ở
một tháng tại Li-ban và hai tháng nơi
nhà mình; A-đô-ni-gia quản xuất người
làm xâu.
15. Sa-lô-môn còn có bảy vạn
người khiêng gánh, và tám
vạn người đẽo đá trong
16. không kể những đốc công, số là ba
ngàn ba trăm người, mà
Sa-lô-môn đã đặt coi sóc
công việc và sai khiến dân
làm việc.
17. Vua truyền họ lấy đá lớn, đá quí
giá mà đẽo đi, đặng dùng
làm nền của đền thờ.
18. Các thợ của Sa-lô-môn và
của Hi-ram với người Ghi-bê-lít, đẽo đá
và dọn cây cùng đá đặng cất
đền.
1 Các Vua 6
Home
1. Xảy ra năm bốn trăm tám mươi, sau khi dân
Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, là năm thứ tư của
Sa-lô-môn trị vì trên
Y-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, nghĩa
là tháng thứ hai, thì người cất đền
của Ðức Giê-hô-va.
2. Cái đền mà vua Sa-lô-môn
cất cho Ðức Giê-hô-va, bề dài
có sáu mươi thước, bề ngang hai mươi thước.
3. Cái hiên cửa ở trước đền bề dài hai
mươi thước, bằng bề ngang của đền, và rộng mười thước ở
trước đền.
4. Vua cũng làm cho đến những cửa sổ có song,
khuôn cây.
5. Người cất những từng lầu, dựa vào vách từ
phía đền, tức là dựa vào
vách chung quanh đền thờ và nơi thánh;
cũng làm những phòng chung quanh đền.
6. Từng dưới rộng năm thước, từng giữa rộng sáu thước;
và từng trên rộng bảy thước, vì vua cất
sụt lui các vách vòng ngoài
nhà, đặng tránh sườn xà
hoành đâm vào vách đền.
7. Khi cất đền, người ta dùng đá đã
đẽo sẵn nơi hầm, nên không nghe tiếng
búa, rìu hay là khí dụng
khác bằng sắt tại nơi đền đương khi cất.
8. Cửa vào các phòng từng thứ
nhì, ở bên phía hữu của đền; người ta
đi lên từng giữa bởi một cái thang khu ốc; rồi từ
từng giữa lên từng thứ ba.
9. Khi cất đền xong; thì Sa-lô-môn lợp
nó bằng đòn tay và ván gỗ
bá hương,
10. cũng cất những từng lầu năm thước dựa vào tứ
phía đền, dính với nhà bởi
cây đà bá hương.
11. Bấy giờ có lời Ðức Giê-hô-va
phán với Sa-lô-môn rằng:
12. về nhà này mà ngươi đương
xây cất, nếu ngươi vâng theo các luật lệ
ta, noi theo các mạng lịnh ta, giữ và đi trong
hết thảy các điều răn của ta, thì ta sẽ
vì ngươi làm hoàn thành lời
ta đã hứa cùng Ða-vít, cha
ngươi.
13. Ta sẽ ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên, chẳng hề bỏ
Y-sơ-ra-ên, là dân ta.
14. Ấy vậy, Sa-lô-môn xây đền
và làm cho hoàn thành.
15. Người lấy ván bá hương đóng
vách phía trong đền, từ đất cho đến trần,
và lót nền đất bằng ván cây
tùng.
16. Từ cuối phía trong đền hai mươi thước, người
đóng ngăn bằng ván bá hương, từ nền
cho đến trần, đặng làm nơi chí thánh.
17. Còn bốn mươi thước kia, làm tiền đường của
đền thờ.
18. Ở phía trong đền, có gỗ bà hương
chạm hình dưa ác và hoa mới nở;
toàn là gỗ bá hương, không
thấy đá.
19. Còn nơi chí thánh,
Sa-lô-môn đặt ở phía trong đền, tận cuối
trong, đặng để hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va tại đó.
20. Phía trong nơi chí thánh
có hai mươi thước bề dài, hai mươi thước bề
ngang, bọc nó bằng vàng ròng,
và cũng bọc vàng bàn thờ bằng
cây bá hương nữa.
21. Sa-lô-môn bọc vàng ròng
tuồng trong của nhà, và lấy xiềng vàng
giăng trước nơi chí thánh và bọc bằng
vàng.
22. Người cũng bọc vàng toàn cả nhà;
người cũng lót vàng khắp mặt bàn thờ ở
đằng trước nơi chí thánh.
23. Người làm cho nơi chí thánh hai
chê-ru-bin bằng gỗ ô-li-ve, bề cao mười thước.
24. Cánh này và cánh kia
của mỗi chê-ru-bin có năm thước, thế là
mười thước từ chót cánh này tới
chót cánh kia.
25. Chê-ru-bin thứ nhì cũng có mười
thước. Hai chê-ru-bin đều đồng một cỡ và một
dáng với nhau.
26. Chê-ru-bin này có mười thước bề
cao, và chê-ru-bin kia cũng vậy.
27. Sa-lô-môn để hai chê-ru-bin tại nơi
chí thánh, ở trong cùng của đền
cánh của chê-ru-bin thứ nhất đụng nhau tại giữa
nơi chí thánh.
28. Người cũng bọc vàng cho hai chê-ru-bin.
29. Bốn phía vách đền, phía trong
và phía ngoài,
Sa-lô-môn khiến chạm nổi lên
hình chê-ru-bin, cây chà
là và hoa nở;
30. cũng phủ đất nhà bằng vàng, bề trong
và bề ngoài.
31. Tại chỗ vào nơi chí thánh, người
làm một cái cửa hai cánh bằng gỗ
ô-li-ve; thanh và cột choán một phần
năm của mặt tiền.
32. Người khiến chạm nổi lên trên hai
cánh cửa bằng gỗ ô-li-ve ấy những hình
chê-ru-bin, cây chà là
và hoa nở; rồi bọc bằng vàng, tráng
vàng ra trên hình chê-ru-bin
và hình cây chà
là.
33. Về cửa đền thờ, người cũng làm cột bằng gỗ
ô-li-ve, choán hết một phần tư của vách,
34. lại làm hai cánh cửa bằng gỗ tòng;
mỗi cánh có hai miếng trá
khép lại được.
35. Sa-lô-môn khiến chạm nổi lên những
hình chê-ru-bin, cây chà
là và hoa nở; rồi bọc bằng vàng,
tráng vàng ra trên các vật
chạm trổ.
36. Người xây tường hành lang phía
trong bằng ba hàng đá chạm, và một
hàng cây xà gỗ bá hương.
37. Năm thứ tư, năm tháng Xíp, cái nền
của đền thờ Ðức Giê-hô-va đã đặt;
38. năm thứ mười một, nhằm tháng Bu-lơ, nghĩa là
tháng tám, đền thờ hoàn
thành trong mọi phần nó, theo kiểu đã
ra. Sa-lô-môn cất đền hết bảy năm.
1 Các Vua 7
Home
1. Sa-lô-môn cũng cất cung điện mình,
xong mọi việc trong mười ba năm.
2. Người lại cất cái cung rừng Li-ban, bề dài một
trăm thước, bề ngang năm mươi thước và bề cao ba mươi thước,
đặt trên bốn hàng cột bằng gỗ bá hương
có những xà ngang bằng gỗ bá hương để
trên những cột.
3. Trần của các phòng bởi cột chống đỡ, số
là bốn mươi lăm cây, mười lăm cây mỗi
dãy, đều đóng bằng ván gỗ
bá hương.
4. Có ba dãy phòng, cửa sổ đối ngang
nhau.
5. Hết thảy cửa và cột đều vuông, và
các cửa sổ của ba dãy phòng đều đối
mặt nhau.
6. Người cất hiên cửa có trụ, bề dài
năm mươi thước: trước hiên này có một
hiên khác cũng có trụ và bực.
7. Sa-lô-môn cũng xây hiên để
ngai, là nơi người xét đoán,
và gọi là hiên xét
đoán; rồi dùng ván gỗ bá
hương lót từ nền đến trần.
8. Cung của Sa-lô-môn ở trong sân thứ
nhì phía sau cửa hiên, cũng
xây một cách giống như vậy. Cũng xây cho
con gái Pha-ra-ôn mà
Sa-lô-môn đã cưới, một cái
cung như kiểu của hiên này.
9. Các cung điện này đều xây bằng
đá quí, đục theo thước tấc, cưa xẻ, hoặc bề trong
hay bề ngoài, từ nền đến cổ bồng cây cột,
và cho đến vách cửa sân lớn đều cũng
vậy.
10. Cái nền thì bằng đá quí
và lớn, có hòn thì mười
thước, hòn thì tám thước.
11. Trên các nền này, lại
còn những đá quí đục theo thước tấc
và gỗ bá hương.
12. Vách hành lang lớn, tứ vi có ba
hàng đá chạm và một hàng
cây đà bằng gỗ bá hương, y như
hàng lang phía trong của đền Ðức
Giê-hô-va, và y như cửa hiên
đền.
13. Vua Sa-lô-môn sai người đòi Hi-ram ở
Ty-rơ đến.
14. Người là con trai của một đờn bà
góa về chi phái Nép-ta-li,
còn cha là người Ty-rơ, làm thợ đồng.
Hi-ram đầy sự khôn ngoan, thông hiểu, có
tài làm các thứ công việc
bằng đồng. Người đến vua Sa-lô-môn, và
làm mọi công việc người.
15. Người làm hai cây trụ bằng đồng, cây
thứ nhất cao mười tám thước, và một sợi
dây mười hai thước đo bề tròn của cây
thứ nhì.
16. Người đúc hai đầu trụ bằng đồng, đặt nó
trên chót trụ, bề cao đầu trụ này
là năm thước.
17. Những mặt võng xe lại và những dây
hoa trèo như chuyền nhỏ trang điểm đầu trụ đặt ở
trên chót trụ; có bảy dây hoa
cho đầu trụ này, và bảy dây hoa cho đầu
trụ kia.
18. Hi-ram vấn chung quanh mặt võng này hai
hàng trái lựu đặng trang sức cho đầu trụ
này, và cũng làm như vậy cho đầu kia.
19. Những đầu trụ ở trên các cây trụ
trong hiên cửa, đều có hoa huệ ở chót,
cao bốn thước.
20. Những đầu trụ ở trên trụ nẩy ra liền thân
trên nơi hầu bên phía kia mặt
võng: có hai trăm trái lựu sắp hai
hàng vòng chung quanh hai đầu trụ.
21. Hi-ram dựng những cây trụ trong hiên cửa đền
thờ. Người dựng cây trụ bên hữu, và đặt
tên là Gia-kin; đoạn dựng cây trụ
bên tả, đặt tên là
Bô-ách.
22. Trên chót trụ, thì chế
hình hoa huệ. Công việc làm những
cây trụ đều hoàn thành là
như vậy.
23. Người cũng làm biển đúc, hình
tròn, cao năm thước; từ mép này đến
mép kia có mười thước, một sợi dây ba
mươi thước đo vòng tròn của nó.
24. Dưới mép biển có hai hàng dưa
ác vây chung quanh, cứ mỗi thước mười
trái, đúc liền một với biển.
25. Biển để kê trên mười hai con bò, ba
con hướng về bắc, ba con hướng về tây, ba con hướng về nam,
và ba con hướng về đông. Biển thì đặt
trên lưng các con bò ấy, và
phía sau thân con bò đều xây
vào trong.
26. Biển đầy một gang tay và mép làm
giống mép chén và cách như
bông huệ; nó đựng hai ngàn
bát.
27. Người cũng làm mười viên táng đồng,
mỗi viên bốn thước bề dài, bốn thước bề ngang,
và ba thước bề cao.
28. Các viên táng làm
cách này: Có những miếng
trám đóng vào khuông.
29. Trên các trám đóng
vào khuông này có
hình sư tử, bò, và
chê-ru-bin; nơi triêng trên, cũng
có như vậy. Còn nơi triêng dưới sư tử
và bò, có những dây hoa
thòng.
30. Mỗi viên táng có bốn
bánh xe đồng với cốt đồng, và nơi bốn
góc có những cái đế đúc để
chịu cái chậu và những dây hoa ở
bên mỗi cái đế.
31. Giữa viên táng trên đầu trụ
có một miệng tròn sâu một thước,
và rộng một thước rưỡi. Cái miệng này
cũng có hình chạm trổ. Còn
các miếng trám thì vuông,
chớ không phải tròn.
32. Bốn bánh xe đều ở dưới những miếng trám;
và xác cốt bánh xe thì
đóng vào viên táng. Mỗi
bánh xe cao một thước rưỡi.
33. Bánh làm như bánh của
cái cộ: Trục, vành, căm, và tum
nó, đều đúc cả.
34. Có bốn con bọ ở nơi bốn góc của mỗi
viên táng và liền với táng.
35. Ðầu viên táng hình
tròn nhọn, và cao nửa thước; nó cũng
có biên và trám.
36. Trên mặt biên và trám của
đế, tại nơi trống của mỗi biên và trám
chừa ra, Hi-ram chạm những chê-ru-bin, sư tử, cây
chà là, và dây hoa chung
quanh.
37. Người theo kiểu này mà làm mười
viên táng, đúc một thứ, một cỡ,
và một dáng với nhau.
38. Người cũng làm mười cái thùng bằng
đồng, mỗi cái chứa bốn mươi bát. Mỗi
thùng có bốn thước và để
trên một táng của mười cái
thùng bằng đồng, mỗi cái chứa bốn mươi
bát. Mỗi thùng có bốn thước
và để trên một táng của mười
cái táng.
39. Người sắp đặt táng như vầy: băm cái về
bên hữu đền, và năm cái về
bên tả. Còn biển, người để nơi bên hữu
đền, về hướng nam đông.
40. Người cũng làm chảo, vá, và ảng.
Vậy, Hi-ram làm xong mọi công việc cho
Sa-lô-môn trong đền của Ðức
Giê-hô-va:
41. tức là hai cây trụ, hai đầu trụ
tròn trên đỉnh trụ, hai tấm mặt võng
bao hai đầu trụ tròn, luôn với đỉnh trụ;
42. bốn trăm trái lựu sắp hai hàng
vòng chung quanh mặt võng bao hai đầu trụ
tròn nơi đỉnh trụ;
43. mười viên táng và mười
cái bồn trên táng;
44. biển đúc nguyên miếng một và mười
hai con bò để dưới biển;
45. chảo, vá, và ảng. Các
khí dụng này mà Hi-ram làm
cho Sa-lô-môn trong đền Ðức
Giê-hô-va, đều bằng đồng đánh
bóng.
46. Vua biểu đúc các vật đó tại đống
bằng Giô-đanh, trong một nơi đất sét, giữa Su-cốt,
và Sát-than.
47. Sa-lô-môn không cân một
món nào trong các khí dụng
ấy, bởi vì nhiều quá; người không
xét sự nặng của đồng.
48. Sa-lô-môn lại làm những
khí dụng cho đền Ðức Giê-hô-va:
là bàn thờ vàng, những bàn
bằng vàng, để bánh trần thiết;
49. chơn đèn bằng vàng ròng đặt trước
nơi chí thánh, năm cái ở bên
hữu và năm cái ở bên tả cùng
hoa, thếp đèn, và cái nỉa bằng
vàng;
50. những chén, dao, muỗng, và đồ đựng tro bằng
vàng ròng; những chốt cửa hoặc dùng
cho cửa của nhà phía trong, hoặc nơi
chí thánh, hay là dùng cho
cửa của đền thờ, thì đều bằng vàng.
51. Các công việc mà
Sa-lô-môn làm cho nhà
Ðức Giê-hô-va, đều được hoàn
thành là như vậy. Ðoạn,
Sa-lô-môn sai đem các vật mà
Ða-vít, ca người, đã biệt ra
thánh, tức là bạc, vàng,
các thứ khí dụng, và để trong kho
tàng của đền Ðức Giê-hô-va.
1 Các Vua 8
Home
1. Bấy giờ, Sa-lô-môn vời đến mình, ở
tại Giê-ru-sa-lem, các trưởng lão
Y-sơ-ra-ên, hết thảy các quan trưởng của chi
phái, và những trưởng tộc của
Y-sơ-ra-ên, đặng rước hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va từ thành của
Ða-vít, tức là Si-ôn.
2. Trong lúc lễ, nhằm tháng Ê-tha-ninh,
là tháng bảy, hết thảy người nam của
Y-sơ-ra-ên đều nhóm lại cùng vua
Sa-lô-môn.
3. Khi các trưởng lão Y-sơ-ra-ên
đã đến, thì những thầy tế lễ lấy hòm
của Ðức Giê-hô-va,
4. dời đi luôn với Ðền tạm. Những thầy tế lễ
và người Lê-vi khiêng các đồ
đó lên.
5. Vua Sa-lô-môn và cả hội
chúng Y-sơ-ra-ên đã hiệp với người,
và đứng trước hòm, giết bò
và chiên làm của lễ rất nhiều,
không thế đếm được.
6. Những thầy tế lễ đem hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va đến nơi nó, trong nơi
chí thánh, dưới cánh
chê-ru-bin.
7. Vì các chê-ru-bin giương
cánh ra trên nơi để hòm, che
thân trên hòm và
các đòn khiêng.
8. Các đòn khiêng dài, đến
nỗi người ta, từ nơi thánh ở trước nơi chí
thánh, có thể thấy được, nhưng ở ngoài
thì chẳng thấy. Các đòn ấy ở
đó cho đến ngày nay.
9. Trong hòm chỉ có hai bảng đá
mà Môi-se đã để, tại núi
Hô-rếp, khi Ðức Giê-hô-va lập
giao ước với dân Y-sơ-ra-ên, lúc họ ra
khỏi xứ Ê-díp-tô.
10. Xảy ra khi những thầy tế lễ đã ra khỏi nơi
thành, bèn có mây đầy dẫy
nhà của Ðức Giê-hô-va,
11. đến nỗi những thầy tế lễ vì có mây
ấy không thể đứng đó mà hầu việc được,
vì sự vinh quang của Ðức
Giê-hô-va đầy dẫy đền của Ðức
Giê-hô-va.
12. Bấy giờ, Sa-lô-môn nguyện rằng: Ðức
Giê-hô-va có phán rằng
Ngài ngự trong nơi tối tăm mờ mịt.
13. Hỡi Ðức Chúa Trời! tôi đã
cất xong một cái đền dùng làm nơi ngự
của Ngài, tức một nơi Ngài ở đời đời.
14. Ðoạn, vua xây lại, và chúc
phước cho hội chúng Y-sơ-ra-ên. Cả hội
chúng Y-sơ-ra-ên đều đứng.
15. Người nói rằng: Ðáng ngợi khen
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, vì từ miệng Ngài
có phán hứa với Ða-vít, cha
ta, và bởi tay Ngài đã làm
ứng nghiệm lời ấy; Ngài phán rằng:
16. Từ ngày ta đã đem Y-sơ-ra-ên ta ra
khỏi Ê-díp-tô, ta không chọn
thành nào trong các chi
phái Y-sơ-ra-ên đặng cất tại đó một
cái nhà cho danh ta ngự; nhưng ta đã
chọn Ða-vít để người trị vì dân
Y-sơ-ra-ên ta.
17. Vả, Ða-vít, cha ta, có ý
cất một cái đền cho danh Giê-hô-va,
là Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
18. Nhưng Ðức Giê-hô-va có
phán với Ða-vít, cha ta, rằng: Khi ngươi
có ý xây đền cho danh ta,
thì lấy làm thậm phải;
19. song ngươi sẽ chẳng cất đền ấy đâu, bèn
là con trai ngươi, do lòng ngươi sanh ra, sẽ cất
đền cho danh ta.
20. Vậy, Ðức Giê-hô-va đã
làm ứng nghiệm lời Ngài phán;
vì ta kế vị Ða-vít, cha ta, ngồi
trên ngôi Y-sơ-ra-ên, y như Ðức
Giê-hô-va đã hứa, và ta
đã cất đền này cho danh
Giê-hô-va, là Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
21. Tại đó, ta đã dọn một chỗ để hòm;
trong hòm có sự giao ước mà
Ngài đã lập với tổ phụ chúng ta, khi
Ngài đem họ ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
22. Kế đó, Sa-lô-môn đứng trước
bàn thờ của Ðức Giê-hô-va, đối
mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, bèn giơ
tay lên trời, mà rằng:
23. Lạy Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của Y-sơ-ra-ên! hoặc trên trời cao kia, hoặc dưới
đất thấp này, chẳng có một thần nào
giống như Chúa. Chúa giữ sự giao ước
và lòng nhơn từ với kẻ tôi tớ
Chúa, là kẻ nào hết lòng đi
ở trước mặt Chúa.
24. Ðối cùng tôi tớ Chúa,
là Ða-vít, cha tôi,
Chúa có giữ lời Ngài đã hứa
với người. Thật, hễ điều chi miệng Chúa phán,
thì tay Chúa đã làm
hoàn thành, y như chúng tôi
thấy ngày nay.
25. Vậy, hỡi Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của Y-sơ-ra-ên! ngày nay xin làm
trọn lời Chúa đã hứa cùng
tôi tớ Chúa, là
Ða-vít, cha tôi, rằng: Nếu con
cháu ngươi cẩn thận các đường lối
mình, đi ở trước mặt ta, y như ngươi đã đi,
thì trước mặt ta sẽ chẳng hề thiếu một kẻ hậu tự ngươi đặng
ngồi trên ngôi nước Y-sơ-ra-ên
đâu.
26. Hỡi Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! xin
hãy làm cho ứng nghiệm lời Chúa
đã hứa cùng kẻ tôi tớ Chúa,
là Ða-vít, cha tôi.
27. Nhưng quả thật rằng Ðức Chúa Trời ngự
trên đất này chăng? Kìa, trời, dầu đến
đỗi trời của các từng trời chẳng có thể chứa
Ngài được thay, phương chi cái đền này
tôi đã cất!
28. Dầu vậy, hỡi Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời tôi! xin hãy đoái
đến lời cầu nguyện và sự nài xin của kẻ
tôi tớ Chúa. đặng nghe tiếng kêu cầu
và khẩn nguyện mà kẻ tôi tớ
Chúa cầu trước mặt Chúa ngày nay.
29. Nguyện mắt của Chúa ngày và
đêm đoái xem nhà nầy, là chỗ
mà Chúa đã phán rằng: Danh
ta sẽ ngự tại đó, đặng nghe lời cầu nguyện của tôi
tớ Chúa hướng nơi này mà cầu.
30. Phàm điều gì tôi tớ Chúa
và dân Y-sơ-ra-ên của Chúa sẽ
hướng về nơi này mà khẩn cầu, xin Chúa
hãy dủ nghe; phải, ở nơi ngự của Chúa, tại
trên các từng trời, xin Chúa dủ nghe,
nhậm lời, và tha thứ cho.
31. Khi ai phạm tội cùng kẻ lân cận
mình, và người ta bắt đi đó phải thề,
nếu người đến thề trước bàn thờ của Chúa, tại
trong đền này,
32. thì xin Chúa ở trên trời
hãy nghe, đối đãi và xét
đoán tôi tớ Chúa, mà
lên án cho kẻ dữ, khiến đường lối nó đổ
lại trên đầu nó, và xưng công
bình cho người công bình, và
thưởng ngươi tùy theo sự công bình của
người.
33. Khi dân Y-sơ-ra-ên của Chúa,
vì cớ phạm tội với Chúa, bị kẻ tù
nghịch đánh được; nếu chúng nó trở lại
với Chúa, nhận biết danh Ngài và cầu
nguyện nài xin với Chúa trong đền này,
34. thì xin Chúa ở trên trời
hãy dủ nghe, tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên
của Chúa, và khiến họ trở về đất mà
Chúa đã ban cho tổ phụ họ.
35. Nếu các từng trời bị đóng chặt,
không có mưa, bởi vì chúng
nó đã phạm tội với Chúa, nếu
chúng nó hướng về nơi này
mà cầu nguyện, nhận biết danh Chúa, xây
bỏ tội lỗi mình, sau khi Chúa đã
đoán phạt họ,
36. thì xin Chúa ở trên trời
hãy dủ nghe, tha tội cho các tôi tớ
Chúa, và cho dân Y-sơ-ra-ên
của Ngài. Xin hãy chỉ cho họ con đường thiện
mà họ phải đi, và giáng mưa
trên đất của Chúa đã ban cho
dân Ngài làm sản nghiệp.
37. Khi trong xứ xảy có đói kém,
ôn dịch, hạn hán, ten sét,
cào cào, châu chấu, hoặc có
quân thù nghịch vây các
thành của địa phận họ, hay là có tai
vạ chi, tật bịnh gì;
38. nếu có một người hoặc cả dân
Y-sơ-ra-ên của Chúa, ai nấy đã nhận
biết tai họa của lòng mình, mà giơ tay
ra hướng về đền này, và cầu nguyện, khẩn xin
vô luận điều gì,
39. thì xin Chúa ở trên trời,
là nơi Chúa ngự, dủ nghe, và tha thứ
cho, đối đãi, báo ứng mỗi người tùy
theo công việc họ, vì Chúa
thông biết lòng của họ (thật chỉ một
mình Chúa biết lòng của con
cái loài người),
40. để khiến họ kính sợ Chúa trọn đời họ sống ở
trên đất mà Chúa đã ban cho
tổ phụ chúng tôi.
41. Vả lại, về khách lạ, là người chẳng thuộc về
dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, nhưng
vì danh Ngài từ xứ xa đến
42. (vì người ngoại bang sẽ nghe nói về danh lớn
của Chúa, về cánh tay quyền năng giơ thẳng ra của
Chúa), khi người đến cầu nguyện trong nhà
này,
43. xin Chúa ở trên trời, là nơi
Chúa ngự, dủ nghe và làm theo mọi điều
người khách lạ sẽ cầu xin Chúa để cho
muôn dân của thế gian nhận biết danh
Chúa, kính sợ Chúa, y như
dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, và
cho biết rằng danh Chúa xưng ra trên đền
này mà tôi đã xây
cất.
44. Khi dân của Chúa đi chiến trận cùng
quân thù nghịch mình, theo con đường
Chúa đã sai đi, nếu họ cầu khẩn Ðức
Giê-hô-va xây mặt hướng về
thành Chúa đã chọn, và về
đền tôi đã cất cho danh Ngài,
45. thì xin Chúa ở trên trời,
hãy dủ nghe các lời cầu nguyện nài xin
của chúng, và binh vực quyền lợi cho họ.
46. Khi chúng nó phạm tội cùng
Chúa (vì không có người
nào chẳng phạm tội) và Chúa nổi giận,
phó chúng nó cho kẻ thù
nghịch; khi họ bị bắt làm phu tù đến xứ của kẻ
thù nghịch, hoặc xa hoặc gần,
47. ví bằng trong xứ mà họ bị tù, họ
nghĩ lại, ăn năn, và nài xin Chúa
mà rằng: "Chúng tôi có phạm
tội, làm điều gian ác, và cư xử
cách dữ tợn;"
48. nhược bằng tại trong xứ mà thù nghịch
đã dẫn họ đến làm phu tù, họ hết
lòng hết ý trở lại cùng
Chúa, cầu nguyện cùng Ngài, mặt hướng
về xứ mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ, về
thành mà Chúa đã chọn,
và về đền mà tôi đã
xây cất cho danh Chúa,
49. thì xin Chúa ở trên trời, tức nơi
Chúa ngự, hãy dủ nghe lời cầu nguyện
nài xin của họ, và binh vực quyền nài
xin của họ, và binh vực quyền lợi cho họ;
50. tha cho dân Chúa tội lỗi và
các sự trái mạng mà họ đã
phạm cùng Ngài; xin Chúa khiến những
kẻ bắt họ làm phu tù có
lòng thương xót họ,
51. vì dân Y-sơ-ra-ên vốn là
dân sự Chúa, cơ nghiệp của Chúa,
mà Chúa đã đem ra khỏi
Ê-díp-tô, tức khỏi giữa lò
sắt.
52. Nguyện Chúa đoái xem kẻ tôi tớ
Chúa và dân Y-sơ-ra-ên của
Ngài, dủ nghe lời cầu nguyện nài xin của họ, mỗi
lần họ kêu cầu cùng Chúa.
53. Hỡi Chúa Giê-hô-va ôi!
Chúa đã phân cách họ khỏi
các dân tộc trên đất, để họ
làm cơ nghiệp Chúa, y như Chúa
đã phán bởi miệng Môi-se, là
tôi tớ Chúa, khi Chúa đem tổ phụ
chúng tôi ra khỏi
Ê-díp-tô.
54. Khi Sa-lô-môn đã cầu với Ðức
Giê-hô-va những lời khẩn nguyện nài xin
này xong, bèn đứng dậy trước bàn thờ
Ðức Giê-hô-va, khỏi nơi người đã
quì, tay giơ lên trời.
55. Người đứng chúc phước lớn tiếng cho cả hội
chúng Y-sơ-ra-ên, mà rằng:
56. Ðáng khen ngợi Ðức
Giê-hô-va, là Ðấng đã
ban sự bình yên cho dân
Y-sơ-ra-ên của Ngài, tùy theo
các lời Ngài đã hứa! Về các
lời tốt lành mà Ngài đã cậy
miệng Môi-se, kẻ tôi tớ Ngài,
phán ra, chẳng có một lời nào
không ứng nghiệm.
57. Nguyện Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời chúng tôi ở với chúng
tôi, như Ngài đã ở cùng tổ
phụ chúng tôi, chớ lìa, chớ bỏ
chúng tôi;
58. nguyện Ngài giục lòng chúng
tôi hướng về Ngài, hầu chúng
tôi đi trong mọi đường lối Ngài, giữ những điều
răn, luật pháp, và mạng lịnh của Ngài
đã truyền cho tổ phụ chúng tôi.
59. Ước gì Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời chúng ta ngày đêm
dủ lòng nhớ đến các lời ta đã
nài xin trước mặt Ngài, hầu cho tùy
việc cần ngày nào theo ngày nấy,
Ðức Giê-hô-va binh vực quyền lợi của
tôi tớ Ngài và của dân
Y-sơ-ra-ên;
60. hầu cho muôn dân của thế gian biết rằng
Giê-hô-va là Ðức Chúa
Trời, chớ chẳng có ai khác.
61. Vậy, các ngươi khá lấy lòng trọn
lành đối với Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời chúng ta, để đi theo luật lệ
Ngài và giữ gìn điều răn của
Ngài, y như các ngươi đã
làm ngày nay.
62. Vua và cả Y-sơ-ra-ên đều dâng
các của lễ tại trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
63. Sa-lô-môn dâng của lễ thù
ân cho Ðức Giê-hô-va, hai
muôn hai ngàn con bò đực và
mười hai muôn con chiên. Vua và cả
dân Y-sơ-ra-ên đều dự lễ khánh
thành đền của Ðức Giê-hô-va
là như vậy.
64. Trong ngày đó, vua biệt riêng ra
nơi chính giữa của hành lang ở trước đền thờ của
Ðức Giê-hô-va, vì tại
đó người dâng các của lễ
thiêu, của lễ chay, và mỡ về của lễ thù
ân; bởi vì bàn thờ bằng đồng để trước
đền của Ðức Giê-hô-va là nhỏ
quá, đựng các của lễ thù ân
không đặng.
65. Trong lúc đó, Sa-lô-môn
và cả dân Y-sơ-ra-ên, một hội
chúng rất lớn, ở từ miền Ha-mát cho đến khe
Ê-díp-tô, hiệp tại trước mặt
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng ta, mà giữ lễ trong bảy ngày,
lại bảy ngày khác nữa, cộng mười bốn
ngày.
66. Ngày thứ tám, vua cho dân sự về;
dân chúc phước cho vua, đi trở về trại
mình, lấy làm mừng rỡ vui lòng về mọi
sự tốt lành mà Ðức
Giê-hô-va đã làm cho
Ða-vít, kẻ tôi tớ Ngài,
và cho Y-sơ-ra-ên, dân sự của
Ngài.
1 Các Vua 9
Home
1. Khi Sa-lô-môn đã cất xong
nhà của Ðức Giê-hô-va, cung điện
và mọi sự người muốn cất,
2. thì Ðức Giê-hô-va hiện đến
cùng người lần thứ nhì, y như Ngài
đã hiện ra cùng người tại Ga-ba-ôn.
3. Ðức Giê-hô-va phán với người
rằng: Ta đã nhậm lời cầu nguyện nài xin của ngươi
thưa trước mặt ta; ta đã biệt riêng ra
thánh cái đền này mà ngươi
đã cất, để cho danh ta ngự tại đó đời đời; mắt
và lòng ta sẽ thường ở đó
mãi mãi.
4. Còn ngươi, nếu ngươi đi trước mặt ta, như
Ða-vít, cha ngươi, đã đi, lấy
lòng trọn lành và ngay thẳng
mà làm theo các điều ta đã
phán dặn ngươi, giữ những luật lệ và mạng lịnh
của ta,
5. bấy giờ ta sẽ làm cho ngôi nước ngươi
kiên cố đến đời đời trên Y-sơ-ra-ên, y
như ta đã hứa cùng Ða-vít, cha
ngươi, mà rằng: Ngươi sẽ chẳng hề thiếu kẻ hậu tự ngươi ngồi
trên ngôi Y-sơ-ra-ên.
6. Nhưng nếu ngươi và con cháu các
ngươi xây bỏ ta, không giữ các điều răn
và luật lệ ta đã truyền cho các ngươi,
đi hầu việc những thần khác và thờ lạy
chúng nó,
7. thì ta sẽ truất Y-sơ-ra-ên khỏi đất ta
đã ban cho chúng nó, trừ bỏ khỏi trước
mắt ta cái đền này mà ta đã
vì danh ta biệt riêng ra thánh,
và Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên lời tục ngữ
và trò cười giữa muôn dân.
8. Còn đền này, dầu cao dường nào, ai
đi ngang qua gần nó cũng lấy làm lạ
lùng, chê bai, mà rằng: Cớ sao
Ðức Giê-hô-va có làm
cho xứ này và đền này như vậy?
9. Người ta sẽ đáp rằng: Ấy vì chúng
nó đã lìa bỏ
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng nó, là Ðấng đem tổ phụ
họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô; họ theo
các thần khác, thờ lạy các thần ấy,
và hầu việc chúng nó; vì cớ
đó, Ðức Giê-hô-va đã
giáng trên họ các tai họa
này.
10. Xảy ra vừa chẵn hai mươi năm khi Sa-lô-môn
đã xây xong hai cái nhà, tức
là đền của Ðức Giê-hô-va
và cung điện vua,
11. thì bấy giờ, vua Sa-lô-môn ban cho
Hi-ram, vua Ty-rơ, hai mươi thành ở xứ Ga-li-lê;
vì Hi-ram có cấp cho
Sa-lô-môn gỗ bá hương, gỗ
tùng, và vàng, tùy người
muốn bao nhiêu.
12. Hi-ram từ Ty-rơ đến đặng xem các thành
mà Sa-lô-môn đã ban cho
mình, nhưng các thành đó
chẳng đẹp lòng người,
13. và người nói rằng: Hỡi anh, những
thành mà anh cho em đó là
cái gì? Rồi người gọi các
thành ấy là xứ Ca-bun, hãy
còn gọi như vậy đến ngày nay.
14. Vả, Hi-ram đã gởi cho vua Sa-lô-môn
một trăm hai mươi ta lâng vàng.
15. Nầy, là cớ sao Sa-lô-môn
đã bắt xâu đặng xây cất đền Ðức
Giê-hô-va và cung điện mình,
luôn với Mi-lô, vách thành
Giê-ru-sa-lem, Hát-so,
Mê-ghi-đô, và Ghê-xe.
16. Pha-ra-ôn, vua của
Ê-díp-tô, đã đi lên
chiếm lấy Ghê-xe, thiêu đốt nó,
và giết những dân Ca-na-an ở trong
thành, rồi ban thành ấy làm của vu qui
cho con gái mình, là vợ
Sa-lô-môn.
17. Vậy, Sa-lô-môn xây thành
Ghê-xe, Bết-Hô-rôn dưới,
18. Ba-lát, và Tát-mốt, tại trong đất
rừng của xứ;
19. lại xây các thành có
những kho trữ lương phạn của Sa-lô-môn, những
thành để xe cộ, những thành cho quân
kị, và mọi điều gì đẹp lòng
Sa-lô-môn xây cất tại
Giê-ru-sa-lem, trong Li-ban và trong cả xứ phục
dưới quyền người.
20. Hết thảy những người còn sống lại trong dân
A-mô-rít, dân
Hê-tít, dân
Phê-rê-sít, dân
Hê-vít, dân
Giê-bu-sít, không thuộc về dân
Y-sơ-ra-ên,
21. tức là các con cháu của
chúng nó còn lại ở trong xứ
mà dân Y-sơ-ra-ên không đủ sức
diệt hết được, thì Sa-lô-môn bắt phụ
làm xâu dịch cho đến ngày nay.
22. Nhưng Sa-lô-môn không bắt
dân Y-sơ-ra-ên làm tôi mọi;
song họ làm binh chiến, tôi tớ, quan trưởng, quan
tướng, quan cai xe, và lính kỵ của người.
23. Còn về các quan trưởng đặt lên coi
sóc các công việc của
Sa-lô-môn, số là năm trăm năm mươi
người; họ cai trị dân làm công việc.
24. Con gái Pha-ra-ôn ở thành
Ða-vít đi lên cung mà
Sa-lô-môn đã xây cất cho
nàng; bấy giờ, người xây cất Mi-lô.
25. Mỗi năm ba lần, Sa-lô-môn dâng của lễ
thiêu và của lễ thù ân
trên bàn thờ mà người đã
đóng cho Ðức Giê-hô-va,
và xông hương trên bàn thờ
đã đặt ở trước mặt Ðức
Giê-hô-va. Người xây xong đền thờ
là như vậy.
26. Vua Sa-lô-môn cũng sắm sửa một đoàn
tàu tại Ê-xi-ôn-Ghê-be, gần
Ê-lốt, trên mé Biển đỏ, trong xứ
Ê-đôm.
27. Hi-ram sai những tôi tớ mình, tức những thủy
thủ, thông thạo về nghề đi biển, đến trong đoàn
tàu đó, đặng giúp tôi tớ của
Sa-lô-môn.
28. Họ đi Ô-phia đem về cho Sa-lô-môn bốn
trăm hai mươi ta lâng vàng.
1 Các Vua 10
Home
1. Khi nữ vương Sê-ba nghe nói về danh tiếng của
Sa-lô-môn và về danh của Ðức
Giê-hô-va, bèn đến thử
Sa-lô-môn nhiều câu đố.
2. Bà đến Giê-ru-sa-lem có hầu hạ theo
rất đông, lạc đà chở thuốc thơm, nhiều
vàng và ngọc. Bà đến cùng
Sa-lô-môn, nói với người mọi điều
có trong lòng mình.
3. Sa-lô-môn đáp các
câu hỏi của bà, chẳng câu nào
ẩn bí quá cho vua, mà vua
không giải nghĩa nổi cho bà.
4. Khi nữ vương Sê-ba thấy mọi sự khôn ngoan của
Sa-lô-môn, cung điện người cất,
5. những món ăn trên bàn người,
nhà cửa của tôi tớ người, thứ tự công
việc của các quan, và đồ ăn mặc của họ,
các quan chước tửu, và các của lễ
thiêu người dâng trong đền Ðức
Giê-hô-va, thì mất vía.
6. Rồi bà nói rằng: Ðiều tôi
nghe nói trong xứ tôi về lời nói
và sự khôn ngoan của vua, thì thật lắm.
7. Song trước khi tôi chưa đến đây, và
chưa thấy tận mắt những điều này, thì
tôi chẳng tin; và kìa, người ta chẳng
nói đến được phân nửa! Sự khôn ngoan
và oai nghi của vua trổi hơn tiếng đồn tôi
đã nghe.
8. Các tôi tớ vua thật có phước thay!
Các tôi tớ vua hằng đứng chầu trước mặt vua, nghe
sự khôn ngoan của vua, lấy làm có phước
thay!
9. Ðáng khen ngợi thay Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của vua, vì Ngài
đẹp lòng vua, đặt vua trên ngôi của
Y-sơ-ra-ên! Bởi vì Ðức
Giê-hô-va yêu dấu Y-sơ-ra-ên
mãi mãi, nên Ngài
đã lập vua làm vua đặng cai trị theo sự ngay
thẳng và công bình.
10. Ðoạn nữ vương dâng cho vua một trăm hai mươi ta
lâng vàng và rất nhiều thuốc thơm
cùng ngọc quí. Từ đó nhẫn nay, chẳng
hề có ai đem thuốc thơm đến số nhiều bằng của nữ vương nước
Sê-ba dâng cho vua Sa-lô-môn.
11. Ðoàn tàu Hi-ram chở vàng
Ô-phia, cũng chở cây bạch đàn rất nhiều,
và ngọc quí.
12. Vua dùng cây bạch đàn
này mà làm bao lơn cho đền thờ
Ðức Giê-hô-va và cho
nhà vua, cùng những đờn cầm và đơn sắt
cho con hát. Từ đó, chẳng hề có ai đem
đến Giê-ru-sa-lem cây bạch đàn dường ấy
nữa, không ai thấy lại cho đến ngày nay.
13. Vua Sa-lô-môn ban cho nữ vương Sê-ba
mọi đều người ước và xin, chẳng kể những vật mà
Sa-lô-môn đã ban cho bà,
tùy lệ thường của vua. Ðoạn, bà
và các tôi tớ bà
lên đường trở về xứ mình.
14. Vàng mà vua Sa-lô-môn
thâu nhận mỗi năm cân đến sáu trăm bảy
mươi sáu ta lâng,
15. không kể vàng người thâu lấy nơi
người buôn bán dông, và nơi
sự đổi chác của kẻ thương mại, cùng
vàng mà các vua A-ra-bi, và
các quan tổng đốc của xứ đem nộp.
16. Vua Sa-lô-môn làm hai trăm
cái khiên lớn bằng vàng đánh
giác, cứ mỗi cái dùng sáu
trăm siếc lơ vàng;
17. lại làm ba trăm cái khiên nhỏ, bằng
vàng đánh giác, cứ mỗi cái
dùng ba min vàng. Vua để các
khiên ấy trong đền rừng Li-ban.
18. Vua cũng làm một cái ngai lớn bằng
ngà, bọc vàng ròng.
19. Ngai này có sáu nấc;
thân cao ngai phía sau thì
tròn; mỗi phía ngai có thanh
nâng tay, và hai con sư tử đứng kề.
20. Lại có mười hai con khác đứng trên
sáu nấc, nơi hữu và tả: chẳng có nước
nào làm ngai giống như vậy.
21. Hết thảy các chén uống của vua
Sa-lô-môn đều bằng vàng, và
những khí dụng trong cung rừng Li-ban đều cũng bằng
vàng ròng. Chẳng có chi là
bằng bạc: trong đời vua Sa-lô-môn, người ta chẳng
kể bạc là chi.
22. Vì đoàn tàu Ta-rê-si của
vua mỗi ba năm một lần vượt biển với đoàn tàu của
Hi-ram, đem về vàng, bạc, ngà voi, con khỉ,
và con công.
23. Ấy vậy, vua Sa-lô-môn trổi hơn các
vua thế gian về sự giàu có và sự
khôn ngoan.
24. Cả thiên hạ đều tìm kiếm mặt
Sa-lô-môn đặng nghe sự khôn ngoan
mà Ðức Chúa Trời đã để trong
lòng người.
25. Cứ hằng năm, theo lệ định, mọi người đều đem đến dâng vật
mình tiến cống cho vua, nào chậu bằng bạc
và bằng vàng, áo xống, binh
khí, thuốc thơm, ngựa, và la.
26. Sa-lô-môn cũng nhóm xe và
lính kị; có một ngàn bốn trăm xe
và mười hai ngàn lính kị, để trong
các thành chứa xe, và tại
Giê-ru-sa-lem, gần bên vua.
27. Tại Giê-ru-sa-lem vua làm cho bạc ra thường
như đá, và cây bá hương
nhiều như cây sung mọc nơi đồng bằng.
28. Vua Sa-lô-môn do nơi
Ê-díp-tô mà được ngựa; một
đoàn con buôn của vua đi kiếm mua từng bầy,
giá phải chăng.
29. Mỗi cỗ xe mua ở xứ Ê-díp-tô
và dẫn về Giê-ru-sa-lem, giá
đáng sáu trăm siếc lơ bạc, còn mỗi con
ngựa giá đáng một trăm năm mươi siếc lơ.
Các vua dân Hê-tít
và vua Sy-ri cũng theo giá ấy, nhờ những con
buôn của vua mua về.
1 Các Vua 11
Home
1. Ngoài con gái của Pha-ra-ôn, vua
Sa-lô-môn lại còn thương mến nhiều người
nữ của dân ngoại; tức là người nữ
Mô-áp, Am-môn,
Ê-đôm, Si-đôn, và
Hê-tít.
2. Chúng nó thuộc về các dân
tộc mà Ðức Giê-hô-va
có phán với dân Y-sơ-ra-ên
rằng: Các ngươi và chúng nó
chớ đi lại giao thông với nhau; vì
chúng nó hẳn sẽ quyến dụ lòng
các ngươi hướng theo các thần chúng
nó. Sa-lô-môn tríu mến những
người nữ ấy.
3. Người có bảy trăm hoàng hậu, và ba
trăm cung nữ; chúng nó bèn
làm cho người trở lòng.
4. Trong buổi già yếu, các hoàng hậu
của Sa-lô-môn dụ lòng người đi theo
các thần khác: Ðối cùng
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
mình, lòng người chẳng trọn lành như
thể lòng của Ða-vít, là cha
người.
5. Vì Sa-lô-môn cúng thờ
Át-tạt-tê, nữ thần của dân
Si-đôn, và thần Minh-côm, là
thần đáng gớm ghiếc của dân Am-môn.
6. Như vậy, Sa-lô-môn làm điều
ác trước mặt Ðức Giê-hô-va,
chẳng vâng theo Ðức Giê-hô-va
cách trọn lành như Ða-vít, cha
người, đã làm.
7. Bấy giờ, Sa-lô-môn lại xây cất tại
trên núi đối ngang Giê-ru-sa-lem, một
nơi cao cho Kê-móc, vật đáng gớm ghiếc
của dân Mô-áp, và cho
Mo-lóc, vật đáng gớm ghiếc của dân
Am-môn.
8. Vua cũng làm như vậy cho hết thảy các
hoàng hậu ngoại của mình, xông hương
và tế lễ cho thần của chúng nó.
9. Ðức Giê-hô-va nổi giận cùng
Sa-lô-môn, bởi vì lòng người
trở bỏ Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của Y-sơ-ra-ên, là Ðấng đã hai
lần hiện đến cùng người,
10. phán bảo người rằng chớ theo các thần
khác; nhưng người không vâng theo lịnh
của Ðức Giê-hô-va.
11. Ðức Giê-hô-va phán với
Sa-lô-môn rằng: Bởi vì ngươi
đã làm điều này, không giữ
giao ước và luật pháp ta truyền cho ngươi,
nên ta chắc sẽ đoạt lấy nước khỏi ngươi, cho kẻ tôi
tớ ngươi.
12. Song vì cớ Ða-vít, cha ngươi, ta sẽ
chẳng làm điều đó trong đời ngươi. Ta sẽ đoạt lấy
nước khỏi tay con trai ngươi.
13. Lại ta chẳng đoạt lấy cả nước khỏi nó; song
vì cớ Ða-vít, đầy tớ ta và
vì cớ Giê-ru-sa-lem mà ta đã
chọn, ta sẽ để lại một chi phái cho con trai ngươi.
14. Vậy, Ðức Giê-hô-va khiến dấy
lên một kẻ thù nghịch cùng
Sa-lô-môn, là Ha-đát, người
Ê-đôm vốn dòng dõi vua
Ê-đôm.
15. Vả, trong lúc Ða-vít đánh
dẹp Ê-đôm, thì
Giô-áp là tổng binh, đi lên
chôn các kẻ thác, và giết
hết thảy người nam trong Ê-đôm.
16. Giô-áp và cả Y-sơ-ra-ên ở
lại đó sáu tháng, cho đến khi người
đã giết hết thảy người trong Ê-đôm.
17. Lúc bấy giờ, Ha-đát chạy trốn cùng
mấy người Ê-đôm, là tôi tớ của
cha người, đặng đến ở Ê-díp-tô;
Ha-đát hãy còn thơ ấu.
18. Chúng đi từ Ma-đi-an đến Pha-ran; đoạn bắt mấy người
Pha-ran theo mình mà đi đến
Ê-díp-tô, ra mắt Pha-ra-ôn,
vua xứ Ê-díp-tô. Vua cấp cho
Ha-đát nhà ở, lương thực và đất ruộng.
19. Ha-đát được ơn nhiều trước mặt Pha-ra-ôn; vua
bèn gả em vợ mình cho người, tức là em
của hoàng hậu Tác-bê-ne.
20. Em của Tác-bê-ne sanh cho Ha-đát
một con trai tên là
Ghê-nu-bát; Tác-bê-ne dứt sữa
nó tại trong đền Pha-ra-ôn. Như vậy,
Ghê-nu-bát ở tại trong đền Pha-ra-ôn,
giữa các con trai của vua.
21. Khi Ha-đát ở Ê-díp-tô hay
rằng Ða-vít đã an giấc cùng
các tổ tiên người, và
Giô-áp, quan tổng binh, đã
thác, thì người tâu cùng
Pha-ra-ôn rằng: Xin hãy để cho tôi đi
trở về trong xứ tôi.
22. Pha-ra-ôn đáp với người rằng: Ngươi ở nơi ta
có thiếu gì sao, nên ao ước trở về
trong xứ mình như vậy? Người thưa rằng: Chẳng thiếu chi. Dầu
vậy, xin cho tôi đi.
23. Ðức Chúa Trời lại khiến dấy lên một kẻ
thù nghịch khác, là
Rê-xôn, con trai Ê-li-gia-đa,
đã chạy trốn khỏi chúa mình
là Ha-đa-đê-xe, vua Xô-ba.
24. Khi Ða-vít giết quân vua
Xô-ba, thì người ấy nhóm người ta chung
quanh mình, và làm đầu bọn
đó, đi đến thành Ða-mách,
bèn ở tại đó, và quản trị
thành ấy.
25. Rê-xôn làm kẻ cừu địch
cùng Y-sơ-ra-ên trọn đời
Sa-lô-môn, ngoài ra sự bại mà
Ha-đát đã làm; người cai trị nước
Sy-ri, và ghen ghét Y-sơ-ra-ên.
26. Giê-rô-bô-am, con trai của
Nê-bát, người Ép-ra-im, ở đất
Xê-rê-đa, là tôi tớ của
Sa-lô-môn, cũng dấy nghịch với người. Mẹ người
góa bụa, tên là Xê-ru-ha.
27. Này là duyên cớ mà người
phản nghịch với vua: Sa-lô-môn xây cất
Mi-lô, lấp vá lại nơi hư lủng của thành
Ða-vít, là cha người.
28. Vả, Giê-rô-bô-am là một
người mạnh dạn và tài năng;
Sa-lô-môn thấy người tuổi trẻ có
tài nghề, bèn đặt người làm đầu
xâu cho cả nhà Giô-sép.
29. Xảy trong lúc đó,
Giê-rô-bô-am ở Giê-ru-sa-lem đi
ra, gặp tiên tri A-hi-gia ở Si-lô tại giữa đường,
mặc cái áo tơi mới. Chỉ có hai người ở
ngoài đồng mà thôi.
30. A-hi-gia bèn nắm áo mới người mặc trong
mình mà xé ra làm mười
miếng.
31. Ðoạn, người nói với
Giê-rô-bô-am rằng: Hãy lấy
mười miếng về phần ngươi, vì Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có
phán như vậy: Kìa, ta sẽ đoạt lấy nước khỏi tay
Sa-lô-môn và trao cho ngươi mười chi
phái của nước ấy.
32. Nhưng vì cớ Ða-vít, kẻ tôi
tớ ta, và vì cớ Giê-ru-sa-lem,
thành ta đã chọn giữa các chi
phái Y-sơ-ra-ên, nên sẽ có
một chi phái cứ ở trung tín cùng người.
33. Ấy, bởi vì chúng nó đã
từ bỏ ta, đi thờ lạy Át-tạ-tê, nữ thần của
dân Si-đôn, thần xứ Mô-áp,
và Minh-côm, thần của dân
Am-môn. Chúng nó không đi
theo các đường lối ta, đặng làm điều ngay thẳng
tại trước mặt ta, và cũng chẳng giữ luật lệ và
điều răn ta, y như Ða-vít, cha của
Sa-lô-môn, đã làm.
34. Nhưng ta sẽ chẳng cất lấy cả nước khỏi tay
Sa-lô-môn; song vì
Ða-vít, kẻ tôi tớ ta, ta đã
chọn, ta sẽ lập người làm vua trọn đời người sống, bởi
vì Ða-vít đã giữ
các điều răn và luật lệ ta.
35. Nhưng ta sẽ đoạt lấy nước khỏi tay con trai người, mà
trao cho ngươi mười chi phái.
36. Ta sẽ để lại một chi phái cho con trai người, để cho tại
Giê-ru-sa-lem, thành ta đã chọn đặng
đặt danh ta ở đó, Ða-vít, kẻ
tôi tớ ta, hằng có một ngọn đèn trước
mặt ta luôn luôn.
37. Vậy, ta sẽ chọn ngươi và lập làm vua
Y-sơ-ra-ên; ngươi sẽ cai trị theo ý muốn
lòng ngươi.
38. Và, nếu ngươi vâng theo lịnh ta, đi trong
các đường lối ta, làm điều thiện trước mặt ta,
giữ gìn luật lệ và điều răn ta, y như
Ða-vít, tôi tớ ta, đã
làm, thì ta sẽ ở cùng ngươi,
39. lập cho ngươi một nhà vững chắc, y như ta đã
lập cho Ða-vít, và ta sẽ ban
Y-sơ-ra-ên cho ngươi. Như vậy, ta sẽ làm sỉ nhục
dòng dõi Ða-vít, nhưng chẳng
phải đời đời.
40. Sa-lô-môn tìm thế giết
Giê-rô-bô-am; nhưng
Giê-rô-bô-am chạy trốn qua
Ê-díp-tô, đến cùng Si-sắc,
vua Ê-díp-tô; rồi người ở tại
Ê-díp-tô cho đến chừng
Sa-lô-môn băng hà.
41. Còn các điều khác về chuyện
Sa-lô-môn, mọi việc người, sự khôn ngoan
của người, thảy đều đã chép trong sách
hành trạng của Sa-lô-môn.
42. Sa-lô-môn ở Giê-ru-sa-lem cai trị
trên cả Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm.
43. Ðoạn, Sa-lô-môn an giấc cùng
các tổ phụ người, và được chôn trong
thành Ða-vít, cha người.
Rô-bô-am, con trai người, cai trị thế cho người.
1 Các Vua 12
Home
1. Rô-bô-am đến Si-chem vì cả
Y-sơ-ra-ên đã hiệp lại tại Si-chem đặng
tôn người làm vua.
2. Khi Giê-rô-bô-am, con trai của
Nê-bát, hay điều đó, thì
còn ở Ê-díp-tô, là
nơi người trốn để thoát khỏi vua
Sa-lô-môn.
3. Người ta sai tìm người tại đó.
Giê-rô-bô-am cùng cả hội
chúng Y-sơ-ra-ên đều đến tâu với
Rô-bô-am rằng:
4. Thân phụ vua đã làm cho
ách chúng tôi nặng quá nhưng
bây giờ vua hãy giảm nhẹ sự phục dịch
khó nhọc và cái ách nặng
mà thân phụ vua đã gán cho
chúng tôi, thì chúng
tôi sẽ phục dịch vua.
5. Người đáp với chúng rằng: Hãy lui
về, trong ba ngày sẽ trở lại cùng ta.
Dân sự bèn lui về.
6. Vua Rô-bô-am bàn với các
trưởng lão đã hầu hạ
Sa-lô-môn, cha mình, trong
lúc người còn sống, mà rằng:
Các ngươi bàn luận cho ta phải đáp với
dân sự này làm sao?
7. Chúng thưa lại rằng: Nếu ngày nay vua
làm như người đầy tớ của dân sự này,
phục sự họ, đáp lời, trò chuyện tử tế
cùng họ, thì họ sẽ làm tôi
tớ vua mãi mãi.
8. Nhưng Rô-bô-am không theo mưu của
các trưởng lão đã bàn cho
mình; bàn nghị cùng các kẻ
trai trẻ đồng lớn lên với mình, và hầu
hạ mình,
9. mà rằng: Dân sự này đã
tâu với ta rằng: Hãy giảm nhẹ cái
ách mà thân phụ vua đã
gán cho chúng tôi; vậy, các
ngươi bàn luận cho ta phải đáp với
chúng nó làm sao?
10. Các gã trai trẻ đồng lớn lên với
người đáp rằng: dân sự này
đã tâu với vua rằng: Thân phụ vua khiến
ách chúng tôi nặng vua hãy
làm cho nó ra nhẹ; vua phải đáp lại
cùng chúng như vầy: Ngón tay
út ta cón lớn hơn lưng của cha ta.
11. Vậy, cha ta đã gác một cái
ách nặng cho các ngươi, ta sẽ làm
cái ách các ngươi thêm nặng
hơn nữa; cha ta sửa phạt các ngươi bằng roi da, ta sẽ sửa
phạt các ngươi bằng roi bọ cạp.
12. Ngày thứ ba, Giê-rô-bô-am
và cả dân sự đều đi đến
Rô-bô-am, y như vua đã biểu rằng:
Hãy trở lại cùng ta trong ba ngày.
13. Vua đáp lời với dân sự cách xẳng
xớm, không kể các lời bàn luận của
các trưởng lão,
14. và theo mưu các kẻ trai trẻ mà
đáp lại cùng chúng rằng: Cha ta
đã khiến cho ách các ngươi nặng nề; ta
sẽ làm ách các ngươi càng
nặng nề hơn nữa. Cha ta có sửa phạt các ngươi
bằng roi da, ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bọ cạp.
15. Như vậy, vua không khứng nghe lời dân sự,
vì điều đó bởi Ðức
Giê-hô-va dẫn đến, đặng làm cho ứng
nghiệm lời Ngài cậy A-hi-gia ở Si-lô mà
phán cho Giê-rô-bô-am, con
trai của Nê-bát.
16. Khi cả Y-sơ-ra-ên thấy vua không khứng nghe lời
họ, bèn đáp cùng người rằng:
Chúng ta có phần gì cùng
Ða-vít? Chúng ta chẳng có cơ
nghiệp chi với con trai Y-sai. Hỡi Y-sơ-ra-ên! hãy
trở về trại mình đi. Ớ Ða-vít! từ
rày ngươi khá coi chừng nhà của ngươi.
Như vậy Y-sơ-ra-ên đều rút về các trại
của họ.
17. Nhưng về dân Y-sơ-ra-ên ở tại các
thành Giu-đa, thì Rô-bô-am
cai trị họ.
18. Bấy giờ, Rô-bô-am sai A-đô-ram
là người coi sóc việc cống thuế đến
cùng chúng; nhưng cả Y-sơ-r-ên
ném đá người chết. Vua
Rô-bô-am lật đật lên xe, trốn về
Giê-ru-sa-lem.
19. Ấy vậy, Y-sơ-ra-ên phản nghịch nhà
Ða-vít cho đến ngày nay.
20. Khi dân Y-sơ-ra-ên hay rằng
Giê-rô-bô-am đã trở về,
bèn sai sứ mời người đến hội mình, và
lập người làm vua trên Y-sơ-ra-ên. Chỉ
có chi phái Giu-đa cứ theo nhà
Ða-vít mà thôi.
21. Rô-bô-am đến Giê-ru-sa-lem
nhóm hết thảy nhà Giu-đa và chi
phái Bên-gia-minh, số là một tăm
tám mươi ngàn người lính chiến
kén chọn, toan tranh chiến cùng nhà
Y-sơ-ra-ên đặng bắt nước phục lại
Rô-bô-am, con trai Sa-lô-môn.
22. Nhưng Ðức Chúa Trời phán
cùng Sê-ma-gia, người của Ðức
Chúa Trời, rằng:
23. Hãy nói cùng
Rô-bô-am, con trai Sa-lô-môn,
vua Giu-đa, cùng hết thảy nhà Giu-đa,
Bên-gia-min, và phần dân sự
còn lại, mà rằng:
24. Ðức Giê-hô-va phán như vầy:
Các ngươi chớ đi lên đánh anh em
mình, là dân Y-sơ-ra-ên. Mỗi
người hãy trở về nhà mình,
vì sự này bởi ta mà xảy đến.
Chúng vâng theo lời Ðức
Giê-hô-va mà trở về theo mạng lịnh của
Ngài.
25. Giê-rô-bô-am bèn
xây cất Si-chem trên núi
Ép-ra-im, và ở tại đó. Ðoạn từ
đó người đi ra xây cất
Phê-nu-ên.
26. Bấy giờ, Giê-rô-bô-am nói
thầm rằng: Hoặc nước sẽ trở về nhà Ða-vít
chăng.
27. Nếu dân sự này đi lên
Giê-ru-sa-lem đặng tế lễ tại trong đền của Ðức
giê-hô-va, thì lòng họ chắc
sẽ trở về chúa của họ, là
Rô-bô-am, vua Giu-đa; người ta sẽ giết ta đi
và trở về với Rô-bô-am, vua Giu-đa.
28. Vậy, vua bàn định, rồi truyền làm hai con
bò con bằng vàng, và nói
với dân sự rằng: Các ngươi đi lên
Giê-ru-sa-lem thật khó thay! Hỡi
Y-sơ-ra-ên! nầy là các thần ngươi,
đã đem ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
29. Người đặt con này tại Bê-tên,
và con kia tại Ðan.
30. Việc đó thành nên tội lỗi,
vì dân chúng đi đến Ðan đặng
thờ lạy bò con ấy.
31. Giê-rô-bô-am cũng cất chùa
miễu trên các nơi cao, chọn lấy người trong
vòng dân chúng lập làm thầy
tế lễ, không thuộc về chi phái Lê-vi.
32. Người lại định lập trong tuần tháng tám
ngày rằm, một lễ giống như lễ người ta thường dự trong xứ
Giu-đa, và người dâng các của lễ
trên bàn thờ. Người cũng làm như vậy
tại Bê-tên, tế lễ cho hai bò con
mà người đã làm nên; lại để
tại Bê-tên những thầy tế lễ của các nơi
cao mà người đã cất.
33. Ngày rằm tháng tám, tức
là tháng người tự chọn lấy,
Giê-rô-bô-am đi lên
bàn thờ mình đã cất tại
Bê-tên. Người lập một lễ cho dân
Y-sơ-ra-ên, rồi đi lên bàn thờ đặng
xông hương.
1 Các Vua 13
Home
1. Ðương khi Giê-rô-bô-am đứng
gần bàn thờ, đặng xông hương, kìa,
có một người của Ðức Chúa Trời ở Giu-đa,
vâng mạng Ðức Giê-hô-va
mà đến Bê-tên.
2. Người vâng theo lời phán của Ðức
Giê-hô-va, quở trách bàn thờ
mà nói rằng: Hỡi bàn thờ,
bàn thờ! Ðức Giê-hô-va
phán như vầy: Một đứa con trai sẽ sanh ra cho nhà
Ða-vít, tên nó là
Giô-si-a. Nó sẽ dâng trên mầy
những thầy tế lễ của các nơi cao, là người
xông hương trên mầy, và người ta sẽ
thiêu trên mầy hài cốt của người chết.
3. Trong ngày đó, thầy tiên tri tỏ một
dấu lạ, rằng: Nầy là dấu lạ mà Ðức
Giê-hô-va đã phán:
Bàn thờ sẽ nứt, tro trên bàn thờ sẽ đổ
xuống đất.
4. Khi vua Giê-rô-bô-am nghe lời hăm dọa
mà người của Ðức chúa Trời nói
nghịch cùng bàn thờ tại
Bê-tên, thì người giơ tay ra
trên bàn thờ mà bảo rằng:
Hãy bắt nó đi. Nhưng cánh tay vua giơ
ra đối cùng tiên tri bèn trở
nên khô, không thế co lại vào
mình được.
5. Bàn thờ cũng nứt ra, và tro ở trên
đổ xuống, y như dấu lạ mà người của Ðức
Chúa Trời đã vâng mạng Ðức
Giê-hô-va tỏ ra.
6. Bấy giờ, vua cất tiếng nói với người của Ðức
Chúa Trời rằng: Xin hãy nài xin
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi
và cầu nguyện cho ta, hầu cho tay ta được lại như cũ. Người
của Ðức Chúa Trời cầu khẩn Ðức
Giê-hô-va, thì tay vua bèn co
vào được, trở lại y như trước.
7. Vua bèn nói cùng người của
Ðức Chúa Trời rằng: Ngươi hãy về cung với
ta đặng bổ sức lại, và ta sẽ dâng cho ngươi một lễ
vật.
8. Người của Ðức Chúa Trời đáp lại
cùng vua rằng: Dẫu vua ban cho tôi phân
nửa gia sản vua, tôi cũng chẳng vào cung với vua,
hoặc ăn bánh hay là uống nước tại nơi
này;
9. vì Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn ta như vầy, rằng: Ngươi chớ ăn
bánh, chớ uống nước, chớ noi con đường ngươi đã
đi mà trở về.
10. Ấy vậy, người đi đường khác, chẳng trở lại đường người
đã bắt đi đến Bê-tên.
11. Vả, có một tiên tri già ở tại
Bê-tên. Một con trai người đến học lại cho người
mọi điều người của Ðức Chúa Trời đã
làm tại Bê-tên trong ngày
đó, và các lời người đã
nói với vua. Người cha nghe lời thuật này,
thì hỏi con mình rằng:
12. Người ấy đi đường nào? Các con trai người chỉ
con đường mà người của Ðức Chúa Trời ở
Giu-đa đã noi đi về.
13. Người bèn nói cùng các
con trai mình rằng: Hãy thắng lừa ta;
chúng bèn thắng lừa, rồi người lên cỡi,
14. đi theo người của Ðức Chúa Trời, gặp người ngồi
dưới gốc cây thông, thì nói
rằng: Có phải ngươi là người của Ðức
Chúa Trời ở Giu-đa đến chăng? Người đáp: Ấy
là tôi.
15. Tiên tri già tiếp rằng: Hãy đến
nhà với ta đặng dùng bữa.
16. Nhưng người đáp lại rằng: Tôi chẳng thể trở về
với ông, cũng chẳng thể vào nhà
ông, hoặc ăn bánh hay là uống nước với
ông tại nơi này cũng không đặng;
17. vì Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn tôi rằng: Ngươi chớ ăn
bánh, chớ uống nước tại nơi đó, và
cũng đừng trở lại theo con đường ngươi đã bắt đặng đi đến.
18. Người kia lại tiếp rằng: Ta cũng là tiên tri
như ngươi. Vả, một thiên sứ vâng lịnh Ðức
Giê-hô-va có phán với ta
rằng: hãy dẫn nó vào nhà
với ngươi, hầu cho ăn bánh và uống nước. Nhưng
người tiên tri này nói dối người.
19. Người của Ðức Chúa Trời bèn trở lại
với người, ăn và uống tại nhà người.
20. Khi hai người đương ngồi bàn, có lời của
Ðức Giê-hô-va phán với
tiên tri đã đem người về;
21. người liền kêu la cùng người của Ðức
Chúa Trời ở Giu-đa đến mà rằng: Ðức
Giê-hô-va phán như vầy: Bởi
vì ngươi phản nghịch lời của của Ðức
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi
đã truyền cho ngươi,
22. nhưng đã trở lại ăn bánh uống nước tại
đó, thì xác chết ngươi sẽ chẳng được
chôn trong mồ mả của tổ phụ ngươi.
23. Khi đã ăn uống xong, tiên tri già
bèn thắng lừa cho tiên tri mình
đã dẫn về.
24. Người liền đi: dọc đường người gặp một con sư tử và bị
nó giết đi. Thây người nằm sải trên
đường, có con lừa đứng một bên, còn sư
tử cũng đứng gần bên thây.
25. Có người đi ngang qua thấy thây nằm sải
trên đường, và con sư tử đứng kế bên,
thì đi đến trong thành của tiên tri
già ở, thuật lại đều mình đã thấy.
26. Khi tiên tri già, là người
đã khiến người của Ðức Chúa Trời trở bước
lại, nghe điều ấy, bèn nói rằng: Ấy là
người của Ðức Chúa Trời đã phản nghịch
lời của Ðức Giê-hô-va. Bởi vậy cho
nên Ðức Giê-hô-va đã
phó người cho sư tử phân xé
và giết đi, y như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán.
27. Ðoạn, người biểu các con trai mình
rằng: Hãy thắng lừa ta. Chúng bèn
thắng lừa.
28. Người đi, gặp xác chết nằm trên đường, con lừa
và con sư tử ở hai bên. Con sư tử không
ăn xác chết và không phân
xé con lừa.
29. Tiên tri già cất xác của người
Ðức Chúa Trời lên, chở trên con
lừa, đem về vào trong thành mình, đặng
than khóc và chôn người.
30. Người chôn xác ấy trong mộ mình,
rồi khóc người mà rằng: Thương ôi! anh
ôi!
31. Sau khi chôn xác rồi, người nói với
các con trai mình rằng: Khi nào ta
chết, các con hãy chôn ta
vào mả đã chôn người của Ðức
Chúa Trời, để hài cốt ta ở bên
hài cốt người.
32. Vì các lời hăm dọa người vâng mạng
Ðức Giê-hô-va mà nói
nghịch cùng bàn thờ tại
Bê-tên và nghịch cùng
các chùa miễu tại trên những nơi cao ở
trong các thành Sa-ma-ri, hẳn sẽ được ứng nghiệm.
33. Sau việc ấy, Giê-rô-bô-am
không trở lại con đường ác mình, nhưng
người lại lập cho các nơi cao những thầy tế lễ chọn trong
đám dân sự; phàm ai tình
nguyện, thì được người biệt riêng ra
làm thầy tế lễ tại các nơi cao.
34. Nhân vì cớ ấy nhà
Giê-rô-bô-am phạm tội, đến đỗi bị diệt
khỏi mặt đất.
1 Các Vua 14
Home
1. Trong lúc đó, A-bi-gia, con trai của
Giê-rô-bô-am, đau.
2. Giê-rô-bô-am nói với vợ
mình rằng: Ta xin ngươi hãy chổi dậy, giả dạng
khác đi, cho người ta không biết người
là vợ ta. Ngươi hãy đi đến Si-lô, tại
đó có tiên tri A-hi-gia, là
đấng đã nói trước về ta rằng ta sẽ làm
vua của dân sự này.
3. Ngươi phải lấy đem theo mười ổ bánh, những
bánh ngọt, và một bình mật ong, rồi
hãy đi đến người; người sẽ nói cho ngươi đều phải
xảy đến cho con trẻ.
4. Vợ Giê-rô-bô-am làm theo
vậy, đứng dậy đi đến Si-lô, và tới nhà
A-hi-gia. Vả, A-hi-gia không thấy được, bởi vì
tuổi già làm cho mắt người mù
lòa.
5. Nhưng Ðức Giê-hô-va phán với
người rằng: Kìa, vợ của
Giê-rô-bô-am đến cầu hỏi ngươi về con
trai nó đương đau. Ngươi sẽ đáp lời
cùng nó thể này, thể này.
Khi đến, nàng sẽ giả dạng làm một người
khác.
6. Khi nàng bước qua ngạch cửa cái, A-hi-gia nghe
tiếng bước người, thì nói rằng: Hỡi vợ vua
Giê-rô-bô-am, hãy
vào; cớ sao ngươi giả làm người khác?
Ta chịu sai báo cho ngươi một tin dữ: Hãy đi
tâu với Giê-rô-bô-am:
7. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta đã cất
ngươi lên từ giữa dân sự, lập ngươi làm
vua trên dân Y-sơ-ra-ên ta.
8. Ta đã đoạt lấy nước khỏi nhà
Ða-vít, kẻ tôi tớ ta, là người
gìn giữ các điều răn ta, hết lòng theo
ta, chỉ làm điều thiện tại trước mặt ta.
9. Ngươi đã làm điều ác hơn
các kẻ tiên bối ngươi, đi lập cho mình
những thần khác và hình tượng
đúc đặng chọc giận ta, và đã chối bỏ
ta.
10. Bởi cớ đó, ta sẽ giáng tai họa trên
nhà Giê-rô-bô-am,
các nam đinh của nó, bất luận kẻ nô lệ
hay là người tự do, ta sẽ diệt hết khỏi trong
Y-sơ-ra-ên, và quét sạch nhà
nó, như người ta quét phân, cho đến
chẳng còn sót chi hết.
11. Phàm người của nhà
Giê-rô-bô-am chết tại trong
thành, đều sẽ bị chó ăn nuốt, còn
người nào chết ngoài đồng, thì sẽ bị
chim trời cắn rỉa ăn đi; vì Ðức
Giê-hô-va đã phán vậy.
12. Thế thì, hãy đứng dậy trở về nhà
ngươi; vừa khi ngươi đặt chơn vào thành,
thì con ngươi sẽ chết.
13. Cả Y-sơ-ra-ên sẽ than khóc và
chôn nó; trong nhà
Giê-rô-bô-am chỉ một mình
nó sẽ được chôn nơi mồ mả, vì trong gia
quyến Giê-rô-bô-am chỉ thấy nơi
nó có chút lòng tốt đối
cùng Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
14. Trong ngày đó, Ðức
Giê-hô-va sẽ dấy lên một vua
trên Y-sơ-ra-ên, người diệt hết nhà
Giê-rô-bô-am. Mà sao? Việc
đã xảy đến rồi.
15. Ðức Giê-hô-va sẽ hành hại
Y-sơ-ra-ên, như một cây sậy bị nước đưa đi, truất
Y-sơ-ra-ên khỏi xứ tốt đẹp này mà
Ngài đã ban cho tổ phụ họ, và
làm tản lạc họ phía bên kia
sông cái, bởi vì họ đã lấy
hình tượng chọc giận Ðức
Giê-hô-va.
16. Vì cớ tội Giê-rô-bô-am
đã phạm, tức tội khiến cho dân
Y-sơ-ra-ên can phạm nên Ðức
Giê-hô-va sẽ phó Y-sơ-ra-ên
vào tay thù nghịch.
17. Vợ của Giê-rô-bô-am đứng dậy đi
và đến Tiệt-sa. Nàng vừa đặt chơn trên
ngạch cửa nhà, thì đứa trẻ đã chết.
18. Người ta chôn nó, và cả
Y-sơ-ra-ên đều than khóc nó, theo như
lời của Ðức Giê-hô-va đã cậy
miệng tôi tớ Ngài, là A-hi-gia, đấng
tiên tri, mà phán.
19. Mọi công việc khác của
Giê-rô-bô-am làm, tức
là sự tranh chiến và cuộc trị vì của
người, đều đã chép trong sách sử
ký của các vua Y-sơ-ra-ên.
20. Giê-rô-bô-am trị vì hai
mươi hai năm; đoạn, người an giấc cùng các tổ phụ
mình, và Na-đáp, con trai người, kế vị
người. Ðời Rô-bô-am trị vì
21. Rô-bô-am, con trai của
Sa-lô-môn, cai trị Giu-đa. Khi lên
ngôi, người đã được bốn mươi mốt tuổi; người trị
vì mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, là
thành Ðức Giê-hô-va
đã chọn trong các chi phái
Y-sơ-ra-ên, đặng đặt danh Ngài ngự tại
đó. Mẹ người tên là Na-a-ma, người
Am-môn.
22. Dân Giu-đa làm điều ác tại trước
mặt Ðức Giê-hô-va; vì cớ tội
phạm, chúng nó chọc cho Ðức
Giê-hô-va phân bì hơn
là các tổ phụ mình đã
làm.
23. Vì những người Giu-đa cũng xây cất cho
mình những nơi cao, trụ thờ và tượng
Át-tạt-tê tại trên các
gò nổng cao và dưới những cây rậm.
24. Cũng có những bợm vĩ gian ở trong xứ. Chúng
bắt chước làm theo những sự gớm ghiếc của các
dân tộc mà Ðức
Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt
dân Y-sơ-ra-ên.
25. Năm thứ năm đời Rô-bô-am trị vì,
Si-sắc, vua Ê-díp-tô, đi lên
đánh Giê-ru-sa-lem,
26. lấy các châu báu của đền
Ðức Giê-hô-va và của cung vua;
người cũng đoạt lấy hết thảy những khiên bằng vàng
mà Sa-lô-môn đã
làm.
27. Vua Rô-bô-am bèn truyền
làm những khiên bằng đồng đặng thế cho
các khiên ấy, giao cho các quan
làm đầu thị vệ canh cửa cung vua.
28. Hễ vua đi vào đền Ðức
Giê-hô-va, có những thị vệ cầm
các khiên ấy; đoạn, họ đem cất nó lại
trong phòng thị vệ.
29. Các công việc khác của
Rô-bô-am, và mọi việc người
đã làm, đều chép trong sách
sử ký của các vua Giu-đa.
30. Vả, Rô-bô-am và
Giê-rô-bô-am đánh giặc nhau
luôn luôn.
31. Rô-bô-am an giấc với tổ phụ người,
và được chôn với họ tại trong thành
Ða-vít. Mẹ người tên là
Na-a-ma, người Am-môn, A-bi-giam, con trai người, kế vị người.
1 Các Vua 15
Home
1. Năm thứ mười tám đời vua
Giê-rô-bô-am, con trai
Nê-bát, thì A-bi-giam lên
ngôi làm vua Giu-đa.
2. Người trị vì ba năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ người
tên là Ma-a-ca, con gái của
A-bi-sa-lôm.
3. Người đi trong các tội lỗi của cha người đã
phạm trước người; và lòng người không
trọn lành với Giê-ho-va Ðức
Chúa Trời người như thể lòng
Ða-vít, tổ phụ người.
4. Nhưng vì cớ Ða-vít,
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
người dành cho người một ngọn đèn trong
Giê-ru-sa-lem, lập con trai người làm kẻ kế vị
người, và khiến cho Giê-ru-sa-lem còn
hoài;
5. vì Ða-vít làm điều thiện
trước mặt Ðức Giê-hô-va, và
ngoài việc U-ri, người Hê-tít, trọn đời
người không xây bỏ điều gì của
Ðức Giê-hô-va đã truyền cho.
6. Vả, Rô-bô-am và
Giê-rô-bô-am đánh giặc nhau
trọn đời mình.
7. Các công việc khác của A-bi-giam,
mọi việc người làm, đều chép trong
sách sử ký của các vua Giu-đa.
A-bi-giam và Giê-rô-bô-am cũng
đánh giặc nhau.
8. A-bi-giam an giấc với tổ phụ mình, và người ta
chôn người tại trong thành
Ða-vít. A-sa, con trai người, kế vị người.
9. Năm thứ hai mươi, đời vua Giê-rô-bô-am
là vua Y-sơ-ra-ên, thì A-sa
lên ngôi làm vua Giu-đa.
10. Người cai trị bốn mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem.
Bà nội người tên là Ma-a-ca, con
gái của A-bi-sa-lôm.
11. A-sa làm điều thiện trước mặt Ðức
Giê-hô-va, y như Ða-vít, tổ phụ
người, đã làm.
12. Người đuổi bợm vĩ gian khỏi xứ, và dạy hết thảy
hình tượng mà tổ phụ người đã
làm.
13. Lại, người cũng cất chức thái hậu khỏi Ma-a-ca,
bà nội mình, bởi vì bà
có dựng tượng Át-tạt-tê. A-sa
đánh hạ hình tượng của bà, đốt tại
trong trũng Xết-rôn.
14. Song người không trừ bỏ các nơi cao; dầu vậy,
đối với Ðức Giê-hô-va, lòng A-sa
là trọn lành cả đời mình.
15. Người đem để lại trong đền Ðức
Giê-hô-va những vật thánh của cha người,
và những vật mà chính mình
người đã biệt riêng ra thánh, hoặc
vàng, bạc, hay là các khí
dụng.
16. A-sa, vua Giu-đa, và Ba-ê-sa, vua
Y-sơ-ra-ên, đánh giặc nhau trọn đời
mình.
17. Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, đi lên
đánh Giu-đa, xây đồn lũy Ra-ma, để làm
cho dân sự của A-sa, vua Giu-đa, không ra
vào nơi A-sa, vua Giu-đa được.
18. Khi ấy, A-sa bèn lấy hết những bạc và
vàng còn lại trong kho của đền Ðức
Giê-hô-va và trong kho nơi cung của vua,
giao cho đều tớ mình; đoạn sai họ đến
Bên-Ha-đát, con trai
Táp-ri-môn, cháu
Hê-xi-ôn, vua Sy-ri, ở Ða-mách,
và nói rằng:
19. Chúng ta hãy lập giao ước với nhau, y như cha
của ông và cha ta đã làm.
Kìa, ta sai đem lễ vật bằng bạc và
vàng; hãy đi phá lời giao ước của
ông với Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, để hắn
dan xa ta.
20. Bên-Ha-đát nghe lời vua A-sa; bèn
sai các quan tướng mình hãm
đánh những thành của Y-sơ-ra-ên, chiếm
lấy Y-giôn, Ðan, A-bên-Bết-Ma-ca,
và cả xứ Ki-nê-rốt với xứ Nép-ta-li.
21. Ba-ê-sa hay được điều đó, liền thôi
xây đắp đồn Ra-ma, mà rút về ở tại
Tiệt-sa.
22. Vua A-sa bèn nhóm hết thảy người Giu-đa,
không trừ một ai; chúng đem đi những đá
và gỗ mà Ba-ê-sa đã
dùng xây đắp đồn Ra-ma. Vua A-sa dùng
đồ ấy đặng xây cất Ghê-ba trong xứ
Bên-gia-min, và Mích-ba.
23. Các công việc khác của A-sa, quyền
thế của người, mọi việc người làm, và
các thành người xây cất, đều
đã chép trong sử ký của các
vua Giu-đa. Khi người đã già rồi, thì
đau chơn.
24. A-sa an giấc cùng tổ phụ người, và được
chôn với họ trong thành Ða-vít,
tổ tiên người. Giô-sa-phát, con trai
người, kế vị người.
25. Năm thứ hai đời A-sa, vua Giu-đa, Na-đáp, con trai
Giê-rô-bô-am, lên
ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên, và
trị vì trên Y-sơ-ra-ên hai năm.
26. Người làm điều ác trước mặt Ðức
Giê-hô-va, đi theo đường của tổ phụ
mình, phạm tội mà
Giê-rô-bô-am đã phạm
và khiến cho Y-sơ-ra-ên can phạm nữa.
27. Ba-ê-se, con trai A-hi-gia, về nhà Y-sa-ca,
làm phản người; trong lúc Na-đáp
và cả Y-sơ-ra-ên vây
Ghi-bê-thôn, vốn thuộc về dân Phi-li-tin,
thì Ba-ê-se giết người tại đó.
28. Ấy là nhằm năm thứ ba đời A-sa, vua Giu-đa,
mà Ba-ê-sa giết Na-đáp và
trị vì thế cho người.
29. Vừa khi người lên ngôi làm vua,
thì giết hết thảy người thuộc về nhà
Giê-rô-bô-am, không để
sót một ai, đến đỗi đã diệt hết trong
nhà Giê-rô-bô-am, theo như lời
Ðức Giê-hô-va đã cậy miệng
A-hi-gia, kẻ tôi tớ Ngài ở Si-lô,
mà phán ra;
30. ấy vì cớ tội lỗi của
Giê-rô-bô-am đã phạm
làm cho Y-sơ-ra-ên cũng phạm tội, và
chọc giận Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của Y-sơ-ra-ên.
31. Các công sự khác của
Na-đáp, mọi việc người làm, đều đã
chép trong sử ký của các vua
Y-sơ-a-ên.
32. Vả, A-sa, vua Giu-đa, và Ba-ê-sa, vua
Y-sơ-ra-ên, đánh giặc nhau trọn đời
mình.
33. Năm thứ ba đời A-sa, vua Giu-đa, thì Ba-ê-sa,
con trai A-hi-gia, lên làm vua của
Y-sơ-ra-ên; người ở tại Tiệt-sa, và cai trị hai
mươi bốn năm.
34. Người làm điều ác trước mặt Ðức
Giê-hô-va, đi theo đường của
Giê-rô-bô-am, và tội lỗi
mà Giê-rô-bô-am đã
phạm làm cho Y-sơ-ra-ên cũng phạm tội.
1 Các Vua 16
Home
1. Bấy giờ, lời của Ðức Giê-hô-va
phán cho Giê-hu, con trai của Hu-na-ni, nghịch
cùng Ba-ê-sa, mà rằng:
2. Ta đã cất ngươi lên khỏi bụi đất và
lập ngươi làm vua chúa dân
Y-sơ-ra-ên ta; song ngươi đã đi theo đường của
Giê-rô-bô-am, xui cho dân
Y-sơ-ra-ên ta phạm tội, và vì tội
chúng nó, chọc giận ta.
3. Nhân vì cớ ấy, ta sẽ quét sạch
Ba-ê-sa và nhà nó,
làm cho nhà nó giống như
nhà Giê-rô-bô-am, con trai của
Nê-bát vậy.
4. Phàm kẻ nào thuộc về Ba-ê-sa chết
tại trong thành sẽ bị chó ăn, phàm kẻ
nào chết ngoài đồng sẽ bị chim trời rỉa ăn.
5. Các công việc khác của
Ba-ê-sa, những việc người làm, và quyền
thế người, đều đã chép trong sách sử
ký của các vua Y-sơ-ra-ên.
6. Ba-ê-sa an giấc cùng các tổ phụ
người, và được chôn tại Tiệt-sa, Ê-la,
con trai người, kế vị người.
7. Lời của Ðức Giê-hô-va lại cậy
tiên tri Giê-hu, con trai Ha-na-ni, mà
phán nghịch cùng Ba-ê-sa và
nhà người, chẳng những vì cớ các tội
ác của người đã làm trước mặt
Ðức Giê-hô-va, lấy công việc của
tay mình mà chọc cho Ngài giận,
và vì làm giống như nhà của
Giê-rô-bô-am, mà lại bởi
vì người đã hủy diệt nhà ấy.
8. Năm thứ hai mươi sáu đời A-sa, vua Giu-đa, thì
Ê-la, con trai Ba-ê-sa, lên
làm vua Y-sơ-ra-ên. Người ở tại Tiệt-sa,
và cai trị hai năm.
9. Xim-ri, kẻ tôi tớ Ê-la, làm tướng coi
phân nửa xe binh, làm phản người. Ê-la,
ở Tiệt-sa, làm quan cai đền người tại thành ấy.
10. Xim-ri bèn vào giết người, nhằm năm hai mươi
bảy đời A-sa, vua Giu-đa, và cai trị thay cho người.
11. Xảy khi Xim-ri vừa lên ngôi làm vua,
thì người giết hết thảy nhà Ba-ê-sa,
chẳng để lại một nam đinh nào hết, hoặc bà con
hay là bằng hữu người cũng vậy.
12. Vì các tội lỗi mà
Ba-ê-sa và Ê-la con trai người
đã phạm, tức là tội đã gây
cho Y-sơ-ra-ên can phạm, và vì
các sự hư không của chúng nó
chọc giận Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của Y-sơ-ra-ên,
13. nên Xim-ri diệt hết cả nhà Ba-ê-sa,
y như lời Ðức Giê-hô-va đã cậy
miệng Giê-hu là đấng tiên tri,
mà phán ra cho Ba-ê-sa.
14. Các công việc khác của
Ê-la, và mọi việc người làm, đều
đã chép trong sử ký của các
vua Y-sơ-ra-ên.
15. Năm thứ hai mươi bảy đời A-sa, vua Giu-đa, thì Xim-ri
lên ngôi làm vua bảy ngày tại
Tiệt-sa. Bấy giờ, quân lính Y-sơ-ra-ên
đương vây Ghi-bê-thôn, là
thành vốn thuộc về dân Phi-li-tin.
16. Khi đạo binh hay tin này rằng: Xim-ri đã phản
nghịch và giết vua, thì cũng một ngày
đó, trong dinh, cả Y-sơ-ra-ên đều lập
Ôm-ri, là quan tổng binh, làm vua
trên Y-sơ-ra-ên.
17. Ôm-ri và cả Y-sơ-ra-ên từ
Ghi-bê-thôn đi lên vây Tiệt-sa.
18. Xảy khi Xim-ri thấy thành đã bị
hãm, thì đi vào đồn lũy của cung vua
mà đốt chính mình luôn với
cung vua, rồi chết
19. vì những tội lỗi người đã phạm,
làm điều ác trước mặt Ðức
Giê-hô-va, bắt chước theo đường của
Giê-rô-bô-am đã phạm, tức tội
đã gây cho Y-sơ-ra-ên can phạm.
20. Các chuyện khác của Xim-ri, sự người
làm phản, đều đã chép trong sử
ký của các vua Y-sơ-ra-ên.
21. Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên chia làm hai
phe: phe này theo Típ-ni, con trai
Ghi-nát, và muốn lập người làm vua;
phe kia theo Ôm-ri.
22. Nhưng phe theo Ôm-ri thắng hơn phe theo
Típ-ni, con trai Ghi-nát. Vậy, Típ-ni
chết và Ôm-ri cai trị.
23. Năm thứ ba mươi mốt đời A-sa, vua Giu-đa, thì
Ôm-ri lên ngôi làm vua
Y-sơ-ra-ên, và cai trị mười hai năm. Người trị
vì sáu năm tại Tiệt-sa.
24. Ðoạn, người mua hòn núi Sa-ma-ri của
Sê-me, giá là hai ta lâng
bạc. Trên núi ấy, người cất một cái
thành lấy tên Sê-me, là
tên chủ núi Sa-ma-ri mà đặt
tên cho thành.
25. Ôm-ri làm điều ác trước mặt
Ðức Giê-hô-va, ăn ở tệ hơn các
người tiên bối người.
26. Trong mọi sự, người bắt chước theo đường
Giê-rô-bô-am, con trai
Nê-bát, phạm tội mà
Giê-rô-bô-am đã phạm, tức tội
đã gây cho dân Y-sơ-ra-ên con
phạm, và lấy những sự hư không mình
mà chọc giận Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
27. Các chuyện khác của Ôm-ri, những
công việc người làm, và quyền thế
người, đều đã ghi trong sử ký của các
vua Y-sơ-ra-ên.
28. Ôm-ri an giấc với tổ phụ mình, và
được chôn tại Sa-ma-ri. A-háp, con trai người, kế
vị người.
29. Năm thứ ba mươi tám đời A-sa, vua Giu-đa, thì
A-háp, con trai Ôm-ri, lên
ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên; người ở
Sa-ma-ri, cai trị trên Y-sơ-ra-ên hai mươi hai năm.
30. A-háp, con trai Ôm-ri, làm điều
ác trước mặt Ðức Giê-hô-va hơn
hết thảy các người tiên bối mình.
31. Vả, người lấy sự bắt chước theo tội lỗi của
Giê-rô-bô-am, con trai
Nê-bát, làm nhỏ mọn, nên
người đi lấy Giê-sa-bên, con gái
Ết-ba-anh, vua dân Si-đôn, mà
làm vợ; người cũng đi hầu việc Ba-anh và thờ lạy
nó.
32. Người lập một bàn thờ cho Ba-anh tại trong miễu của
Ba-anh mà người đã cất tại Sa-ma-ri.
33. A-háp cũng dựng lên một hình tượng
Át-tạt-tê. Vậy, A-háp làm
nhiều điều ác, chọc giận Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hơn
các vua Y-sơ-ra-ên trước mình.
34. Trong đời A-háp, Hi-ên ở
Bê-tên, xây lại thành
Giê-ri-cô. Khi người đặt cái nền
thì mất A-bi-ram, con trưởng nam mình,
lúc dựng các cửa thì mất
Sê-gúp, con út mình, theo
như lời của Ðức Giê-hô-va đã cậy
Giô-suê, con trai của Nun, mà
phán ra.
1 Các Vua 17
Home
1. Ê-li ở Thi-sê-be, là một người trong
bọn đã sang ngụ Ga-la-át, nói với
A-háp rằng: Ta đứng trước mặt Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hằng sống
mà thề rằng: Mấy năm về sau đây, nếu ta chẳng
nói, chắc sẽ không có sương, cũng
không có mưa.
2. Ðoạn có lời của Ðức
Giê-hô-va phán dạy người rằng:
3. Hãy đi khỏi đây, qua phía
đông, và ẩn ngươi bên khe
Kê-rít, đối ngang Giô-đanh.
4. Ngươi sẽ uống nước của khe, và ta đã truyền
cho chim quạ nuôi ngươi tại đó.
5. Vậy, Ê-li đi, vâng theo lời của Ðức
Giê-hô-va, và đến ở nơi mé
khe Kê-rít đối ngang Giô-đanh.
6. Buổi mai và buổi chiều chim quạ đem bánh
và thịt cho người; và người uống nước khe.
7. Nhưng trong ít lâu, thì khe bị
khô, vì trong xứ không có mưa.
8. Bấy giờ, có lời của Ðức
Giê-hô-va phán dạy Ê-li rằng:
9. Hãy chổi dậy, đi đến Sa-rép-ta,
thành thuộc về Si-đôn, và ở tại
đó; kìa, ta đã truyền cho một người
góa bụa ở thành ấy lo nuôi ngươi.
10. Vậy, người đứng dậy đi đến Sa-rép-ta. Khi đến cửa
thành, người thấy một người đờn bà góa
lượm củi, bèn kêu mà nói
rằng: Ta xin ngươi hãy đi múc một chút
nước trong bình để cho ta uống.
11. Nàng bèn đi múc nước. Nhưng người
kêu lại và nói với nàng
rằng: Cũng hãy đem trong tay ngươi cho ta một miếng
bánh nữa.
12. Nàng đáp: Tôi chỉ mạng sống của
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
ông mà thề, tôi không
có bánh, chỉ có một nắm bột trong
vò và một chút dầu trong
bình; này tôi lượm hai khúc
củi, đoạn về nấu dọn cho tôi và con trai
tôi; khi ăn rồi, chúng tôi sẽ chết.
13. Nhưng Ê-li tiếp rằng: Chớ sợ chi, hãy trở về,
làm y như ngươi đã nói; song trước
hãy dùng bột ấy làm cho ta một
cái bánh nhỏ, rồi đem ra cho ta; kế sau ngươi sẽ
làm cho ngươi và cho con trai ngươi.
14. Vì Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vậy:
Bột sẽ không hết trong vò, và dầu sẽ
không thiếu trong bình, cho đến ngày
Ðức Giê-hô-va giáng mưa xuống
đất.
15. Vậy, nàng đi và làm theo điều
Ê-li nói. Nàng và
nhà nàng, luôn với Ê-li ăn
trong lâu ngày.
16. Bột chẳng hết trong vò, dầu không thiếu trong
bình, y như lời Ðức Giê-hô-va
đã cậy miệng Ê-li mà phán ra.
17. Sau một ít lâu, con trai của người đờn
bà, tức là chủ nhà, bị đau; bịnh rất
nặng đến đỗi trong mình nó chẳng còn
hơi thở.
18. Người đờn bà bèn nói với
Ê-li rằng: Hỡi người của Ðức Chúa Trời,
tôi với ông có việc chi chăng?
Có phải ông đến nhà tôi đặng
nhắc lại những tội lỗi tôi và giết con
tôi chăng?
19. Người đáp với nàng rằng: hãy giao
con nàng cho ta. Người bồng nó khỏi tay mẹ
nó, đem lên phòng cao, chỗ người ở,
và để nó nằm trên giường
mình.
20. Ðoạn, người kêu cầu cùng Ðức
Giê-hô-va mà rằng:
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
tôi ôi! cớ sao Ngài giáng tai
họa trên người đờn bà góa
này, nhà nàng là nơi
tôi trú ngụ, mà giết con trai người đi?
21. Người nằm ấp trên mình con trẻ ba lần, lại
kêu cầu cùng Ðức
Giê-hô-va nữa mà rằng: Ôi
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
tôi! xin Chúa khiến linh hồn của đứa trẻ
này trở lại trong mình nó.
22. Ðức Giê-hô-va nhậm lời của
Ê-li; linh hồn của đứa trẻ trở lại trong mình
nó, và nó sống lại.
23. Ê-li bồng đứa trẻ, đi xuống lầu, vào trong
nhà dưới, giao cho mẹ nó mà
nói rằng: Hãy xem, con nàng sống.
24. Nàng bèn nói cùng
Ê-li rằng: Bây giờ tôi nhìn
biết ông là một người của Ðức
Chúa Trời, và lời phán của Ðức
Giê-hô-va ở trong miệng ông là
thật.
1 Các Vua 18
Home
1. Cách lâu ngày, trong năm thứ ba
có lời của Ðức Giê-hô-va
phán dạy Ê-li rằng: Hãy đi, ra mắt
A-háp: ta sẽ khiến mưa sa xuống đất.
2. Vậy, Ê-li đi ra mắt A-háp. Vả, tại Sa-ma-ri
có cơn đói kém quá đỗi.
3. A-háp sai gọi Áp-đia, là quan gia
tể mình. (Áp-đia rất kính sợ
Ðức Giê-hô-va.
4. Xảy ra khi Giê-sa-bên diệt hết các
đấng tiên tri đi giấu trong hai hang đá, mỗi hang
năm mươi người, dùng bánh và nước
mà nuôi họ.)
5. A-háp nói với Áp-đia rằng:
Hãy đi khắp xứ, xem hết thảy các suối
và khe, có lẽ chúng ta sẽ
tìm được cỏ, và cứu cho ngựa và la
còn sống, không phải diệt hết các
súc vật ta chăng?
6. Vậy, hai người chia xứ đặng đi tuần. A-háp đi một
mình con đường này, và
Áp-đia đi một mình con đường kia.
7. Áp-đia đương đi đường, thì gặp Ê-li
ra đón mình. Áp-đia nhìn
biết người, sấp mình xuống đất, mà thưa rằng: Hỡi
Ê-li chúa tôi! có phải
ông chăng?
8. Người đáp: Ừ phải ta. Ngươi hãy đi
nói với chủ ngươi rằng: Ê-li ở đây.
9. Áp-đia tiếp rằng: Tôi có phạm tội
gì, mà ông muốn phó kẻ
tôi tớ ông vào tay A-háp, hầu
cho người giết tôi đi?
10. Tôi chỉ Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời hằng sống của ông mà thề,
chẳng dân nào nước nào mà
chủ tôi không sai đến tìm ông
và khi người ta đáp rằng: Ê-li
không có đây, thì người bắt
nước bắt dân ấy thề rằng không ai gặp ông.
11. Mà bây giờ, ông lại nói
với tôi tớ rằng: Hãy đi nói với chủ
ngươi: Ê-li ở đây.
12. Rồi khi tôi lìa khỏi ông, sẽ
có thần của Ðức Giê-hô-va đem
ông đi nơi nào tôi chẳng biết; vậy, khi
tôi đi thuật lại cùng A-háp,
mà người không thấy ông, ắt sẽ giết
tôi đi. Vả, kẻ tôi tớ ông kính
sợ Ðức Giê-hô-va từ khi thơ ấu.
13. Khi Giê-sa-bên giết các
tiên tri của Ðức Giê-hô-va,
thì tôi có giấu một trăm tiên
tri của Ðức Giê-hô-va trong hai hang
đá, mỗi hang năm mươi người, dùng bánh
và nước mà nuôi họ; người ta
há không có thuật điều đó
cho chúa tôi hay sao?
14. Và bây giờ, ông biểu tôi:
Hãy đi nói với chủ ngươi rằng: Ê-li ở
đây. Người ắt sẽ giết tôi đi.
15. Ê-li đáp rằng: Ta chỉ sanh mạng Ðức
Giê-hô-va vạn quân, là
Ðấng ta phục sự, mà thề rằng: Chính
ngày nay ta sẽ ra mắt A-háp.
16. Vậy, Áp-đia đi đón A-háp,
và thuật lại cho người. A-háp bèn đi
đón Ê-li.
17. Vừa khi A-háp thấy Ê-li, thì
nói rằng: Có phải ngươi, là kẻ
làm rối loạn Y-sơ-ra-ên chăng?
18. Ê-li đáp rằng: Chẳng phải tôi
làm rối loạn Y-sơ-ra-ên đâu;
bèn là vua và nhà cha vua,
bởi vì vua đã bỏ điều răn của Ðức
Giê-hô-va, và đã tin theo
thần Ba-anh.
19. Vậy bây giờ vua hãy sai người đi
nhóm cả Y-sơ-ra-ên, với bốn trăm năm mươi
tiên tri của Ba-anh, và bốn trăm tiên
tri của Át-tạt-tê, ăn tại bàn
Giê-sa-bên, khiến họ đến cùng
tôi trên núi Cạt-mên.
20. Vậy, A-háp sai người đi nhóm cả dân
Y-sơ-ra-ên và những tiên tri đến
núi Cạt-mên.
21. Ðoạn Ê-li đến trước mặt dân sự
mà nói rằng: Các ngươi đi giẹo hai
bên cho đến chừng nào? Nếu
Giê-hô-va là Ðức Chúa
Trời, khá theo Ngài; nếu Ba-anh là
Ðức Chúa Trời, hãy theo hắn. Song
dân sự không đáp một lời.
22. Bấy giờ, Ê-li nói với dân sự rằng:
Trong vòng những tiên tri của Ðức
Giê-hô-va, chỉ một mình ta
còn lại; còn các tiên tri
Ba-anh số là bốn trăm năm mươi người.
23. Vậy, hãy cho chúng ta hai con bò
đực; họ phải chọn một con cho mình, sả ra từ miếng, sắp để
trên củi, nhưng chớ châm lửa. Còn ta, ta
sẽ làm con bò kia, để nó
trên củi, nhưng không châm lửa.
24. Ðoạn, hãy kêu cầu danh của thần
các ngươi, còn ta, ta sẽ kêu cầu danh
của Ðức Giê-hô-va. Thần đáp lời
bằng lửa, ấy quả là Ðức Chúa Trời. Cả
dân sự đều đáp rằng: Lời nói rất phải.
25. Ê-li bèn nói với những
tiên tri Ba-anh rằng: hãy chọn một con
bò đực, làm nó trước đi, vì
các ngươi đông; rồi hãy cầu khẩn danh
của thần các ngươi; nhưng chớ châm lửa.
26. Vậy, chúng bắt con bò mà người ta
đã ban cho mà làm nó; rồi
từ sớm mai đến trưa, chúng cầu khẩn danh của Ba-anh,
và rằng: Hỡi Ba-anh! xin đáp lời chúng
tôi. Nhưng chẳng có tiếng gì, cũng
chẳng ai đáp lời; chúng đều nhảy chung quanh
bàn thờ mình đã dựng lên.
27. Khi đã đến trưa, Ê-li nhạo chúng
mà rằng: Khá la lớn lên đi,
vì người là thần; hoặc người đương suy gẫm, hoặc
ở đâu xa, hoặc đương đi đường; hay là
có lẽ người ngủ, và sẽ thức dậy.
28. Vậy, chúng kêu lớn tiếng; và theo
thói lệ họ, lấy gươm giáo gạch vào
mình cho đến chừng máu chảy ra.
29. Khi quá trưa rồi, họ cứ nói tiên
tri như vậy cho đến giờ dâng của lễ chay ban chiều; nhưng vẫn
không có tiếng gì, chẳng ai
đáp lời, cũng không cố ý đến.
30. Bấy giờ, Ê-li nói với cả dân sự
rằng: Hãy đến gần ta. Dân sự bèn đến
gần người. Ðoạn, Ê-li sửa lại cái
bàn thờ của Ðức Giê-hô-va bị
phá hủy.
31. Người lấy mười hai chi phái của các con trai
Gia-cốp, là người mà lời của Ðức
Giê-hô-va đã phán cho rằng:
Y-sơ-ra-ên sẽ là tên ngươi.
32. Người dùng mười hai hòn đá ấy
mà dựng lên một cái bàn thờ
nhơn danh Ðức Giê-hô-va; chung quanh
bàn thờ, người đào một cái mương đựng
được hai đấu hột giống;
33. rồi chất củi, sả bò tơ ra từ miếng, và sắp
nó lên trên củi. Kế người nói:
34. Hãy múc đầy bốn bình nước,
và đem đổ trên của lễ thiêu
và củi. Người lại nói: Hãy
làm lần thứ nhì; thì người ta
làm lần thứ nhì. Người tiếp: Hãy
làm lần thứ ba, và họ làm lần thứ ba,
35. cho đến đỗi nước chảy chung quanh bàn thờ, và
đầy cái mương nữa.
36. Ðến giờ dâng của lễ chay ban chiều,
tiên tri đến gần và nguyện rằng: Lạy
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Áp-ra-ham, của Y-sác, và của
Y-sơ-ra-ên, ngày nay xin hãy tỏ cho
người ta biết rằng Ngài là Ðức
Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên, rằng tôi
là kẻ tôi tớ Ngài, và
tôi vâng lời Ngài mà
làm mọi sự này.
37. Ðức Giê-hô-va ôi! Xin nhậm
lời tôi, xin đáp lời tôi, hầu cho
dân sự này nhìn biết rằng
Giê-hô-va là Ðức Chúa
Trời, và Ngài khiến cho lòng họ trở
lại.
38. Lửa của Ðức Giê-hô-va bèn
giáng xuống, thiêu đốt của lễ thiêu,
củi, đá, bụi, và rút nước trong mương.
39. Thấy vậy, cả dân sự sấp mình xuống đất,
và la rằng: Giê-hô-va là
Ðức Chúa Trời! Giê-hô-va
là Ðức Chúa Trời!
40. Ê-li nói với chúng rằng:
Hãy bắt các tiên tri của Ba-anh, chớ
cho thoát một người nào. Chúng
bèn bắt họ, Ê-li đem họ xuống dưới khe
Ki-sôn, và giết họ tại đó.
41. Ðoạn, Ê-li nói cùng
A-háp rằng: Hãy đi lên, ăn
và uống, vì tôi đã nghe
tiếng mưa lớn.
42. Vậy, A-háp trở lên đặng ăn uống. Nhưng
Ê-li leo lên chót núi
Cạt-mên, cúi xuống đất và úp
mặt mình giữa hai đầu gối.
43. Ðoạn, người nói với kẻ tôi tớ
mình rằng: Xin hãy đi lên,
ngó về phía biển. Kẻ tôi tớ đi
lên xem, nhưng nói rằng: Không
có chi hết. Ê-li lại nói:
Hãy trở lên bảy lần.
44. Lần thứ bảy, kẻ tôi tớ đáp rằng: Tôi
thấy ở phía biển lên một cụm mây nhỏ như
lòng bàn tay, Ê-li bèn tiếp:
Hãy đi nói với A-háp rằng:
Hãy thắng xe và đi xuống, kẻo mưa cầm vua lại
chăng.
45. Trong một lúc, trời bị mây che đen,
gió nổi dậy, và có cơn mưa rất lớn.
A-háp bèn lên xe mình, đi
đến Gít-rê-ên.
46. Tay Ðức Giê-hô-va giáng
trên Ê-li; người thắt lưng, chạy trước
A-háp cho đến khi tới
Gít-rê-ên.
1 Các Vua 19
Home
1. A-háp thuật lại cho Giê-sa-bên mọi
điều Ê-li đã làm, và người
đã dùng gươm giết hết thảy tiên tri
Ba-anh làm sao.
2. Giê-sa-bên sai một sứ giả đến Ê-li
mà nói rằng: Nếu ngày mai trong giờ
này, ta không xử mạng sống ngươi như mạng sống của
một người trong chúng nó, nguyện các
thần đãi ta cách nặng nề.
3. Vì vậy, Ê-li sợ hãi, đứng dậy chạy
đi đặng cứu mạng sống mình. Ðến tại
Bê-e-Sê-ba, thuộc về Giu-đa, người để tôi
tớ mình lại đó.
4. Còn người vào đồng vắng, đường đi ước một
ngày, đến ngồi dưới cây giếng giêng, xin
chết mà rằng: Ôi Ðức
Giê-hô-va! đã đủ rồi. Hãy cất
lấy mạng sống tôi, vì tôi
không hơn gì các tổ phụ tôi.
5. Ðoạn, người nằm ngủ dưới cây giếng
giêng. Có một thiên sứ đụng đến người
và nói rằng: Hãy chổi dậy
và ăn.
6. Người nhìn thấy nơi đầu mình một
cái bánh nhỏ nướng trên than,
và một bình nước. Người ăn uống, rồi lại nằm.
7. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va đến
lần thứ nhì, đụng người và nói rằng:
Hãy chổi dậy và ăn, vì đường xa
quá cho ngươi. Vậy người chổi dậy, ăn và uống,
8. rồi nhờ sức của lương thực ấy, người đi bốn mươi ngày
và bốn mươi đêm cho đến Hô-rếp,
là núi của Ðức Chúa Trời.
9. Ðến nơi, người đi vào trong hang đá,
ngủ đêm ở đó. Và kìa,
có lời của Ðức Giê-hô-va
phán với người rằng: Hỡi Ê-li, ngươi ở
đây làm chi?
10. Người thưa rằng: Tôi đã rất nóng
nảy sốt sắng vì Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời vạn quân; vì dân
Y-sơ-ra-ên đã bội giao ước Ngài,
phá hủy các bàn thờ Ngài,
dùng gươm giết những tiên tri Ngài; chỉ
một mình tôi còn lại, và họ
cũng kiếm thế cất mạng sống tôi.
11. Ðức Chúa Trời phán với người rằng:
Hãy đi ra, đứng tại trên núi trước mặt
Ðức Giê-hô-va. Nầy Ðức
Giê-hô-va đi ngang qua, có một ngọn
gió mạnh thổi dữ tợn trước mặt Ngài,
xé núi ra, và làm tan
nát các hòn đá; nhưng
không có Ðức Giê-hô-va
trong trận gió. Sau trận gió có cơn
động đất; nhưng không có Ðức
Giê-hô-va trong cơn động đất.
12. Sau cơn động đất có đám lửa; nhưng
không có Ðức Giê-hô-va
trong đám lửa. Sau đám lửa, có một
tiếng êm dịu nhỏ nhẹ.
13. Khi Ê-li vừa nghe tiếng đó, thì lấy
áo tơi bao phủ mặt mình, đi ra đứng tại nơi miệng
hang; này có một tiếng phán với người
rằng: Hỡi Ê-li, ngươi làm chi đây?
14. Người thưa rằng: Tôi rất nóng nảy sốt sắng
vì Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời vạn quân, vì dân
Y-sơ-ra-ên đã bội giao ước của Ngài,
phá hủy các bàn thờ Ngài,
dùng gươm giết những tiên tri; chỉ một
mình tôi còn lại, và họ cũng
tìm cách cất mạng sống tôi.
15. Nhưng Ðức Giê-hô đáp với
người rằng: Hãy bắt con đường đồng vắng đi đến
Ða-mách. Khi đến rồi, ngươi sẽ xức dầu cho
Ha-xa-ên làm vua Sy-ri;
16. ngươi cũng sẽ xức dầu cho Giê-hu, con trai của Nim-si,
làm vua Y-sơ-ra-ên; và ngươi sẽ xức dầu
cho Ê-li-sê, con trai Sa-phát, ở
A-bên-Mê-hô-la, làm
tiên tri thế cho ngươi.
17. Ai thoát khỏi gươm của Ha-xa-ên sẽ bị
Giê-hu giết; ai thoát khỏi gươm của
Giê-hu sẽ bị Ê-li-sê giết.
18. Nhưng ta đã để dành lại cho ta trong
Y-sơ-ra-ên bảy ngàn người không
có quì gối xuống trước mặt Ba-anh, và
môi họ chưa hôn nó.
19. Từ đó, Ê-li đi, gặp
Ê-li-sê, con trai của Sa-phát đương
cày có mười hai đôi bò trước
mặt mình, chính người cầm đôi thứ mười
hai. Ê-li đi ngang qua người, ném áo
choàng mình trên người.
20. Ê-li-sê bèn bỏ bò
mình, chạy theo Ê-li mà nói
rằng: Xin cho phép tôi hôn cha
và mẹ tôi đã, đoạn tôi sẽ
theo ông. Ê-li đáp: Hãy đi
và trở lại; vì ta nào có
làm gì cho ngươi đâu.
21. Ê-li-sê bèn lìa khỏi
Ê-li trở về, bắt một đôi bò giết đi,
và lấy cày làm củi mà nấu
thịt nó, rồi cho các tôi tớ
mình ăn. Ðoạn, người đứng dậy, đi theo
Ê-li, và hầu việc người.
1 Các Vua 20
Home
1. Bên-Ha-đát, vua Sy-ri, hiệp hết thảy
quân lính mình; có ba mươi
hai vua theo người, cùng ngựa và xe. Người đi
lên vây Sa-ma-ri và hãm
đánh nó.
2. Người sai sứ giả đến A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, ở
trong thành, và nói với người rằng:
Bên-Ha-đát nói như vầy:
3. Bạc và vàng của ngươi thuộc về ta.
Các cung phi và những con cái tốt nhất
của ngươi cũng thuộc về ta.
4. Vua Y-sơ-ra-ên đáp: Hỡi vua chúa
tôi, cứ như lời vua nói; tôi
và mọi vật của tôi đều thuộc về vua.
5. Nhưng các sứ giả trở lại cùng vua
Y-sơ-ra-ên mà nói rằng:
Bên-Ha-đát nói như vầy: Hãy
đưa bạc, vàng, cung phi, và các con
trai ngươi cho ta.
6. Thế thì, ngày mai, giờ này, ta sẽ
sai các đầy tớ ta đến nhà ngươi, chúng
nó sẽ lục soát nhà ngươi và
nhà của tôi tớ ngươi; phàm
món gì của ngươi lấy làm
quí trọng, chúng nó sẽ lấy đem đi.
7. Vua Y-sơ-ra-ên bèn đòi hết thảy
trưởng lão trong xứ, mà nói rằng:
hãy xem xét và biết rằng người
này toan mưu làm hại chúng ta;
vì người đã sai sứ đòi các
cung phi, con cái, bạc, và vàng của
ta; và ta không có từ chối
gì hết.
8. Các trưởng lão và cả dân
sự đều tâu với vua rằng: Ðừng nghe, và chớ
chịu chi hết.
9. Vậy A-háp đáp cùng sứ giả của
Bên-Ha-đát rằng: Hãy nói với
vua chúa ta Mọi điều vua đòi tôi tớ vua
làm lần thứ nhất, tôi sẽ làm; nhưng
điều này tôi không thế làm
được. Các sứ giả đi thuật lại lời đó cho
Bên-Ha-đát.
10. Bên-Ha-đát lại sai sứ nói rằng: Nếu
bụi cát ở Sa-ma-ri đủ lấp đầy lòng bàn
tay của các chiến sĩ theo ta, nguyện các thần
giáng tai họa cho ta nặng nề!
11. Nhưng vua Y-sơ-ra-ên đáp: Hãy
nói với vua rằng: Người mặc áo giáp
chớ khoe mình như người cổi nó ra.
12. Bên-Ha-đáp đương uống rượu với các
vua trong trại, vừa nghe được các lời này,
thì nói cùng các đầy tớ
mình rằng: Hãy dàn trận đi.
Chúng bèn dàn trận đặng hãm
đánh thành.
13. Vả, có một tiên tri đến gần A-háp,
vua Y-sơ-ra-ên, mà nói rằng:
Ðức Giê-hô-va phán như vầy:
Ngươi thấy đoàn binh rất đông này
chăng? Kìa, ngày nay, ta sẽ phó
nó vào tay ngươi, và ngươi sẽ biết ta
là Giê-hô-va.
14. A-háp thưa rằng: Dùng ai? Người
đáp: Ðức Giê-hô-va
phán như vầy: Dùng những kẻ tôi tớ của
các quan cai hàng tỉnh. Người tiếp: Ai sẽ giao
chiến? Tiên tri đáp: Chính vua.
15. A-háp soát điểm những tôi tớ của
các quan cai hàng tỉnh; có được hai
trăm ba mươi hai người. Kế sau, người soát điểm cả
dân Y-sơ-ra-ên, được bảy ngàn người.
16. Ban trưa, họ kéo đi ra; song
Bên-Ha-đát uống rượu say tại trại mình
với ba mươi hai vua giúp đỡ người.
17. Những tôi tớ của các quan cai hàng
tỉnh đi ra trước; Bên-Ha-đát sai kẻ hỏi dọ người
ta báo lại cho người rằng: Có người từ Sa-ma-ri
kéo ra.
18. Người đáp: Chúng nó đến hoặc
có ý cầu hòa, hãy bắt sống
lấy; hoặc có ý chiến tranh, cũng hãy
bắt sống lấy.
19. Vậy, những tôi tớ của các quan cai
hàng tỉnh kéo ra thành, và
đạo quân đi theo,
20. ai nấy đánh kẻ nghịch mình. Quân
Sy-ri chạy trốn, và Y-sơ-ra-ên rượt đuổi theo,
Bên-Ha-đát, vua Sy-ri, lên ngựa
thoát chạy với một vài lính kỵ.
21. Vua Y-sơ-ra-ên bèn kéo ra
đánh giết ngựa xe, làm cho dân Sỵ-ri
thua trận cả thể.
22. Bấy giờ, đấng tiên tri đến gần vua Y-sơ-ra-ên,
nói rằng: Vua hãy đi, làm cho
mình mạnh mẽ, và hãy xem
xét coi chừng điều mình phải làm,
vì năm tới vua Sy-ri sẽ đến đánh vua nữa.
23. Các đầy tớ của vua Sy-ri nói với người rằng:
Thần của chúng nó là thần
núi, cho nên chúng nó mạnh
hơn chúng ta; nhưng chúng ta hãy giao
chiến với chúng nó dưới đồng bằng; quả
chúng ta sẽ thắng hơn chúng nó.
24. Lại, khá làm điều này:
Hãy cất các vua khỏi chỗ làm đầu binh,
lập những quan cai thế vào cho;
25. đoạn, hãy điểm lấy một đạo quân giống như đạo
quân của vua đã mất, bằng số ngựa và xe
ấy; chúng ta sẽ giao chiến với dân
Y-sơ-ra-ên tại trong đồng bằng, quả chúng ta sẽ
thắng hơn chúng nó. Vua bèn nghe lời
đầy tớ mình và làm theo.
26. Năm tới, Bên-Ha-đát điểm soát
dân Sy-ri, và đi đến A-phéc đặng giao
chiến cùng Y-sơ-ra-ên.
27. Dân Y-sơ-ra-ên cũng bị điểm soát
và sắm lương thực, đi đón chúng
nó. Dân Y-sơ-ra-ên đóng trại
đối mặt dân Sy-ri giống như hai bầy dê nhỏ;
còn dân Sy-ri đầy khắp cả xứ.
28. Bấy giờ, người của Ðức Chúa Trời đến gần vua
Y-sơ-ra-ên mà nói rằng: Ðức
Giê-hô-va phán như vầy: Bởi
vì dân Sy-ri có nói rằng:
Ðức Giê-hô-va là thần
núi, chớ chẳng phải thần trũng, nên ta sẽ
phó đoàn binh rất đông đảo
này vào tay ngươi, và các
ngươi sẽ biết ta là Giê-hô-va.
29. Hai bên đóng trại đối ngang nhau trong bảy
ngày; ngày thứ bảy, họ giao chiến nhau.
Dân Y-sơ-ra-ên đánh dân Sy-ri,
trong một ngày giết họ mười vạn lính bộ.
30. Còn sót lại chạy trốn ẩn trong
thành A-phéc; song những vách
thành sập ngã, đè hai mươi bảy
ngàn người đã thoát khỏi trận.
Bên-Ha-đát cũng chạy trốn vào
thành, ẩn trong một phòng kín.
31. Các đầy tứ Bên-Ha-đát tâu
cùng người rằng: Chúng tôi
có nghe rằng các vua nhà
Y-sơ-ra-ên vốn nhân từ. Vì vậy, xin cho
chúng tôi thắt bao nơi lưng, vấn dây
trên đầu, rồi chúng tôi ra
hàng vua Y-sơ-ra-ên: hoặc người để cho vua sống
chăng.
32. Họ bèn thắt bao nơi lưng, vấn dây
trên đầu, rồi ra hàng vua Y-sơ-ra-ên,
và tâu rằng: Bên-Ha-đát, kẻ
tôi tớ vua, cầu rằng: Xin vua để cho tôi sống.
A-háp đáp rằng: Người còn sống chăng?
Người vốn là anh ta.
33. Chúng lấy sự ấy làm một điềm lành,
lật đật nhận lời và la lên rằng:
Bên-Ha-đát thật anh vua. A-háp tiếp
rằng: Hãy đi vời người đến cho ta.
Bên-Ha-đát bèn đến ra mắt
A-háp; người mời Bên-Ha-đát
lên xe mình.
34. Bên-Ha-đát nói với người rằng:
Tôi sẽ trao lại cho vua các thành
mà cha tôi đã chiếm lấy của cha vua,
và vua sẽ lập chợ phố cho vua tại
Ða-mách, y như cha tôi đã
làm tại Sa-ma-ri. A-háp đáp:
Còn ta sẽ thuận giao ước này mà để cho
ngươi đi về. Vậy, A-háp lập giao ước với
Bên-Ha-đát, đoạn để cho người đi.
35. Bấy giờ, có một người trong vòng
các con trai tiên tri, vâng lịnh
Ðức Giê-hô-va, nói với bạn
mình rằng: Tôi xin anh hãy
đánh tôi. Nhưng bạn không chịu
đánh người.
36. Người tiếp rằng: Bởi vì anh không
vâng theo lời phán dặn của Ðức
Giê-hô-va, nên liền khi anh
lìa khỏi tôi, sẽ có một con sư tử giết
anh. Bạn lìa khỏi người, thì gặp một con sư tử
giết người đi.
37. Tiên tri gặp một người khác, và
nói rằng: Ta xin ngươi hãy đánh ta.
Người ấy đánh tiên tri, và
làm cho người bị thương.
38. Ðoạn, tiên tri đi, đứng đợi trên đường
vua, xủ khăn bịt xuống mắt mình mà giả dạng.
39. Khi vua đi ngang qua, người cất tiếng la lên,
và nói với vua rằng: Tôi tớ vua ở giữa
chiến trận; thì có người dẫn đến cùng
tôi một kẻ phu tù, và biểu rằng:
Hãy giữ người này; xảy nó
thoát khỏi, thì mạng sống ngươi sẽ thường cho
mạng sống nó, hay là ngươi phải thường một ta
lâng bạc.
40. Song, trong khi kẻ tôi tớ vua mắc chuyện đây
đó, thì tên phu tù trốn đi.
Vua Y-sơ-ra-ên đáp rằng: Ấy là sự
đoán xét của ngươi; chính ngươi
đã định lấy.
41. Lập tức người vén khăn che mắt mình
lên, vua Y-sơ-ra-ên nhìn biết
là một người trong vòng các
tiên tri.
42. Tiên tri bèn nói rằng: Ðức
Giê-hô-va phán như vầy: Bởi
vì ngươi để thoát khỏi tay ngươi kẻ ta
đã định đáng tận diệt, vậy nên, mạng
sống ngươi sẽ thế cho mạng sống nó, và
dân sự ngươi thế cho dân sự nó.
43. Vua Y-sơ-ra-ên bèn trở về cung điện
mình tại Sa-ma-ri, lấy làm buồn rầu và
giận dữ.
1 Các Vua 21
Home
1. Sau các việc ấy, xảy có chuyện này:
Na-bốt, người Gít-rê-ên, có
một vườn nho tại trong đồng bằng
Gít-rê-ên, giáp đền của
A-háp, vua Sa-ma-ri.
2. A-háp nói cùng Na-bốt rằng:
Hãy nhường vườn nho của ngươi cho ta, để ta dùng
làm vườn rau; vì nó ở gần
bên đền ta. Ta sẽ đổi cho ngươi một vườn nho tốt hơn; hay
là, nếu ngươi thích, ta sẽ cho ngươi bằng bạc.
3. Nhưng Na-bốt thưa lại với A-háp rằng: Nguyện Ðức
Giê-hô-va giữ lấy tôi, chớ để
tôi nhường cho vua cơ nghiệp của tổ phụ tôi!
4. A-háp vào đền mình, buồn
và giận, bởi có lời Na-bốt, người
Gít-rê-ên đã nói;
vì người đã nói rằng: Tôi
không nhường cho vua cơ nghiệp của tổ tiên
tôi. A-háp nằm trên giường,
xây mặt đi, không chịu ăn.
5. Hoàng hậu Giê-sa-bên đến gần người
mà nói rằng: Bởi sao vua có
lòng buồn rầu và không chịu ăn?
6. Người đáp: Vì ta có nói
chuyện với Na-bốt, người Gít-rê-ên rằng:
Hãy nhường vườn nho ngươi cho ta mà lấy tiền, hay
là nếu ngươi thích, ta sẽ đổi cho ngươi một vườn
nho khác; song người đáp lại rằng: Tôi
không nhường cho vua vườn nho của tôi.
7. Hoàng hậu Giê-sa-bên bèn
nói rằng: Có phải ông hành
quyền vua trên Y-sơ-ra-ên chăng? Hãy
chổi dậy, ăn đi và vui lòng. Tôi sẽ ban
cho ông vườn nho của Na-bốt, người
Gít-rê-ên.
8. Giê-sê-bên viết thơ nhơn danh
A-háp, đóng ấn vua, gởi cho các trưởng
lão và kẻ cả ở trong thành Na-bốt
và ở cùng người.
9. Trong thơ nói như vầy: Hãy truyền rao lễ
kiêng ăn, rồi đặt Na-bốt ở đầu dân sự;
10. đoạn, hãy để trước mặt người hai kẻ gian phạm
làm chứng cho người, mà rằng: Ngươi có
rủa sả Ðức Chúa Trời và vua. Kế,
hãy dẫn người ra khỏi thành, ném
đá cho chết đi.
11. Những người của thành Na-bốt, tức những trưởng
lão, và kẻ cả ở đó, đều làm
theo lời Giê-sa-bên truyền dặn trong thơ
mà người đã gởi cho.
12. Họ rao truyền lễ kiêng ăn và đặt Na-bốt ở đầu
dân sự.
13. Bấy giờ, hai tên gian phạm đến ngồi trước mặt Na-bốt,
và cáo gian người tại trước mặt dân sự,
mà rằng: Na-bốt có rủa sả Ðức
Chúa Trời và vua. Ðoạn, họ dẫn người ra
khỏi thành, ném đá người chết.
14. Họ bèn sai đến nói với
Giê-sa-bên rằng: Na-bốt đã bị
ném đá và chết rồi.
15. Khi Giê-sa-bên hay rằng Na-bốt đã bị
ném đá và chết rồi, bèn
nói cùng A-háp rằng: Hãy
chổi dậy, nhận lấy vườn nho mà Na-bốt, người
Gít-rê-ên, đã từ chối
không chịu nhường cho ông để lấy bạc; vì
Na-bốt không còn sống nữa: đã chết rồi.
16. Nghe tin Na-bốt đã chết, A-háp liền đứng dậy
đi xuống vườn nho của Na-bốt, người
Gít-rê-ên, đặng lấy làm của
mình.
17. Bấy giờ, có lời của Ðức
Giê-hô-va phán dạy Ê-li, người
Thi-ê-se, rằng:
18. Hãy đứng dậy đi xuống đón A-háp,
vua Y-sơ-ra-ên, ở tại Sa-ma-ri. Kìa, người ở trong
vườn nho của Na-bốt, đặng lấy làm của mình.
19. Ngươi sẽ nói với người rằng: Ðức
Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi
há đã giết người, và bây giờ
lại chiếm lấy cơ nghiệp nó sao? Ngươi phải tiếp rằng:
Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Ở
tại chỗ mà chó đã liếm huyết của
Na-bốt, thì chó cũng sẽ liếm chính
huyết của ngươi.
20. A-háp bèn nói cùng
Ê-li rằng: Ớ kẻ thù nghịch, ngươi có
gặp ta à? Ê-li đáp: Phải, tôi
có gặp vua, bởi vì vua đã
bán mình đặng làm điều ác
trước mặt Ðức Giê-hô-va.
21. Vậy thì ta sẽ giáng họa trên ngươi.
Ta sẽ quét sạch ngươi, trừ diệt các nam đinh của
nhà A-háp, bất kỳ kẻ nô lệ hay
là người tự do trong Y-sơ-ra-ên;
22. vì ngươi chọc giận ta, xui cho Y-sơ-ra-ên phạm
tội, nên ta sẽ làm cho nhà ngươi giống
như nhà của Giê-rô-bô-am, con
trai Nê-bát, và giống như
nhà Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia.
23. Ðức Giê-hô-va cũng phán về
Giê-sa-bên, mà rằng: Chó sẽ
ăn thịt Giê-sa-bên tại thành lũy
Gít-rê-ên.
24. Phàm người thuộc về nhà A-háp, kẻ
nào chết tại trong thành sẽ bị chó ăn;
còn kẻ nào chết trong đồng sẽ bị chim trời rỉa ăn.
25. Quả thật, chẳng có ai giống như A-háp,
buông mình làm điều ác trước
mặt Ðức Giê-hô-va, vì bị
hoàng hậu Giê-sa-bên xui giục người.
26. Người làm điều gớm ghiếc quá độ,
mà theo hình tượng, y như dân
A-mô-rít làm, là
dân Ðức Giê-hô-va đã
đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
27. A-háp nghe lời của Ê-li nói,
bèn xé quần áo mình; lấy
bao mặc cho mình và nhịn đói; nằm vấn
bao và ở khiêm nhượng.
28. Bấy giờ, có lời của Ðức
Giê-hô-va phán dạy Ê-li, người
Thi-sê-be, mà rằng:
29. Ngươi có thấy thế nào A-háp hạ
mình xuống trước mặt ta chăng? Bởi vì người hạ
mình xuống trước mặt ta, ta không giáng
họa trong đời nó; nhưng trong đời con trai nó ta
sẽ giáng họa trên nhà nó.
1 Các Vua 22
Home
1. Trong ba năm Sy-ri và Y-sơ-ra-ên
không có giặc.
2. Năm thứ ba, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, đi đến
cùng vua Y-sơ-ra-ên.
3. Vua Y-sơ-ra-ên nói với tôi tớ
mình rằng: Các ngươi há chẳng biết
rằng Ra-mốt trong Ga-la-át thuộc về chúng ta sao?
Chúng ta lại làm thinh chẳng rứt nó
khỏi tay vua Sy-ri sao!
4. Ðoạn, người nói với
Giô-sa-phát rằng: Vua muốn đến cùng ta
đặng đánh lấy Ra-mốt trong Ga-la-át chăng?
Giô-sa-phát đáp với vua
Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi như ông;
dân sự tôi như dân sự ông;
và ngựa tôi như ngựa của ông.
5. Song Giô-sa-phát nói với vua
Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi xin ông phải cầu vấn
Ðức Giê-hô-va trước đã.
6. Vậy, vua Y-sơ-ra-ên nhóm các
tiên tri lại, số bốn trăm người, mà hỏi rằng: Ta
có nên đi đánh Ra-mốt tại
Ga-la-át, hay là chẳng nên đi?
Chúng đáp rằng: Hãy đi lên;
Chúa sẽ phó nó vào tay vua.
7. Nhưng Giô-sa-phát tiếp rằng: Ở đây
còn có đấng tiên tri nào
khác của Ðức Giê-hô-va để
chúng ta cầu vấn người ấy chăng?
8. Vua Y-sơ-ra-ên đáp với
Giô-sa-phát rằng: Còn có một
người, tên là Mi-chê, con trai của
Giêm-la; nhờ người ấy ta có thể cầu vấn
Ðức Giê-hô-va; nhưng tôi
ghét người, vì người chẳng nói
tiên tri lành về tôi, bèn
là dữ đó thôi.
Giô-sa-phát nói rằng: Xin vua chớ
nói như vậy.
9. Vua Y-sơ-ra-ên bèn đòi một hoạn quan
mà bảo rằng: Hãy lập tức mời Mi-chê,
con trai của Giêm-la, đến.
10. Vả, vua Y-sơ-ra-ên và
Giô-sa-phát, vua Giu-đa, mỗi người đều mặc đồ
triều phục, đương ngồi trên một cái ngai tại trong
sân đạp lúa, nơi cửa thành Sa-ma-ri;
và hết thảy tiên tri nói tiên
tri trước mặt hai vua.
11. Sê-đê-kia, con trai Kê-na-na,
làm lấy những sừng bằng sắt, và nói
rằng: Ðức giê-hô-va phán như
vầy: Với các sừng này, ngươi sẽ báng
dân Sy-ri cho đến khi diệt hết chúng nó.
12. Và hết thảy tiên tri đều nói một
cách, mà rằng: Hãy đi lên
Ra-mốt trong Ga-la-át; vua sẽ được thắng, vì
Ðức Giê-hô-va sẽ phó
thành ấy vào tay vua.
13. Vả, sứ giả đi mời Mi-chê, nói cùng
người rằng: Những tiên tri đều đồng lòng
báo cáo sự lành cho vua; tôi
xin ông cũng hãy lấy lời như lời của họ
mà báo cáo điều lành.
14. Nhưng Mi-chê đáp rằng: Ta chỉ Ðức
Giê-hô-va hằng sống mà thề, ta sẽ
báo cáo điều gì Ðức
Giê-hô-va dặn ta.
15. Khi người đã đến cùng vua, vua bèn
hỏi rằng: Hỡi Mi-chê, chúng ta có
nên đi hãm đánh Ra-mốt trong
Ga-la-át, hay là chẳng nên đi?
Mi-chê đáp: Hãy đi, vua sẽ được thắng:
Ðức Giê-hô-va sẽ phó
thành ấy vào tay vua.
16. Nhưng vua nói với người rằng: Biết bao lần ta
đã lấy lời thề buộc ngươi chỉ khá nói
chơn thật với ta nhơn danh Ðức Giê-hô-va.
17. Bấy giờ Mi-chê đáp rằng: Tôi thấy cả
Y-sơ-ra-ên bị tản lạc trên các
núi, như bầy chiên không có
người chăn; và Ðức Giê-hô-va
phán rằng: Những kẻ ấy không có chủ; ai
nấy khá trở về nhà mình
bình yên.
18. Vua Y-sơ-ra-ên nói cùng
Giô-sa-phát rằng: Tôi há
chẳng có nói với vua người chẳng nói
tiên tri lành về việc tôi,
bèn là nói tiên tri dữ sao?
19. Mi-chê lại tiếp: Vậy, hãy nghe lời của
Ðức Giê-hô-va: Tôi thấy
Ðức Giê-hô-va ngự trên
ngôi Ngài và cả cơ binh trên
trời đứng chầu Ngài bên hữu và
bên tả.
20. Ðức Giê-hô-va phán hỏi: Ai
sẽ đi dụ A-háp, để người đi lên Ra-mốt trong
Ga-la-át, và ngã chết tại
đó? Người trả lời cách này, kẻ trả lời
cách khác.
21. Bấy giờ, có một thần ra đứng trước mặt Ðức
Giê-hô-va mà thưa rằng: Tôi sẽ
đi dụ người. Ðức Giê-hô-va phán
hỏi thần rằng: Dụ cách nào?
22. Thần thưa lại rằng: Tôi sẽ đi và
làm một thần nói dối trong miệng những
tiên tri của người. Ðức Giê-hô-va
phán rằng: Phải, ngươi sẽ dụ người được. Hãy đi
và làm như ngươi đã nói.
23. Vậy bây giờ, kìa, Ðức
Giê-hô-va đã đặt một thần nói
dối trong miệng các tiên tri vua, và
Ðức Giê-hô-va đã phán
sự dữ cho vua.
24. Bấy giờ, Sê-đê-kia, con trai của
Kê-na-na, đến gần Mi-chê, vả vào
má người, mà rằng: Thần của Ðức
Giê-hô-va có do đường nào
lìa khỏi ta đặng đến nói với ngươi?
25. Mi-chê đáp: Trong ngày ngươi chạy
từ phòng này đến phòng kia đặng ẩn
lánh, thì sẽ biết điều đó.
26. Vua Y-sơ-ra-ên truyền lịnh rằng: Hãy bắt
Mi-chê dẫn đến cho A-môn, quan cai
thành, và cho Giô-ách, con
trai của vua,
27. rồi hãy nói rằng: Vua bảo như vầy:
Hãy bỏ tù người này, lấy
bánh và nước khổ nạn mà nuôi
nó cho đến khi ta trở về bình an.
28. Mi-chê tiếp rằng: Nếu vua trở về bình an,
thì Ðức Giê-hô-va
không cậy tôi phán. Người lại
nói: Hỡi chúng dân! các
ngươi khá nghe ta.
29. Vậy, vua Y-sơ-ra-ên đi lên Ra-mốt trong
Ga-la-át với Giô-sa-phát, vua Giu-đa.
30. Vua Y-sơ-ra-ên nói cùng
Giô-sa-phát rằng: Tôi sẽ giả dạng ăn
mặc, rồi ra trận; còn vua hãy mặc áo
của vua. Như vậy, vua Y-sơ-ra-ên ăn mặc giả dạng
mà ra trận.
31. Vả, vua Sỵ-ri đã truyền lịnh cho ba mươi hai quan coi xe
mình rằng: Các ngươi chớ áp
đánh ai bất kỳ lớn hay nhỏ, nhưng chỉ một mình
vua Y-sơ-ra-ên mà thôi.
32. Vậy, khi các quan coi xe thấy
Giô-sa-phát thì nói rằng: Ấy
quả thật là vua Y-sơ-ra-ên. Chúng
bèn đến gần người đặng áp đánh; nhưng
Giô-sa-phát kêu la lên.
33. Khi các quan coi xe thấy chẳng phải vua
Y-sơ-ra-ên, thì thối lại, không đuổi
theo nữa.
34. Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung bắn
vua Y-sơ-ra-ên, trúng nhằm người nơi
giáp đâu lại. Vua nói cùng
kẻ đánh xe mình rằng: Hãy quay cương
lại, dẫn ta ra ngoài hàng quân,
vì ta bị thương nặng.
35. Nhưng trong ngày đó thế trận thêm
dữ dội; có người nâng đỡ vua đứng trong xe
mình đối địch dân Sy-ri. Ðến chiều tối vua
chết; huyết của vít thương người chảy xuống trong
lòng xe.
36. Lối chiều, trong hàng quân có rao
truyền rằng: Ai nấy hãy trở về thành
mình, xứ mình.
37. Vua băng hà là như vậy; người ta đem
thây vua về Sa-ma-ri, và chôn tại
đó.
38. Người ta rửa xe người tại trong ao Sa-ma-ri, là nơi
những bợm buôn hương tắm, và có những
chó liếm máu người, y như lời Ðức
Giê-hô-va phán.
39. Các chuyện khác của A-háp, những
công việc người làm, cái đền bằng
ngà người cất, và các thành
người xây, đều chép trong sử ký về
các vua Y-sơ-ra-ên.
40. Vậy A-háp an giấc cùng tổ phụ
mình, và A-cha-xia, con trai người, kế vị người.
41. Năm thứ tư đời A-háp, vua Y-sơ-ra-ên,
thì Giô-sa-phát con trai A-sa,
lên ngôi làm vua Giu-đa.
42. Giô-sa-phát lên ngôi, tuổi
được ba mươi lăm; người cai trị hai mươi lăm năm tại
Giê-ru-sa-lem. Tên của mẹ người là
A-xu-ba, con gái của Si-chi.
43. Người đi theo đường của A-sa, cha người chẳng xây bỏ đi,
song làm điều thiện trước mặt Ðức
Giê-hô-va. (22:44) Nhưng người không trừ
bỏ các nơi cao; dân sự còn tế lễ
và đốt hương tại trên các nơi cao.
44. (22:45) Giô-sa-phát và vua
Y-sơ-ra-ên ở hòa hảo với nhau.
45. (22:46) Các chuyện khác của
Giô-sa-phát, dõng lực người, những giặc
giã người, đều đã chép trong sử
ký về các vua Giu-đa.
46. (22:47) Người trừ diệt những bợm vĩ-gian còn lại trong
xứ từ đời A-sa, cha mình.
47. (22:48) Bấy giờ, dân Ê-đôm
không có vua, có một quan trấn thủ cai
trị.
48. (22:49) Giô-sa-phát đóng một
đoàn tàu Ta-rê-si đặng đi
Ô-phia chở vàng, nhưng không đi đến
đó được, bởi vì tàu vỡ ra tại
Ê-xi-ôn-Ghê-be.
49. (22:50) A-cha-xia, con trai của A-háp, nói
với Giô-sa-phát rằng: Hãy cho
phép các đầy tớ ta đi tàu với
các đầy tớ ông. Nhưng
Giô-sa-phát không chịu.
50. (22:51) Giô-sa-phát an giấc với tổ phụ
mình, được chôn với họ trong thành
Ða-vít, cha người, và Giô-ram,
con trai người, kế vị người.
51. (22:52) Năm thứ bảy đời Giô-sa-phát, vua
Giu-đa, thì A-cha-xia, con trai A-háp,
lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên
tại Sa-ma-ri, và cai trị hai năm.
52. (22:53) Người làm điều ác trước mặt
Ðức Giê-hô-va, đi theo con đường của cha
và mẹ mình, cùng theo đường của
Giê-rô-bô-am, con trai của
Nê-bát, là người xui cho
Y-sơ-ra-ên phạm tội.
53. (22:54) Người hầu việc Ba-anh và thờ lạy nó,
chọc giận Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của Y-sơ-ra-ên, cứ theo mọi sự cha người đã
làm.