[1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29] [30] [31] [32] [33] [34] [35] [36]
Dân-số Ký 1
Home
1. Ngày mồng một tháng hai, năm thứ hai, sau khi
dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, Ðức
Giê-hô-va phán cùng
Môi-se ở trong hội mạc, tại đồng vắng Si-na-i, mà
rằng:
2. Hãy dựng sổ cả hội dân Y-sơ-ra-ên,
theo họ hàng và tông tộc của họ, cứ đếm
từng tên của hết thảy nam đinh,
3. từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người
trong Y-sơ-ra-ên đi ra trận được; ngươi và
A-rôn sẽ kê sổ chúng nó
tùy theo đội ngũ của họ.
4. Trong mỗi chi phái phải có một người
giúp đỡ các ngươi, tức là người
làm tộc trưởng của chi phái mình.
5. Ðây là tên những người sẽ
giúp đỡ các ngươi: Về chi phái
Ru-bên, Ê-lít-su, con trai của
Sê-đêu;
6. về chí phái Si-mê-ôn,
Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai;
7. về chi phái Giu-đa, Na-ha-sôn, con trai của
A-mi-na-đáp;
8. về chi phái Y-sa-ca, Na-tha-na-ên, con trai của
Xu-a;
9. về chi phái Sa-bu-lôn,
Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn;
10. về con cháu Giô-sép, nghĩa
là về chi phái Ép-ra-im,
Ê-li-sa-ma, con trai của A-mi-hút; về chi
phái Ma-na-se, Ga-ma-li-ên, con trai của
Phê-đát-su;
11. về chi phái Bên-gia-min, A-bi-đan, con trai
của Ghi-đeo-ni;
12. về chi phái Ðan, A-hi-ê-xe, con trai
của A-mi-sa-đai;
13. về chi phái A-se, Pha-ghi-ên, con trai của
Óc-ran;
14. về chi phái Gát,
Ê-li-a-sáp, con trai của
Ðê-u-ên;
15. về chi phái Nép-ta-li, A-hi-ra, con trai của
Ê-nan.
16. Ðó là những người được gọi từ trong
hội chúng, vốn là quan trưởng của các
chi phái tổ phụ mình, và là
quan tướng quân đội Y-sơ-ra-ên.
17. Vậy, Môi-se và A-rôn nhận lấy
các người ấy mà đã được xướng
tên;
18. đến ngày mồng một tháng hai, truyền
nhóm cả hội chúng, cứ kể tên từng người
từ hai mươi tuổi sắp lên mà nhập sổ theo họ
hàng và tông tộc của họ.
19. Vậy, Môi-se kê sổ chúng
nó tại đồng vắng Si-na-i, y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn.
20. Con cháu Ru-bên, là trưởng nam của
Y-sơ-ra-ên, dòng dõi họ tùy
theo họ hàng và tông tộc
mình, cứ kể từng tên của hết thảy nam đinh từ hai
mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi
phái Ru-bên đi ra trận được,
21. số là bốn mươi sáu ngàn năm trăm.
22. Con cháu Si-mê-ôn, dòng
dõi họ tùy theo họ hàng và
tông tộc mình, cứ kể từng tên của hết
thảy nam đinh từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi
người trong chi phái Si-mê-ôn đi ra trận
được,
23. số là năm mươi chín ngàn ba trăm.
24. Con cháu Gát, dòng dõi
họ tùy theo họ hàng và tông
tộc mình, cứ kể từng tên từ hai mươi tuổi sắp
lên, tức là mọi người trong chi phái
Gát đi ra trận được,
25. số là bốn mươi lăm ngàn sáu trăm
năm mươi.
26. Con cháu Giu-đa, dòng dõi họ
tùy theo họ hàng và tông tộc
mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp
lên, tức là mọi người trong chi phái
Giu-đa đi ra trận được,
27. số là bảy mươi bốn ngàn sáu trăm.
28. Con cháu của Y-sa-ca, dòng dõi họ
tùy theo họ hàng và tông tộc
mình, cứ kể từng tên, tứ hai mươi tuổi sắp
lên, tức là mọi người trong chi phái
Y-sa-ca đi ra trận được,
29. số là năm mươi bốn ngàn bốn trăm.
30. Con cháu của Sa-bu-lôn, dòng
dõi họ tùy theo họ hàng và
tông tộc mình cứ kể từng tên, từ hai
mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi
phái Sa-bu-lôn đi ra trận được,
31. số là năm mươi bảy ngàn bốn trăm.
32. Về hậu tự Giô-sép, là con
cháu Ép-ra-im, dòng dõi họ
tùy theo họ hàng và tông tộc
mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp
lên, tức là mọi người trong chi phái
Ép-ra-im đi ra trận được,
33. số là bốn mươi ngàn năm trăm.
34. Con cháu Ma-na-se, dòng dõi họ
tùy theo họ hàng và tông tộc
mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp
lên, tức là mọi người trong chi phái
Ma-na-se đi ra trận được,
35. số là ba mươi hai ngàn hai trăm.
36. Con cháu Bên-gia-min, dòng
dõi họ tùy theo họ hàng và
tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai
mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi
phái Bên-gia-min đi ra trận được,
37. số là ba mươi lăm ngàn bốn trăm.
38. Con cháu Ðan, dòng dõi họ
tùy theo họ hàng và tông tộc
mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp
lên, tức là mọi người trong chi phái
Ðan đi ra trận được,
39. số là sáu mươi hai ngàn bảy trăm.
40. Con cháu A-se, dòng dõi họ
tùy theo họ hàng và tông tộc
mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp
lên, tức là mọi người trong chi phái
A-se đi ra trận được,
41. số là bốn mươi mốt ngàn năm trăm.
42. Con cháu Nép-ta-li, dòng
dõi họ tùy theo họ hàng và
tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai
mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi
phái Nép-ta-li đi ra trận được,
43. số là năm mươi ba ngàn bốn trăm.
44. Ðó là những người mà
Môi-se, A-rôn, và mười hai quan trưởng
Y-sơ-ra-ên kê sổ; mỗi quan trưởng kê sổ
cho tông tộc mình.
45. Thế thì, hết thảy những người trong dân
Y-sơ-ra-ên đã được nhập sổ tùy theo
tông tộc mình, từ hai mươi tuổi sắp lên,
tức là mọi người trong Y-sơ-ra-ên đi ra trận được,
46. số là sáu trăm ba ngàn năm trăm
năm mươi.
47. Nhưng người Lê-vi, theo chi phái tổ phụ
mình, không kê số chung với những chi
phái khác.
48. Vì Ðức Giê-hô-va
có phán cùng Môi-se rằng:
49. Ngươi chớ kê sổ chi phái Lê-vi,
và cũng đừng dựng bộ họ chung với dân
Y-sơ-ra-ên;
50. nhưng hãy cắt phần người Lê-vi coi
sóc đền tạm chứng cớ, hết thảy đồ đạc và
các món thuộc về đền tạm. Ấy là người
Lê-vi sẽ chuyên-vận đền tạm và hết thảy
đồ đạc nó, cùng sẽ làm công
việc về đền tạm và đóng trại ở chung quanh đền
tạm.
51. Khi nào đền tạm dời chỗ, thì người
Lê-vi sẽ tháo dỡ nó; khi nào
đền tạm dừng lại, thì họ sẽ dựng nó
lên; còn người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.
52. Dân Y-sơ-ra-ên mỗi người phải đóng ở
trong trại quân mình, và mỗi trại
quân, từng đội ngũ, phải đóng gần bên
ngọn cờ mình.
53. Nhưng người Lê-vi sẽ đóng trại chung quanh đền
tạm chứng cớ, để đừng có sự giận dữ cùng
hội-dân Y-sơ-ra-ên; người Lê-vi sẽ coi
sóc đền tạm chứng cớ.
54. Dân Y-sơ-ra-ên làm y như mọi điều
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn Môi-se vậy.
Dân-số Ký 2
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se và A-rôn rằng:
2. Dân Y-sơ-ra-ên mỗi người phải đóng
trại gần bên ngọn cờ mình, ở dưới bảng hiệu của
tông tộc mình, đối ngang nhau vây chung
quanh hội mạc.
3. Trại quân Giu-đa sẽ đóng tại hướng
đông, về phía mặt trời mọc, với ngọn cờ
và những đội ngũ của mình. Quan-trường của người
Giu-đa là Na-ha-sôn, con trai của
A-mi-na-đáp;
4. và quân-dội người, cứ theo kê sổ,
cọng bảy mươi bốn ngàn sáu trăm người.
5. Chi phái Y-sa-ca phải đóng trại bên
Giu-đa; quan trưởng của người Y-sa-ca là
Na-tha-na-ên, con trai Xu-a;
6. và quân đội người, cứ theo kê sổ,
cọng năm mươi bốn ngàn bốn trăm người.
7. Kế đến chi phái Sa-bu-lôn; quan trưởng của
người Sa-bu-lôn là Ê-li-áp,
con trai của Hê-lôn,
8. và quân đội ngươi, cứ theo kê sổ,
cộng năm mươi bảy ngàn bốn trăm người.
9. Vậy, các người đã kê sổ theo trại
quân Giu-đa, từng đội ngũ, cộng một trăm tám mươi
sáu ngàn bốn trăm người. Họ phải đi
tiên phong.
10. Ngọn cờ của trại quân Ru-bên và
những đội ngũ mình, phải đóng về hướng nam. Quan
trưởng của người Ru-bên là Ê-li-su, con
trai của Sê-đêu;
11. và quân đội người, cứ theo kê sổ,
cộng bốn mươi sáu ngàn năm trăm người.
12. Chi phái Si-mê-ôn phải
đóng trại bên Ru-bên; quan trưởng của
người Si-mê-ôn là
Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai;
13. và quân đội người, cứ theo kê sổ,
cộng năm mươi chín ngàn ba trăm người.
14. Kế đến chi phái Gát; các quan
trưởng của người Gát là
Ê-li-a-sáp, con trai của
Rê-u-ên;
15. và quân đội người, cứ theo kê sổ,
cộng bốn mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi người.
16. Vậy, các người đã kê sổ theo trại
quân Ru-bên, từng đội ngũ, cộng một trăm năm mươi
mốt ngàn bốn trăm năm mươi người. Họ phải đi thứ
nhì.
17. Sau ấy, hội mạc sẽ đi với trại quân Lê-vi, ở
giữa các trại quân khác; trại
quân Lê-vi sẽ đi theo thứ tự như đã
đóng, mỗi người theo hàng ngũ và theo
ngọn cờ mình.
18. Ngọn cờ của trại quân Ép-ra-im và
những quân đội người phải đóng về hướng
tây; quan trưởng của người Ép-ra-im là
Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút;
19. và quân đội người, cứ theo kê sổ,
cộng bốn mươi ngàn năm trăm người.
20. Chi phái Ma-na-se phải đóng trại
bên Ép-ra-im; quan trưởng của người Ma-na-se
là Ga-ma-li-ên, con trai của
Phê-đát-su:
21. và quân đội người, cứ theo kê sổ,
cộng ba mươi hai ngàn hai trăm người.
22. Kế đến chi phái Bên-gia-min; quan trưởng của
người Bên-gia-min là A-bi-đan, con trai của
Ghi-đeo-ni;
23. và quân đội người, cứ theo kê sổ,
cộng ba mươi lăm ngàn bốn trăm người.
24. Vậy, các người đã kê sổ theo trại
quân Ép-ra-im, từng đội ngũ, cộng một trăm
tám ngàn một trăm người. Họ phải đi thứ ba.
25. Ngọn cờ của trại quân Ðan và những
quân đội họ phải đóng về hướng bắc. Quan trưởng
của người Ðan là A-hi-ê-xe, con trai của
A-mi-sa-đai;
26. và quân đội người, cứ theo kê sổ,
cộng sáu mươi hai ngàn bảy trăm người.
27. Chi phái A-se phải đóng trại bên
Ðan; quan trưởng của người A-se là
Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran;
28. và quân đội người, cứ theo kê sổ,
cộng bốn mươi mốt ngàn năm trăm người.
29. Kế đến chi phái Nép-ta-li, quan trưởng của
người Nép-ta-li là A-hi-ra, con trai của
Ê-nan;
30. và quân đội người, cứ theo kê sổ,
cộng năm mươi ba ngàn bốn trăm người.
31. Vậy, các người đã kê sổ theo trại
quân Ðan, cộng một trăm năm mươi bảy ngàn
sáu trăm người. Họ theo ngọn cờ mình phải đi hậu
binh.
32. Ðó là những người trong dân
Y-sơ-ra-ên mà người ta tu bộ tùy theo
tông tộc mình. Trong các trại
quân hết thảy người đã kê sổ từng đội
ngũ là sáu trăm ba ngàn năm trăm năm
mươi người.
33. Nhưng người Lê-vi không nhập sổ chung với
dân Y-sơ-ra-ên, tùy theo mạng của
Ðức Giê-hô-va đã truyền cho
Môi-se.
34. Dân Y-sơ-ra-ên y theo mọi điều Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se, bèn đóng trại tùy
theo ngọn cờ mình, và mỗi người ra đi
tùy theo họ hàng và tông tộc
mình.
Dân-số Ký 3
Home
1. Nầy là dòng dõi của A-rôn
và Môi-se, về ngày Ðức
Giê-hô-va phán cùng
Môi-se tạo trên núi Si-na-i.
2. Nầy là tên các con trai
A-rôn: Trưởng nam là Na-đáp, A-bi-hu,
Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma.
3. Ðó là tên các con
trai A-rôn, tức những thầy tế lễ đã chịu
phép xức dầu, và được lập lên để
làm chức tế lễ.
4. Vả, Na-đáp và A-bi-hu đã
thác trước mặt Ðức Giê-hô-va khi
hai người dâng một thứ lửa lạ trước mặt Ðức
Giê-hô-va tại trong đồng vắng Si-na-i. Hai người
nầy không có con. Còn
Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma làm
chức tế lễ trước mặt A-rôn, là cha mình.
5. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng:
6. Hãy khiến chi phái Lê-vi lại gần,
đặt trước thầy tế lễ A-rôn, để người Lê-vi sẽ phục
sự người.
7. Người Lê-vi sẽ giữ chức phận của người và chức
phận của cả hội chúng về trước hội mạc mà
làm những công việc của đền tạm.
8. Cũng phải coi sóc hết thảy đồ đạc của hội mạc
và mọi vật chi dân Y-sơ-ra-ên giao cho
đặng dùng làm công việc của đền tạm.
9. Vậy, ngươi phải giao người Lê-vi cho A-rôn
và cho các con trai người; vì
đã lấy họ từ trong vòng dân
Y-sơ-ra-ên mà ban trọn cho A-rôn rồi.
10. Vậy, ngươi sẽ lập A-rôn và các con
trai người, để làm chức tế lễ; người ngoại đến gần sẽ bị xử
tử.
11. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
12. Nầy, từ giữa dân Y-sơ-ra-ên ta chọn lấy người
Lê-vi thế cho hết thảy con đầu lòng của
dân Y-sơ-ra-ên; vậy, người Lê-vi sẽ thuộc
về ta.
13. Vì hết thảy con đầu lòng đều thuộc về ta;
ngày xưa khi ta hành hại các con đầu
lòng trong xứ Ê-díp-tô, ta
đã biệt riêng ra thánh cho ta hết thảy
con đầu lòng trong Y-sơ-ra-ên, bất luận
loài người hay thú vật; chúng
nó đều sẽ thuộc về ta, Ta là Ðức
Giê-hô-va.
14. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se tại trong đồng vắng Si-na-i
mà rằng:
15. Hãy kê sổ con cháu Lê-vi,
tùy theo tông tộc và họ hàng
chúng nó, kê hết thảy nam đinh từ một
tháng sắp lên.
16. Môi-se bèn kê sổ người
Lê-vi theo mạng của Ðức
Giê-hô-va, y như Ngài đã
phán dặn người vậy.
17. Ðây là các con trai của
Lê-vi kể từng tên: Ghẹt-sôn,
Kê-hát, và Mê-ra-ri.
18. Ðây là tên của
các con trai Ghẹt-sôn, tùy theo họ
hàng mình: Líp-ni và
Si-mê-y.
19. Ðây là các con trai của
Kê-hát tùy theo họ hàng
mình: Am-ram, Dít-sa, Hếp-rôn
và U-xi-ên;
20. và các con trai của Mê-ra-ri,
tùy theo họ hàng mình, là:
Mách-li và Mu-si. Ðó
là những họ hàng của người Lê-vi,
tùy theo tông tộc của họ.
21. Họ hàng Líp-ni và họ
hàng Si-mê-y thuộc về Ghẹt-sôn.
Ðó là hai họ hàng của
Ghẹt-sôn vậy.
22. Những người trong họ Ghẹt-sôn được tu bộ, kể mọi nam đinh
từ một tháng sắp lên, số là bảy
ngàn năm trăm người.
23. Các họ hàng của Ghẹt-sôn
đóng trại về phía tây, sau đền tạm.
24. Quan trưởng của tông tộc Ghẹt-sôn là
Ê-li-a-sáp, con trai của La-ên.
25. Chức phận của con cháu Ghẹt-sôn trong hội mạc
là coi sóc mọi vật chi can đến đền tạm
và Trại, tức là tấm bong của Trại và
bức màn của cửa hội mạc;
26. các bố vi của hành lang, và bức
màn của cửa hành lang bao phủ chung quanh đền tạm
và bàn thờ, cùng dây chạc về
các việc của đền tạm.
27. Họ hàng Am-ram, họ hàng Dít-sa, họ
hàng Hếp-rôn và họ hàng
U-xi-ên thuộc về Kê-hát.
Ðó là những họ hàng của
Kê-hát.
28. Cứ kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số
là tám ngán sáu trăm người
có chức phận săn sóc nơi thánh.
29. Các họ hàng của con cháu
Kê-hát đóng trại bên
hông đền tạm về phía nam.
30. Quan trưởng của tông tộc Kê-hát
là Ê-li-sa-phan, con trai của U-xi-ên.
31. Người Kê-hát coi sóc hòm
bảng chứng, cái bàn, chân
đèn, các bàn thờ, và những
đồ đạc của nơi thánh để dùng về việc thờ phượng,
luôn với bức màn và các vật
chi can đến.
32. Tổng trưởng của người Lê-vi là
Ê-lê-a-sa, con trai của thầy tế lễ A-rôn,
được đặt lên quản trị những người coi sóc nơi
thánh.
33. Họ hàng Mách-li và họ
hàng Mu-si thuộc về Mê-ra-ri.
Ðó là hai họ hàng của
Mê-ra-ri vậy.
34. Những người trong bọn Mê-ra-ri được tu bộ, kể mọi nam
đinh từ một tháng sắp lên, số là
sáu ngàn hai trăm người.
35. Quan trưởng của tông tộc Mê-ra-ri là
Xu-ri-ên, con trai của A-bi-hai. Con cháu
Mê-ra-ri đóng trại bên hông
đền tạm về phía bắc,
36. có phần coi sóc các tấm
ván của đền tạm, cây xà ngang, trụ, lỗ
trụ, những đồ đạc, và mọi việc thuộc về đó,
37. những trụ ở chung quanh hành lang và lỗ trụ,
những nọc và dây chạc của trụ.
38. Những người đóng trại trước đền tạm về phía
đông, tức trước hội mạc về phía mặt trời mọc,
là Môi-se, A-rôn và
các con trai người, có chức phận săn
sóc nơi thánh thế cho dân
Y-sơ-ra-ên. Người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.
39. Hết thảy người Lê-vi mà Môi-se
và A-rôn vâng mạng Ðức
Giê-hô-va tu bộ, tùy theo họ
hàng của họ, kể mọi nam đinh từ một tháng sắp
lên, số là hai mươi hai ngàn người.
40. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
kê sổ hết thảy con trưởng nam của dân
Y-sơ-ra-ên, từ một tháng sắp lên,
và hãy dựng sổ tên chúng
nó.
41. Ta là Ðức Giê-hô-va. Ngươi
phải chọn lấy cho ta người Lê-vi thế cho các con
trưởng nam trong dân Y-sơ-ra-ên; cũng phải bắt
súc vật của người Lê-vi thế cho mọi con
súc vật đầu lòng của dân
Y-sơ-ra-ên.
42. Vậy, Môi-se kê sổ các con trưởng nam
của dân Y-sơ-ra-ên, y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn người.
43. Hết thảy những con trưởng nam kể từng tên, từ tuổi một
tháng sắp lên, theo sự kê sổ họ,
là hai mươi hai ngàn hai trăm bảy mươi ba người.
44. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
45. Hãy chọn lấy những người Lê-vi thế cho hết
thảy con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên,
và súc vật của người Lê-vi thế cho
súc vật của dân Y-sơ-ra-ên; vậy,
các người Lê-vi sẽ thuộc về ta. Ta là
Ðức Giê-hô-va.
46. Còn về sự chuộc lại con trưởng nam của dân
Y-sơ-ra-ên, kê sổ hơn số người Lê-vi hai
trăm bảy mươi ba,
47. thì ngươi phải thâu mỗi người năm siếc-lơ,
tùy theo siếc-lơ nơi thánh; một siếc-lơ
là hai chục ghê-ra.
48. Ngươi phải giao bạc cho A-rôn và
các con trai người; ấy là bạc chuộc lại những con
trưởng nam trổi hơn.
49. Vậy, Môi-se thâu bạc chuộc lại những con trưởng
nam trổi hơn số người Lê-vi đã chuộc lại.
50. Bạc mà người thâu về những con trưởng nam của
dân Y-sơ-ra-ên, cộng được một ngàn ba
trăm sáu mươi lăm siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi
thánh.
51. Môi-se vâng mạng Ðức
Giê-hô-va, giao bạc chuộc lại cho A-rôn
và các con trai người, y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
Dân-số Ký 4
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se và A-rôn rằng:
2. Trong người Lê-vi hãy dựng sổ các
con cháu Kê-hát, tùy theo họ
hàng và tông tộc của chúng
nó,
3. từ ba mươi tuổi sắp lên cho đến năm mươi, tức
là hết thảy người nào có thể
giúp công vào hội mạc.
4. Nầy sẽ là phần việc của con cháu
Kê-hát tại trong hội mạc. Họ sẽ coi sóc
nơi chí thánh.
5. Khi nào dời trại quân đi, A-rôn
và các con trai người sẽ đến gỡ bức
màn mà bao lấy hòm bảng chứng;
6. đoạn, đắp lên một tấm phủ bằng da cá nược, trải
trên một tấm nỉ toàn bằng màu điều xanh
và xỏ đòn khiêng vào.
7. Cũng trải một tấm nỉ màu điều xanh trên
cái bàn về bánh trần thiết; ở
trên bàn thì sắp đĩa, chén,
tộ và chậu về những lễ quán; bánh hằng
trần thiết cũng sẽ có ở trên nữa.
8. Rồi trải trên các vật đó một tấm nỉ
màu đỏ sặm, đắp một tấm phủ bằng da cá nược
và xỏ đòn khiêng vào.
9. Cũng phải lấy một tấm nỉ màu điều xanh mà đậy
chân đèn thắp, các thếp đèn,
kéo hớt tim, đồ đựng tro, và các
bình dầu mà người ta dùng về
chân đèn.
10. Rồi để chân đèn và hết thảy đồ phụ
tùng trong một tấm phủ bằng da cá nược, để
lên trên cái sề.
11. Họ phải trải trên bàn thờ bằng vàng
một tấm nỉ màu điều xanh và đắp một tấm phủ bằng
da cá nược rồi xỏ đòn khiêng
vào.
12. Lại, cũng phải lấy hết thảy đồ đạc dùng về
công việc nơi thánh, để trong một tấm nỉ
màu điều xanh, rồi đắp một tấm phủ bằng da cá
nược và để lên trên cái sề.
13. Phải hốt tro của bàn thờ, trải ở trên một tấm
nỉ màu đỏ điều,
14. để lên trên hết thảy đồ đạc dùng về
công việc của bàn thờ, tức là những lư
hương, nĩa, và, chén, cùng những đồ
phụ tùng của bàn thờ. Rồi đắp trên
bàn thờ một tấm phủ bằng da cá nược và
xỏ đòn khiêng vào.
15. Sau khi A-rôn và các con trai người
đã đậy-điệm nơi thánh và
các đồ đạc thánh xong, khi dời trại
quân đi, thì các con cháu
Kê-hát phải đến đặng khiêng
các đồ đạc đó; họ chẳng nên đụng
vào những vật thánh, e phải chết chăng. Trong hội
mạc, ấy là đồ mà các con
cháu Kê-hát phải khiêng đi.
16. Ê-lê-a-sa, con trai thầy tế lễ A-rôn,
sẽ coi về dầu thắp đèn, hương-liệu, của lễ chay hằng hiến,
dầu xức, cả đền tạm, và hết thảy vật chi ở trong nơi
thánh với đồ phụ tùng của nơi thánh.
17. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se và A-rôn rằng:
18. Hãy làm thể nào cho tông
tộc Kê-hát chớ bị truất khỏi chi phái
Lê-vi,
19. và hãy làm điều nầy cho
chúng nó, để khi đến gần nơi chí
thánh, chúng nó được sống, chẳng phải
chết: A-rôn và các con trai người phải
đến cắt công việc cho mỗi người, và đồ chi họ phải
khiêng đi.
20. Dẫu một lát, chúng nó chớ
nên vào đặng xem những vật thánh, e
phải chết chăng.
21. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
22. Cũng hãy dựng sổ các con cháu
Ghẹt-sôn, tùy theo tông tộc
và họ hàng họ.
23. Từ ba mươi tuổi sắp lên cho đến năm mươi, ngươi
khá kê sổ hết thảy những người nào
có thể làm công việc trong hội mạc.
24. Nầy là chức việc của các họ hàng
Ghẹt-sôn, hoặc phải làm hoặc phải khiêng
đồ:
25. họ sẽ mang những tấm màn của đền tạm và hội
mạc, tấm bong của hội mạc, tấm lá-phủ bằng da cá
nược ở trên, và bức màn của cửa hội mạc;
26. các bố vi của hành lang ở chung quanh đền tạm
và bàn thờ, bức màn của cửa
hành lang, những dây chạc, và hết thảy
đồ dùng về các vật đó, cùng
làm các công việc về những
món ấy.
27. Hết thảy công việc của con cháu
Ghẹt-sôn, món chi họ phải khiêng đi,
và việc chi họ phải làm điều sẽ theo lịnh
A-rôn và các con trai người chỉ biểu;
người phải giao cho họ coi sóc mọi món chi phải
khiêng đi.
28. Trong hội mạc, ấy là công việc của
các họ hàng con cháu
Ghẹt-sôn. Họ sẽ giữ chức phận mình dưới quyền cai
trị của Y-tha-ma, con trai thầy tế lễ A-rôn.
29. Ngươi phải kê sổ con cháu Mê-ra-ri,
tùy theo họ hàng và tông tộc
của họ,
30. từ ba mươi tuổi sắp lên cho đến năm mươi, tức
là hết thảy người nào có thể
giúp công vào hội mạc.
31. Về các công việc của con cháu
Mê-ra-ri trong hội mạc, nầy là vật họ phải coi
sóc và khiêng đi: những tấm
ván của đền tạm, các xà ngang, trụ, lỗ
trụ,
32. các trụ chung quanh hành lang và
lỗ trụ, nọc, dây chạc, cùng hết thảy đồ đạc
và các vật chi dùng về việc
đó; các ngươi sẽ kê sổ từng
tên những vật chi họ phải coi sóc và
khiêng đi.
33. Ðó là hết thảy việc của
các họ hàng Mê-ra-ri, về những
công việc trong hội mạc mà họ phải làm
ở dưới quyền cai trị của Y-tha-ma, con trai thầy tế lễ A-rôn.
34. Vậy, Môi-se, A-rôn và những hội
trưởng kê sổ con cháu Kê-hát,
tùy theo họ hàng và tông tộc
của họ,
35. từ ba mươi tuổi sắp lên cho đến năm mươi, tức
là hết thảy người nào có thể
giúp công trong hội mạc;
36. và những người mà người ta kê sổ,
tùy theo họ hàng mình, cộng được hai
ngàn bảy trăm năm mươi.
37. Ðó là những người của các
họ hàng Kê-hát đã bị
kê sổ, tức là hết thảy người hầu việc trong hội
mạc mà Môi-se và A-rôn
kê sổ, y theo mạng của Ðức
Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền
dạy.
38. Còn con cháu của Ghẹt-sôn
đã bị kê sổ, tùy theo họ
hàng và tông tộc của họ,
39. từ ba mươi tuổi sắp lên cho đến năm mươi, tức
là hết thảy người có thể giúp
công trong hội mạc,
40. cộng được hai ngàn sáu trăm ba mươi.
41. Ðó là những người về các
họ hàng con cháu Ghẹt-sôn đã
bị kê sổ, tức là mọi người hầu việc trong hội mạc
mà Môi-se và A-rôn tu bộ y
theo mạng của Ðức Giê-hô-va.
42. Còn những người về họ hàng con
cháu Mê-ra-ri đã bị kê sổ,
tùy theo họ hàng và tông tộc
của họ,
43. từ ba mươi tuổi sắp lên cho đến năm mươi, tức
là mọi người có thể giúp
công trong hội mạc,
44. cộng được ba ngàn hai trăm.
45. Ðó là những người về các
họ hàng con cháu Mê-ra-ri đã
bị kê sổ. Môi-se và A-rôn lấy
bộ dân, y theo mạng của Ðức
Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền
dạy.
46. Hết thảy những kẻ trong người Lê-vi mà
Môi-se, A-rôn, và các quan
trưởng Y-sơ-ra-ên tu bộ, tùy theo họ
hàng và tông tộc của họ,
47. từ ba mươi tuổi sắp lên cho đến năm mươi, tức
là mọi người đến đặng hầu việc và
khiêng đồ trong hội mạc,
48. cộng được tám ngàn năm trăm tám
mươi.
49. Người ta tu bộ người Lê-vi tùy theo mạng của
Ðức Giê-hô-va đã cậy
Môi-se truyền dạy, cắt phần cho mỗi người việc
mình phải làm, và vật chi
mình phải khiêng đi; người ta tu bộ dân
tùy theo lời Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se vậy.
Dân-số Ký 5
Home
1. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng:
2. Hãy biểu dân Y-sơ-ra-ên đuổi ra
ngoài trại quân hết thảy người phung, người
có bịnh bạch trược, và người vì cớ
đụng đến một xác chết nào đã bị
ô uế.
3. Bất luận nam hay nữ, các ngươi phải đuổi họ ra
ngoài trại quân, hầu cho họ không
làm cho trại quân bị ô uế, là
nơi ta ngự ở trong.
4. Dân Y-sơ-ra-ên bèn làm như
vậy, đuổi họ ra khỏi trại quân, y như Ðức
Giê-hô-va đã truyền lịnh cho
Môi-se vậy.
5. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
6. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên như vầy: Khi một người nam hay nữ phạm một trong
những tội người ta thường phạm, cho đến can phạm cùng
Ðức Giê-hô-va, và vì
cớ đó phải mắc tội,
7. thì người ấy phải xưng tội mình đã
phạm ra, và trả tang vật lại đủ, và
thêm một phần năm giá vật mà giao cho
người mình đã mắc tội cùng.
8. Nếu người nầy không còn, và
không bà con nào để lãnh
tang vật đó lại, thì vật ấy sẽ về Ðức
Giê-hô-va, tức là về thầy tế lễ, ngoại
trừ con chiên đực về lễ chuộc tội mà thầy tế lễ sẽ
dùng đặng chuộc tội cho người mắc tội đó.
9. Phàm lễ vật chi biệt riêng ra thánh
mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho
thầy tế lễ, đều sẽ thuộc về người.
10. Những vật biệt riêng ra thánh mà
mỗi người dâng sẽ thuộc về người; vật chi mỗi người ban cho
thầy tế lễ, chắc sẽ thuộc về người vậy.
11. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
12. Hãy nói cho dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Nếu một người đàn bà
lỗi đạo và phạm tội bất chánh cùng
chồng,
13. nếu có một người nam gian dâm cùng
nàng mà việc nhẹm khuất mắt chồng; nếu
nàng bị ô uế kín nhiệm, không
có chứng cớ đối cùng nàng,
và nàng không bị bắt tại trận;
14. nếu tánh ghen phát nơi người chồng ghen vợ
mình, hoặc đã thật bị ô uế, hoặc
không có bị ô uế,
15. thì người nầy phải dẫn vợ mình đến trước mặt
thầy tế lễ, và vì nàng đem theo một
phần mười ê-pha bột mạch nha dùng làm
của tế lễ. Người chớ nên chế dầu vào,
và cũng chẳng nên bỏ nhũ hương lên
trên, vì là một của lễ chay về sự ghen
tương, một của lễ chay kỷ niệm đặng nhắc tội gian ác.
16. Thầy tế lễ sẽ biểu người nữ đến gần, đứng trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
17. Kế đó thầy tế lễ lấy nước thánh đổ
vào chậu đất, hốt bụi ở trên đất của đền tạm
mà bỏ trong nước.
18. Ðoạn, thầy tế lễ phải biểu người nữ đứng trước mặt
Ðức Giê-hô-va, lột trần đầu
nàng, để của lễ kỷ niệm trên lòng
bàn tay nàng, nghĩa là của lễ chay về
sự ghen tương; và thầy tế lễ phải có nước đắng
giáng rủa sả trong tay mình.
19. Thầy tế lễ phải bắt người nữ thề, và nói
cùng nàng rằng: Nếu chẳng một người nam
nào nằm cùng ngươi, và nếu đương dưới
quyền chồng ngươi không có lỗi đạo và
không bị ô uế, thì chẳng phải mắc một
điều hại nào của nước đắng giáng rủa sả nầy.
20. Còn nếu đương dưới quyền chồng, mà ngươi lỗi
đạo; nếu ngươi bị ô uế, và nếu một người
nào khác hơn chồng đã nằm
cùng ngươi
21. bấy giờ thầy tế lễ phải bắt người nữ lấy một lời thề trù
ẻo mà thề, và nói cùng
nàng rằng: Cầu Ðức Giê-hô-va
khiến cho ngươi trở nên một mầm rủa sả và
trù ẻo giữa vòng dân sự ngươi,
làm cho ngươi ốm lòi hông và
phình bụng lên;
22. nước đắng giáng rủa sả nầy khá chun
vào ruột gan làm cho bụng ngươi phình
lên và ốm lòi hông. Người nữ
sẽ nói rằng: A-men, a-men!
23. Kế đó, thầy tế lễ phải viết các lời
trù ẻo nầy trong một cuốn sách, rồi lấy nước đắng
bôi đi.
24. Thầy tế lễ sẽ biểu người nữ uống nước đắng giáng rủa sả,
nước đắng giáng rủa sả sẽ vào trong
mình nàng đặng làm cay đắng cho
nàng.
25. Ðoạn, thầy tế lễ sẽ lấy khỏi tay người nữ của lễ chay về sự
ghen tương, đưa qua đưa lại trước mặt Ðức
Giê-hô-va và dâng
lên trên bàn thờ.
26. Rồi lấy một nắm của lễ chay kỷ niệm và xông
trên bàn thờ; kế biểu người nữ uống nước đắng.
27. Vả, khi nào thầy tế lễ biểu người uống nước đắng rồi,
nếu quả người có bị ô uế phạm tội bất
chánh cùng chồng mình, thì
nước đắng giáng rủa sả sẽ vào mình
làm cay đắng cho nàng, bụng nàng sẽ
phình lên, hông nàng ốm
lòi, và người nữ nầy sẽ làm một mầm
rủa sả giữa vòng dân sự mình.
28. Còn nếu người nữ không bị ô uế, vẫn
thanh sạch, thì nàng sẽ chẳng bị một điều hại
nào, và sẽ sanh con.
29. Ðó là luật lệ về sự ghen tương khi
một người đàn bà, ở dưới quyền chồng
mình, lỗi đạo và bị ô uế;
30. hoặc khi nào tánh ghen phát sanh
nơi người chồng mà ghen vợ mình: người phải đem
vợ đến trước mặt Ðức Giê-hô-va,
và thầy tế lễ sẽ làm cho nàng hết thảy
điều chi luật lệ nầy truyền dạy.
31. Người chồng sẽ vô tội, còn người
đàn bà đó sẽ mang lấy tội
mình.
Dân-số Ký 6
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên
rằng: Bất luận người nam hay nữ, khi hứa nguyện Na-xi-rê đặng
biệt mình riêng ra cho Ðức
Giê-hô-va,
3. thì phải kiêng cữ rượu và vật uống
say; chẳng nên uống hoặc giấm rượu, hoặc giấm của vật uống
say; lại cũng chẳng nên uống một thứ nước nào bằng
trái nho, hay là ăn nho tươi, hoặc nho
khô.
4. Trọn trong lúc người biệt mình riêng
ra, chớ ăn món chi của nho sanh sản hết, từ hột đến da.
5. Trọn trong lúc hứa nguyện Na-xi-rê
mình, chớ nên dùng dao cạo đầu; người
sẽ nên thánh, và phải để tóc
mọc cho đến chừng nào kỳ biệt mình
riêng ra cho Ðức Giê-hô-va
đã được mãn.
6. Trọn trong lúc người biệt mình riêng
ra cho Ðức Giê-hô-va chớ đến gần người chết.
7. Người chớ vì cha hoặc vì mẹ, vì anh
hoặc vì chị đã chết, mà làm
cho mình bị ô uế, vì dấu chỉ sự biệt
riêng ra cho Ðức Chúa Trời vẫn ở
trên đầu người.
8. Trọn trong lúc hứa nguyện Na-xi-rê, người được
biệt ra thánh cho Ðức Giê-hô-va.
9. Nếu ai chết thình lình gần bên
người, làm cho ô uế đầu mình
đã biệt riêng ra thánh, thì
phải cạo đầu mình trong ngày được sạch, tức
là ngày thứ bảy;
10. qua ngày thứ tám, người phải đem hai chim cu
hay là hai bò câu con đến cho thầy tế
lễ tại cửa hội mạc.
11. Thầy tế lễ sẽ dâng con nầy làm của lễ chuộc
tội, con kia làm của lễ thiêu, và chuộc
tội cho người đã phạm, vì cớ xác chết.
Vậy, trong ngày đó người sẽ biệt đầu
mình riêng ra thánh.
12. Thế thì, người phải biệt riêng ra cho
Ðức Giê-hô-va những ngày về
nguyện Na-xi-rê mình lại, và
dâng một con chiên đực giáp năm
làm của lễ chuộc sự mắc lỗi, và những
ngày trước không kể nữa, vì sự
Na-xi-rê mình đã bị ô uế.
13. Nầy là luật lệ về người Na-xi-rê: Khi
nào những ngày Na-xi-rê mình
đã mãn, người ta phải đem người đến tại cửa hội
mạc;
14. người phải dâng của lễ mình cho Ðức
Giê-hô-va, tức là một con
chiên con giáp năm không tì
vít, làm của lễ thiêu, một con
chiên cái giáp năm không
tì vít, làm của lễ chuộc tội,
và một con chiên đực không tì
vít, làm của lễ thù ân;
15. một giỏ bánh không men bằng bột lọc,
bánh nhỏ tưới dầu, bánh tráng
không men thoa dầu, luôn với của lễ chay
và lễ quán cặp theo các lễ kia.
16. Thầy tế lễ sẽ đem những của lễ nầy đến trước mặt Ðức
Giê-hô-va, và dâng của lễ
chuộc tội cùng của lễ thiêu của người;
17. rồi ngoại trừ giỏ bánh không men,
dâng luôn con chiên đực làm
của lễ thù ân, cùng dâng của
lễ chay và lễ quán của người.
18. Tại cửa hội mạc, người Na-xi-rê phải cạo đầu
mình đã biệt riêng ra, lấy
tóc bỏ vào lửa dưới của lễ thù
ân.
19. Sau khi người Na-xi-rê cạo đầu rồi, thầy tế lễ sẽ lấy
cái vai chín của chiên đực, một
cái bánh nhỏ không men trong giỏ, một
bánh tráng không men và để
trong lòng hai bàn tay người,
20. rồi đưa qua đưa lại trước mặt Ðức
Giê-hô-va: ấy là một vật
thánh về thầy tế lễ với cái o đưa qua đưa lại
và cái giò dâng giơ
lên. Kế đó, người Na-xi-rê được
phép uống rượu.
21. Ðó là luật lệ về người
Na-xi-rê đã hứa nguyện, và
đây là của lễ người phải dâng cho
Ðức Giê-hô-va về nguyện Na-xi-rê
mình, ngoại trừ của lễ nào người có
thể dâng thêm. Người phải theo luật lệ về sự
Na-xi-rê mình mà làm theo
lời hứa nguyện của mình vậy.
22. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
23. Hãy nói cùng A-rôn
và các con trai người mà rằng:
Các ngươi phải chúc phước cho dân
Y-sơ-ra-ên như vầy:
24. Cầu xin Ðức Giê-hô-va ban phước cho
ngươi và phù hộ ngươi!
25. Cầu xin Ðức Giê-hô-va chiếu
sáng mặt Ngài trên ngươi, và
làm ơn cho ngươi!
26. Cầu xin Ðức Giê-hô-va đoái
xem ngươi và ban bình an cho ngươi!
27. Họ phải đặt danh ta trên dân
Y-sơ-ra-ên như vầy, thì ta đây sẽ ban
phước cho dân đó.
Dân-số Ký 7
Home
1. Khi Môi-se đã dựng xong đền tạm, và
đã xức dầu cùng biệt riêng ra
thánh hết thảy đồ đạc của đền tạm, xức dầu và
biệt riêng ra thánh bàn thờ
và hết thảy đồ đạc của bàn thờ rồi,
2. thì các trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên,
tức là các quan trưởng về những chi
phái mà đã cai trị cuộc tu bộ
dân, đều đem dâng lễ vật của mình.
3. Vậy, các quan trưởng dẫn lễ vật mình đến trước
mặt Ðức Giê-hô-va: Sáu xe cộ,
hình như cái kiệu, và mười hai con
bò đực, nghĩa là mỗi hai quan trưởng đồng
dâng một xe cộ, và mỗi một người dâng
một con bò đực; họ dâng lễ vật đó trước
đền tạm.
4. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
thâu nhận các lễ vật của những người nầy, để
dùng vào công việc hội mạc;
và hãy giao cho người Lê-vi,
5. tức là cho mọi người tùy theo chức phận
mình.
6. Vậy, Môi-se bèn nhận lấy các xe cộ
và những bò đực, giao cho người Lê-vi.
7. Người giao cho con cháu Ghẹt-sôn hai xe cộ
và bốn con bò đực, tùy theo chức phận
của họ.
8. Người giao cho con cháu Mê-ra-ri bốn xe cộ
và tám con bò đực, tùy theo
chức phận của họ, có Y-tha-ma, con trai thầy tế lễ
A-rôn, làm quản lý.
9. Nhưng người không có giao chi cho con
cháu Kê-hát, vì họ mắc phần
công việc về những vật thánh, và
gánh vác những vật đó trên
vai mình.
10. Trong ngày bàn thờ được xức dầu,
các quan trưởng dâng lễ vật mình trước
bàn thờ về cuộc khánh thành
nó.
11. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Các quan trưởng phải
đem lễ vật mình về cuộc khánh thành
bàn thờ, người nầy thì ngày nay, người
kia thì ngày kia.
12. Người dâng lễ vật mình ngày đầu,
là Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp,
thuộc về chi phái Giu-đa.
13. Lễ-vật người là một cái đĩa bạc nặng một trăm
ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ,
theo siếc-lơ của nơi thánh; cả hai cái đều đầy
bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
14. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
15. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
16. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
17. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực, và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của Na-ha-sôn, con
trai A-mi-na-đáp.
18. Ngày thứ hai, Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a,
quan trưởng Y-sa-ca, dâng lễ vật mình.
19. Người dâng một cái đĩa bạc nặng một trăm ba
mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo
siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc
nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
20. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
21. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
22. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
23. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực, và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của Na-tha-na-ên.
con trai Xu-a.
24. Ngày thứ ba, đến quan trưởng của con cháu
Sa-bu-lôn, là Ê-li-áp, con
trai của Hê-lôn.
25. Lễ-vật của người là một cái dĩa bạc nặng một
trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh; cả hai cái
đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
26. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
27. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
28. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
29. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực, và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của
Ê-li-áp, con trai Hê-lôn.
30. Ngày thứ tư, đến quan trưởng của con cháu
Ru-bên, là Ê-lít-su, con trai
Sê-đêu.
31. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc nặng một
trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh; cả hai cái
đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
32. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
33. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
34. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
35. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực, và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của
Ê-lít-su, con trai Sê-đêu.
36. Ngày thứ năm, đến quan trưởng của con cháu
Si-mê-ôn, là
Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đai.
37. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc nặng một
trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh; cả hai cái
đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
38. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
39. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
40. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
41. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực, và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của
Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đai.
42. Ngày thứ sáu, đến quan trưởng của con
cháu Gát, là
Ê-li-a-sáp, con trai
Ðê-u-ên.
43. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc nặng một
trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái
đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
44. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
45. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
46. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
47. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực, và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của
Ê-li-a-sáp, con trai
Ðê-u-ên.
48. Ngày thứ bảy, đến quan trưởng của con cháu
Ép-ra-im, là Ê-li-sa-ma, con trai
A-mi-hút.
49. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc nặng một
trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái
đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
50. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
51. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
52. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
53. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực, và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của Ê-li-sa-ma,
con trai A-mi-hút.
54. Ngày thứ tám, đến quan trưởng của con
cháu Ma-na-se, là Ga-ma-li-ên, con trai
Phê-đát-su.
55. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc nặng một
trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái
đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
56. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
57. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
58. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
59. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực, và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của Ga-ma-li-ên,
con trai Phê-đát-su.
60. Ngày thứ chín, đến quan trưởng của con
cháu Bên-gia-min, là A-bi-đan, con trai
Ghi-đeo-ni.
61. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc nặng một
trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái
đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
62. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
63. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
64. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
65. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực, và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của A-bi-đan, con trai
Ghi-đeo-ni.
66. Ngày thứ mười, đến quan trưởng của con cháu
Ðan, là A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai.
67. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc nặng một
trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái
đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
68. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
69. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
70. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
71. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của A-hi-ê-xe, con
trai A-mi-sa-đai.
72. Ngày thứ mười một, đến quan trưởng của con
cháu A-se, là Pha-ghi-ên, con trai của
Óc-ran.
73. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc nặng một
trăm ba mười siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái
đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
74. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
75. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
76. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
77. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực, và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của Pha-ghi-ên,
con trai Óc-ran.
78. Ngày thứ mười hai, đến quan trưởng của con
cháu Nép-ta-li, là A-hi-ra, con trai
Ê-nan.
79. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc nặng một
trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái
đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ chay;
80. một cái chén vàng nặng mười
siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
81. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con
chiên con giáp năm, dùng về của lễ
thiêu;
82. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
83. và về của lễ thù ân, hai con
bò đực, năm con chiên đực, năm con dê
đực, và năm con chiên con giáp năm.
Ðó là lễ vật của A-hi-ra, con trai
Ê-nan.
84. Ấy là những lễ vật của các quan trưởng
dân Y-sơ-ra-ên dâng về cuộc
khánh thành bàn thờ, khi
bàn thờ được xức dầu: Mười hai đĩa bạc, mười hai chậu bạc,
mười hai chén vàng;
85. mỗi cái đĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ,
và mỗi cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ. Tổng
cộng số bạc của các đĩa và chậu là hai
ngàn bốn trăm siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh.
86. Mười hai cái chén vàng đầy thuốc
thơm, mỗi cái mười siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi
thánh; tổng cộng số vàng của chén nặng
được một trăm hai mươi siếc-lơ.
87. Tổng cộng số bò đực về của lễ thiêu
là mười hai con, với mười hai con chiên đực, mười
hai con chiên con giáp năm cùng những
của lễ chay cặp theo, và mười hai con dê đực
dùng về của lễ chuộc tội.
88. Tổng cộng số bò đực về của lễ thù
ân là hai mươi bốn con với sáu mươi con
chiên đực, sáu mươi con dê đực,
sáu mươi con chiên con giáp năm. Ấy
là lễ vật dâng về cuộc khánh
thành bàn thờ, sau khi bàn thờ được
xức dầu rồi.
89. Khi Môi-se vào hội mạc đặng hầu chuyện
cùng Ðức Giê-hô-va,
thì người nghe Tiếng nói cùng
mình từ trên nắp thi ân để
trên hòm bảng chứng, ở giữa hai
chê-ru-bin, người hầu chuyện cùng Ðức
Giê-hô-va vậy.
Dân-số Ký 8
Home
1. Ðức Giê-hô-va cũng phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy nói cùng A-rôn: Khi
nào người đặt các đèn, thì
bảy ngọn đèn phải chiếu trên phía trước
chân đèn.
3. A-rôn bèn làm như vậy; đặt bảy ngọn
đèn trên phía trước chân
đèn, y như Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se.
4. Vả, chân đèn đã làm theo
cách nầy; làm bằng vàng
đánh giát, cho đến cái chân
và những cái hoa đều đánh
giát. Ấy vậy, người ta làm chân
đèn theo như kiểu mà Ðức
Giê-hô-va đã chỉ cho Môi-se
xem.
5. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng:
6. Hãy chọn lấy người Lê-vi ở trong
vòng dân Y-sơ-ra-ên và dọn
cho họ được sạch.
7. Nầy là điều ngươi phải làm cho họ được sạch:
Ngươi phải rảy nước rửa tội trên mình họ; họ phải
cạo hết thảy cùng mình, giặt quần áo,
và dọn cho mình được sạch.
8. Ðoạn, họ phải bắt một con bò đực với của lễ chay
bằng bột lọc nhồi dầu cặp theo; còn ngươi bắt một con
bò đực tơ thứ nhì dùng về của lễ chuộc
tội;
9. rồi biểu người Lê-vi đến gần trước hội mạc và
nhóm cả hội chúng Y-sơ-ra-ên.
10. Vậy, người phải biểu người Lê-vi đến gần trước mặt
Ðức Giê-hô-va, rồi dân
Y-sơ-ra-ên sẽ đặt tay trên mình người
Lê-vi.
11. A-rôn sẽ dâng người Lê-vi
làm của lễ do phần dân Y-sơ-ra-ên
mà đưa qua đưa lại trước mặt Ðức
Giê-hô-va, và họ sẽ được phần
làm công việc của Ðức
Giê-hô-va.
12. Ðoạn, người Lê-vi sẽ đặt tay trên đầu
hai con bò đực, và ngươi phải dâng con
nầy làm của lễ chuộc tội và con kia
làm của lễ thiêu cho Ðức
Giê-hô-va, để làm lễ chuộc tội cho người
Lê-vi.
13. Kế đó, ngươi phải biểu người Lê-vi đứng trước
mặt A-rôn và các con trai người, rồi
dâng họ như một của lễ đưa qua đưa lại cho Ðức
Giê-hô-va.
14. Như vậy ngươi sẽ biệt riêng ra người Lê-vi với
dân Y-sơ-ra-ên, và người Lê-vi
sẽ thuộc về ta.
15. Sau việc ấy, người Lê-vi sẽ đến đặng làm
công việc của hội mạc. Ấy, ngươi sẽ làm cho họ
được sạch và dâng như của lễ đưa qua đưa lại vậy.
16. Bởi vì, giữa dân Y-sơ-ra-ên người
Lê-vi ban trọn cho ta; ta đã chọn lấy họ về ta thế
cho hết thảy con đầu lòng của dân
Y-sơ-ra-ên.
17. Vì chưng hết thảy con đầu lòng trong
dân Y-sơ-ra-ên đều thuộc về ta, bất luận người hay
vật; ta đã biệt chúng nó
riêng ra cho ta trong ngày ta hành hại
mọi con đầu lòng tại xứ
Ê-díp-tô,
18. và ta đã chọn lấy người Lê-vi thế
cho mọi con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.
19. Bởi trong dân Y-sơ-ra-ên ta đã chọn
người Lê-vi ban trọn cho A-rôn và
các con trai người, đặng làm công việc
của dân Y-sơ-ra-ên ở trong hội mạc, cùng
làm lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên, hầu
cho khi họ đến gần nơi thánh, chẳng có tai hại
chi trong dân Y-sơ-ra-ên.
20. Vậy, Môi-se, A-rôn, và cả hội
dân Y-sơ-ra-ên, đối cùng người
Lê-vi làm hết mọi điều Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se về họ; dân Y-sơ-ra-ên đối
cùng người Lê-vi đều làm như vậy.
21. Người Lê-vi bèn làm cho
mình được sạch khỏi tội, và giặt áo
xống mình; rồi A-rôn dâng họ như của lễ
đưa qua đưa lại trước mặt Ðức Giê-hô-va,
và làm lễ chuộc tội cho, để dọn họ được sạch.
22. Sau rồi, người Lê-vi đến đặng làm
công việc mình trong hội mạc trước mặt
A-rôn và trước mặt các con trai người.
Ðối cùng người Lê-vi, người ta
làm y như Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se về họ.
23. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng:
24. Nầy là lệ định về người Lê-vi: Từ hai mươi lăm
tuổi sắp lên, người Lê-vi phải đến nhập ban trong
công việc của hội mạc.
25. Nhưng đến năm mươi tuổi, người sẽ ra ban, chẳng làm
công việc nữa;
26. người phải cứ giúp đỡ anh em mình trong hội
mạc, coi sóc việc chi đã giao cho, nhưng
không nên làm công việc nữa.
Ngươi phải đối cùng người Lê-vi mà
làm như vậy về chức phận của họ.
Dân-số Ký 9
Home
1. Tháng giêng năm thứ hai, sau khi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, Ðức
Giê-hô-va lại phán cùng
Môi-se trong đồng vắng Si-na-i rằng:
2. Dân Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt-qua theo kỳ nhất
định.
3. Các ngươi phải giữ lễ đó theo kỳ nhất định,
tức là ngày mười bốn tháng nầy,
vào buổi chiều tối; các ngươi phải làm
theo hết thảy lệ định và luật pháp về lễ
đó.
4. Vậy, Môi-se nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên để họ giữ lễ Vượt-qua.
5. Dân Y-sơ-ra-ên giữ lễ Vượt-qua trong tuần
tháng giêng, ngày mười bốn,
vào buổi chiều tối, tại đồng vắng Si-na-i, làm y
mọi điều Ðức Giê-hô-va đã
phán dặn Môi-se.
6. Vả, có mấy người vì cớ xác chết
mà bị ô uế, không được giữ lễ Vượt-qua
trong ngày đó, bèn đến trước mặt
Môi-se và A-rôn,
7. mà thưa cùng Môi-se rằng:
Chúng tôi bị lây ô uế
vì xác chết của loài người; sao tại
trong dân Y-sơ-ra-ên chúng tôi
phải bị cất phần dâng của lễ cho Ðức
Giê-hô-va theo kỳ đã chỉ?
8. Môi-se đáp rằng: Hãy đợi để ta biết
điều Ðức Giê-hô-va sẽ truyền dạy về
các ngươi.
9. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng:
10. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Khi một người trong vòng
các ngươi hay là trong vòng hậu đại
các ngươi bị ô uế vì cớ xác
chết, hoặc mắc đi xa, thì cũng buộc phải giữ lễ Vượt-qua cho
Ðức Giê-hô-va.
11. Mấy người đó phải giữ lễ nầy ngày mười bốn
tháng hai, vào buổi chiều tối, ăn bánh
không men cùng rau đắng,
12. chớ nên để chi còn dư lại đến sáng
lai, và cũng chẳng nên bẻ gãy những
xương; phải giữ theo mọi luật lệ về lễ Vượt-qua vậy.
13. Nhưng còn ai tinh sạch và không
có đi xa, nếu chẳng giữ lễ Vượt-qua thì sẽ bị
truất khỏi dân sự mình: vì người ấy
chẳng dâng của lễ cho Ðức
Giê-hô-va trong kỳ nhất định; người sẽ mang lấy tội
mình.
14. Khi một khách ngoại bang kiều ngụ giữa các
ngươi mà muốn giữ lễ Vượt-qua cho Ðức
Giê-hô-va, thì phải giữ theo lệ định
và luật pháp về lễ Vượt-qua. Ðồng
có một luật lệ cho các ngươi, cho
khách ngoại bang, và cho người nào
sanh tại trong xứ.
15. Vả, ngày người ta dựng đền tạm, thì trụ
mây bao phủ đền tạm và Trại chứng cớ; ban chiều
dường có một vầng lửa ở trên đền tạm cho đến
sáng mai.
16. Hằng có như vậy; ban ngày trụ mây
bao phủ đền tạm, và ban đêm giống như
có lửa.
17. Mỗi khi trụ mây cất lên khỏi Trại,
thì dân Y-sơ-ra-ên ra đi; trong nơi
nào trụ mây dừng lại, thì dân
Y-sơ-ra-ên hạ trại ở đó.
18. Dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo mạng Ðức
Giê-hô-va, và hạ trại theo mạng
Ðức Giê-hô-va. Trọn trong lúc
trụ mây ngự trên đền tạm, thì
dân Y-sơ-ra-ên cứ đóng trại.
19. Khi nào trụ mây ngự lâu
trên đền tạm, thì dân
Y-sơ-ra-ên vâng theo mạng Ðức
Giê-hô-va, chẳng hề ra đi.
20. Nhưng khi nào trụ mây ngự ít
ngày trên đền tạm, thì dân
Y-sơ-ra-ên cứ vâng theo mạng Ðức
Giê-hô-va mà hạ trại và ra đi.
21. Khi trụ mây ngự tại đó từ buổi chiều đến
sáng mai, và khi đến sáng mai trụ
mây cất lên, thì ra đi; không
cứ ngày hay đêm trụ mây cất
lên, thì họ ra đi.
22. Trụ mây ngự trên đền tạm hoặc hai
ngày, hoặc một tháng, hoặc lâu hơn nữa,
thì dân Y-sơ-ra-ên cứ đóng
trại, không hề ra đi; nhưng khi trụ mây cất
lên, thì họ ra đi.
23. Dân Y-sơ-ra-ên hạ trại và ra đi
tùy theo mạng Ðức Giê-hô-va; họ
theo chương trình của Ðức
Giê-hô-va, tùy mạng Ngài
đã cậy Môi-se mà truyền cho.
Dân-số Ký 10
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy làm hai ống loa bằng bạc, đánh
giát, dùng cho ngươi để nhóm hiệp hội
chúng và truyền cho các trại
quân ra đi.
3. Khi nào người ta thổi loa, toàn hội
chúng sẽ nhóm lại gần bên ngươi, tại
cửa hội mạc.
4. Nếu người ta thổi chỉ một ống loa, thì các
quan trưởng, tức là các quan tướng
đội-quân Y-sơ-ra-ên phải nhóm lại gần
bên ngươi;
5. khi các ngươi thổi tiếng vang, thì những trại
quân ở về hướng đông phải ra đi.
6. Khi các ngươi thổi tiếng vang lần thứ nhì,
thì những trại quân ở về hướng nam phải ra đi;
người ta sẽ thổi tiếng vang khi nào các trại
quân phải ra đi vậy.
7. Khi nhóm hội chúng, các ngươi phải
thổi, nhưng đừng thổi tiếng vang.
8. Các con trai A-rôn, là những thầy tế
lễ, sẽ thổi những ống loa. Từ đời nầy sang đời kia, ấy sẽ là
một lệ định đời đời cho các ngươi.
9. Khi nào trong xứ các ngươi phải ra chiến trận
cùng kẻ thù nghịch xông đánh
mình, thì phải thổi loa tiếng vang;
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của
các ngươi sẽ nhớ lại các ngươi, và
các ngươi sẽ được giải thoát khỏi kẻ
thù nghịch.
10. Trong những ngày vui mừng, trong các lễ trọng
thể và đầu tháng của các ngươi,
thì phải thổi loa khi dâng những của lễ
thiêu và của lễ thù ân
mình; loa sẽ dùng làm kỷ niệm trước
mặt Ðức Chúa Trời của các ngươi. Ta
là Giê-hô-va, Ðức
Chúa Trời của các ngươi.
11. Xảy trong ngày hai mươi tháng hai, năm thứ
hai, thì trụ mây cất lên khỏi đền tạm
chứng cớ.
12. Dân Y-sơ-ra-ên, theo chương trình
đã định, ra từ đồng vắng Si-na-i, và trụ
mây dừng lại tại đồng vắng Pha-ran.
13. Vậy, dân Y-sơ-ra-ên vâng mạng của
Ðức Giê-hô-va cậy Môi-se truyền
cho, mà ra đi lần thứ nhất.
14. Ngọn cờ của trại quân Giu-đa, tùy theo
các đội ngũ mình, đi trước. Na-ha-sôn,
con trai A-mi-na-đáp, thống lãnh quân
đội Giu-đa.
15. Na-tha-na-ên, con trai Xu-a, thống lãnh
quân đội của chi phái Y-sa-ca.
16. Ê-li-áp, con trai Hê-lôn,
thống lãnh quân đội của chi phái
Sa-bu-lôn.
17. Bấy giờ, đền tạm đã tháo dỡ, rồi con
cháu Ghẹt-sôn và con cháu
Mê-ra-ri khiêng đền tạm, bèn ra đi.
18. Kế đó, ngọn cờ của trại quân Ru-bên
ra đi, tùy theo các đội ngũ mình.
Ê-lít-su, con trai Sê-đêu,
thống lãnh quân đội Ru-bên.
19. Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đai, thống
lãnh quân đội của chi phái
Si-mê-ôn.
20. Ê-li-sáp, con trai
Ðê-u-ên, thống lãnh
quân đội của chi phái Gát.
21. Bấy giờ, các người Kê-hát
khiêng những vật thánh ra đi; người ta dựng đền
tạm lên đương lúc đợi họ đến.
22. Ðoạn, ngọn cờ của trại quân con cháu
Ép-ra-im ra đi, tùy theo đội ngũ mình.
Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút, thống
lãnh quân đội Ép-ra-im.
23. Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su,
thống lãnh quân đội của chi phái
Ma-na-se.
24. A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni, thống lãnh quân
đội của chi phái Bên-gia-min.
25. Rốt lại, ngọn cờ của trại quân Ðan ra đi,
tùy theo các đội ngũ mình;
nó làm hậu binh của các trại
quân khác. A-hi-ê-xe, con trai
A-mi-sa-đai, thống lãnh quân đội Ðan.
26. Pha-ghi-ên, con trai Óc-ran, thống
lãnh quân đội của chi phái A-se.
27. A-hi-ra, con trai Ê-nan, thống lãnh
quân đội của chi phái Nép-ta-li.
28. Ðó là thứ tự về sự cất binh đi của
dân Y-sơ-ra-ên, tùy theo các
đội ngũ mình; ấy, họ ra đi là như vậy.
29. Vả, Môi-se nói cùng
Hô-báp, con trai Rê-u-ên,
người Ma-đi-an, tức là anh vợ mình, mà
rằng: Chúng tôi đi đến xứ mà
Ðức Giê-hô-va có phán
rằng: Ta sẽ ban xứ đó cho các ngươi. Xin anh
hãy đi cùng chúng tôi,
chúng tôi sẽ đãi anh tử tế;
vì Ðức Giê-hô-va có
hứa ban ơn cho dân Y-sơ-ra-ên.
30. Hô-báp đáp rằng: Tôi
không đi đâu, nhưng tôi sẽ đi về xứ sở
tôi, là nơi bà con tôi.
31. Môi-se lại nói rằng: Tôi xin anh chớ
bỏ chúng tôi, vì anh biết nơi
nào trong đồng vắng chúng tôi
có thế hạ trại được; anh sẽ dường như con mắt cho
chúng tôi vậy.
32. Nếu anh đi cùng chúng tôi,
thì chúng tôi sẽ làm cho anh
hưởng ơn lành mà Ðức
Giê-hô-va sẽ làm cho chúng
tôi.
33. Vậy, dân Y-sơ-ra-ên ra đi từ núi
Ðức Giê-hô-va, đi trong ba ngày
đường; hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va đi trước trong lúc ba
ngày đường nầy, đặng tìm cho dân một
nơi an nghỉ.
34. Trong lúc ban ngày, khi dân
Y-sơ-ra-ên dời trại quân đi, thì trụ
mây của Ðức Giê-hô-va ở
trên họ.
35. Khi hòm giao ước đi, thì Môi-se
nói rằng: Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin
chổi dậy, để kẻ thù nghịch Ngài bị tản lạc,
và kẻ nào ghét Ngài chạy
trốn trước mặt Ngài!
36. Khi người ta để hòm giao ước xuống, thì
Môi-se nói rằng: Hỡi Ðức
Giê-hô-va, xin trở lại cùng
muôn vàn của Y-sơ-ra-ên!
Dân-số Ký 11
Home
1. Vả, dân sự bèn lằm bằm, và điều
đó chẳng đẹp tại Ðức Giê-hô-va.
Ðức Giê-hô-va nghe, cơn thạnh nộ
Ngài nổi lên, lửa của Ðức
Giê-hô-va cháy phừng phừng giữa
dân sự và thiêu hóa đầu
cùng trại quân.
2. Dân sự bèn kêu la cùng
Môi-se; Môi-se cầu xin Ðức
Giê-hô-va, thì lửa ngừng lại.
3. Người ta đặt tên chỗ nầy là
Tha-bê-ra, vì lửa của Ðức
Giê-hô-va đã cháy giữa
dân sự.
4. Bọn dân tạp ở trong dân Y-sơ-ra-ên
sanh lòng tham muốn, đến nỗi dân
Y-sơ-ra-ên lại khóc nữa mà rằng: Ai sẽ
cho chúng tôi ăn thịt?
5. Chúng tôi nhớ những cá
chúng tôi ăn nhưng không tại xứ
Ê-díp-tô, những dưa chuột, dưa gang, củ
kiệu, hành, và tỏi.
6. Bây giờ, linh hồn chúng tôi bị
khô héo, không có chi hết!
Mắt chỉ thấy ma-na mà thôi.
7. Vả, Ma-na hình như hột ngò, sắc như
trân châu.
8. Dân sự đi tản ra và hốt lấy, rồi nghiền bằng
cối xay, hay là giã bằng cối giã, nấu
trong một cái nồi và làm
bánh; nếm giống như bánh nhỏ có pha
dầu.
9. Khi ban tối mù sương xuống trên trại
quân, thì ma-na cũng xuống nữa.
10. Vậy, Môi-se nghe dân sự khóc, mỗi
người ở trong nhà mình, tại nơi cửa trại
mình: cơn thạnh nộ của Ðức
Giê-hô-va nổi lên phừng phừng,
11. và Môi-se lấy làm buồn bực về điều
đó. Môi-se bèn thưa cùng
Ðức Giê-hô-va rằng: Sao Ngài
làm cho tôi tớ Ngài buồn? Sao
tôi chẳng được ơn trước mặt Ngài, và
sao Ngài lại chất gánh nặng của hết thảy
dân sự nầy trên mình tôi?
12. Tôi há có thọ thai dân
nầy sao? há có sanh đẻ nó sao?
mà Ngài lại phán biểu tôi
rằng: Hãy ẵm dân nầy trong lòng người,
như người cha nuôi bồng đứa trẻ bú, cho đến xứ
mà Ngài có thề hứa ban cho tổ phụ của
chúng nó.
13. Tôi sẽ có thịt ở đâu đặng
phát cho cả dân sự nầy? bởi vì họ
khóc về tôi mà rằng: Hãy cho
chúng tôi ăn thịt.
14. Tôi không thế một mình
gánh hết dân sự nầy, vì thật
là rất nặng nề cho tôi quá!
15. Nếu Chúa đãi tôi như vậy,
và nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin
thà giết tôi đi, để tôi không
thấy sự khốn nạn tôi!
16. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
nhóm hiệp cho ta bảy mươi người trong bực trưởng
lão Y-sơ-ra-ên, tức là những kẻ ngươi
biết là trưởng lão và cai quản
dân sự; hãy dẫn các người ấy đến hội
mạc, đứng tại đó với ngươi.
17. Ðoạn, ta sẽ ngự xuống, nói chuyện tại
đó với ngươi; ta sẽ lấy Thần cảm ngươi mà ban cho
những người đó, để họ chịu gánh nặng về
dân sự với ngươi, và ngươi không phải
gánh một mình.
18. Ngươi phải truyền cho dân sự rằng: Ngày mai
phải dọn mình ra thánh, thì
các ngươi sẽ ăn thịt. Vì chưng lỗ tai Ðức
Giê-hô-va có nghe các ngươi
khóc mà rằng: Ai sẽ cho chúng
tôi ăn thịt, vì chúng tôi lấy
làm sung sướng tại xứ
Ê-díp-tô, bởi cớ đó,
Ðức Giê-hô-va sẽ ban thịt cho
các ngươi, thì các ngươi sẽ ăn.
19. Chẳng phải các ngươi sẽ ăn thịt một ngày, hai
ngày, năm ngày, mười ngày hay
là hai mươi ngày đâu;
20. nhưng cho đến một tháng trọn, cho đến chừng
nào thịt tràn ra lỗ mũi, và
các ngươi ngán đi, vì các
ngươi đã bỏ Ðức Giê-hô-va ở giữa
mình, và khóc trước mặt
Ngài, mà rằng: Vì sao chúng
tôi đã ra khỏi xứ
Ê-díp-tô?
21. Môi-se thưa rằng: Trong dân sự tôi
đương ở đây, có sáu trăm
ngàn người đàn ông, mà
Ngài có phán rằng: Ta sẽ
phát thịt cho dân nầy ăn trong một
tháng trọn.
22. Người ta há sẽ giết chiên và
bò đến đỗi được đủ cho họ sao? hay là người ta
há sẽ gom hết thảy cá dưới biển đến nỗi được đủ
cho họ sao?
23. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Tay của Ðức
Giê-hô-va đã vắn lại sao? Ngươi sẽ xem
thử điều ta đã phán cùng ngươi
có xảy đến hay chăng.
24. Môi-se bèn đi ra, thuật lại các lời
Ðức Giê-hô-va cho dân sự, rồi
nhóm hiệp bảy mươi người trong bực trưởng lão của
dân sự, đặt để xung quanh Trại.
25. Ðức Giê-hô-va bèn ngự xuống
trong mây, phán cùng Môi-se;
Ngài lấy Thần cảm người và ban cho bảy mươi người
trưởng lão. Vừa khi Thần ở trên bảy mươi người
trưởng lão, bèn được cảm động nói
tiên tri, nhưng không cứ nói
mãi.
26. Có hai người ở lại trong trại quân; một người
tên là Ên-đát, một người
tên là Mê-đát, được Thần cảm
động, nói tiên tri tại trại quân. Hai
người nầy thuộc về bọn được biên tên, nhưng
không có đến hội mạc.
27. Một đứa trai trẻ chạy thuật lại cùng Môi-se
rằng: Ên-đát và
Mê-đát nói tiên tri trong
trại quân.
28. Giô-suê, con trai của Nun, là người
hầu việc Môi-se, đáp lại mà rằng: Hỡi
Môi-se, chúa tôi, hãy cấm
chúng nó!
29. Môi-se đáp rằng: Ngươi ganh cho ta chăng?
Ôi! chớ chi cả dân sự của Ðức
Giê-hô-va đều là người tiên
tri, và chớ chi Ðức Giê-hô-va
ban Thần của Ngài cho họ!
30. Môi-se và mấy người trưởng lão đều
lui vào trại quân.
31. Ðức Giê-hô-va bèn khiến một
trận gió nổi từ biển, dẫn những chim cút đến vải
trên trại quân và xung quanh,
bên nầy trải ra dài chừng một ngày
đường đi, và bên kia trải ra dài chừng
một ngày đường đi, khỏi mặt đất chừng hai thước bề cao.
32. Dân sự đứng dậy lượm những cút trong
ngày đó, đêm đó
và trọn ngày sau; ai lượm ít hơn hết
có mười ô-me; người ta căng nó khắp
chung quanh trại quân.
33. Thịt vẫn còn nơi răng, chưa nhai, thì cơn
giận của Ðức Giê-hô-va nổi lên
cùng dân sự, hành dân sự một
tai vạ rất nặng.
34. Người ta đặt tên chỗ đó là
Kíp-rốt Ha-tha-va; vì tại đó người ta
chôn dân sự sanh lòng tham muốn.
35. Từ Kíp-rốt Ha-tha-va dân sự đi đến
Hát-sê-rốt, rồi ngừng lại tại đó.
Dân-số Ký 12
Home
1. Mi-ri-am và A-rôn nói
hành Môi-se về việc người nữ
Ê-thi-ô-bi mà người đã lấy;
vì người có lấy một người nữ
Ê-thi-ô-bi làm vợ.
2. Hai người nói rằng: Ðức
Giê-hô-va chỉ dùng một mình
Môi-se mà thôi sao? Ngài
há không dùng chúng ta
mà phán nữa sao? Ðức
Giê-hô-va nghe điều đó.
3. Vả, Môi-se là người rất khiêm
hòa hơn mọi người trên thế gian.
4. Thình lình Ðức
Giê-hô-va phán cùng
Môi-se, A-rôn và Mi-ri-am rằng: Cả ba
hãy ra đến hội mạc. Cả ba đều đi.
5. Ðức Giê-hô-va ngự xuống trong trụ
mây đứng tại cửa hội mạc, rồi gọi A-rôn
và Môi-se; hai người đều đến.
6. Ngài phán cùng hai người rằng:
Hãy nghe rõ lời ta. Nếu trong các
ngươi có một tiên tri nào, ta
là Ðức Giê-hô-va sẽ hiện ra
cùng người trong sự hiện thấy, và nói
với người trong cơn chiêm bao.
7. Tôi tớ Môi-se ta không có
như vậy, người thật trung tín trong cả nhà ta.
8. Ta nói chuyện cùng người miệng đối miệng, một
cách rõ ràng, không lời đố,
và người thấy hình Ðức
Giê-hô-va. Vậy, các ngươi
không sợ mà nói hành kẻ
tôi tớ ta, là Môi-se sao?
9. Như vậy, cơn thạnh nộ của Ðức Giê-hô-va
nổi phừng phừng cùng hai người; Ngài ngự đi.
10. Khi trụ mây rút khỏi trên đền tạm,
thì kìa, Mi-ri-am đã bị phung trắng
như tuyết. A-rôn xây lại phía Mi-ri-am,
thấy người đã có bịnh phung.
11. A-rôn bèn nói cùng
Môi-se rằng: Ôi, lạy chúa tôi,
xin chớ để trên chúng tôi tội
mà chúng tôi đã dại phạm
và đã mắc lấy.
12. Xin chớ để nàng như một đứa con sảo thịt đã
hư hết phân nửa khi lọt ra khỏi lòng mẹ.
13. Môi-se bèn kêu van cùng
Ðức Giê-hô-va rằng: Ôi,
Ðức Chúa Trời! Tôi cầu khẩn
Ngài chữa cho nàng.
14. Ðức Giê-hô-va đáp
cùng Môi-se rằng: Nếu cha nàng nhổ
trên mặt nàng, nàng há
không mang hổ trong bảy ngày sao? Nàng
phải cầm riêng ngoài trại quân trong bảy
ngày, rồi sau sẽ được nhận vào lại.
15. Ấy vậy, Mi-ri-am bị cầm riêng ngoài trại
quân trong bảy ngày, dân sự
không ra đi cho đến chừng nào Mi-ri-am được nhận
vào lại.
16. Sau việc đó, dân sự ra đi từ
Hát-sê-rốt, và hạ trại trong đồng vắng
Pha-ran.
Dân-số Ký 13
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy sai những người đi do thám xứ Ca-na-an,
là xứ ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên. Về mỗi
một chi phái, các ngươi phải sai một người đi;
mỗi người làm quan trưởng của chi phái
mình.
3. Tùy theo mạng Ðức Giê-hô-va,
Môi-se từ đồng vắng Pha-ran sai các người nầy đi;
hết thảy là quan trưởng của dân
Y-sơ-ra-ên.
4. Ðây là tên của các
người ấy: Về chi phái Ru-bên, Sam-mua, con trai
Xa-cu;
5. về chi phái Si-mê-ôn,
Sa-phát, con trai của Hô-ri;
6. về chi phái Giu-đa, Ca-lép, con trai của
Giê-phu-nê;
7. về chi phái Y-sa-ca, Di-ganh, con trai của
Giô-sép;
8. về chi phái Ép-ra-im,
Hô-sê, con trai của Nun;
9. về chi phái Bên-gia-min, Phan-thi, con trai của
Ra-phu;
10. về chi phái Sa-bu-lôn,
Gát-đi-ên, con trai của Sô-đi;
11. về chi phái Giô-sép, nghĩa
là về chi phái Ma-na-se, Ga-đi, con trai của
Su-si;
12. về chi phái Ðan, A-mi-ên, con trai của
Ghê-ma-li;
13. về chi phái A-se, Sê-thu, con trai của
Mi-ca-ên;
14. về chi phái Nép-ta-li, Nách-bi,
con trai của Vấp-si;
15. về chi phái Gát, Gu-ên, con trai
của Ma-ki.
16. Ðó là tên những người
mà Môi-se sai đi do thám xứ. Vả,
Môi-se đặt tên cho Hô-sê, con
trai Nun, là Giô-suê.
17. Vậy, Môi-se sai đi do thám xứ Ca-na-an,
và dặn rằng: Từ đây hãy lên
Nam phương, và vào miền núi;
18. rồi sẽ thấy xứ ra sao, dân sự ở đó nếu mạnh
yếu thể nào, nếu số ít hay nhiều;
19. xứ dân đó ở thế nào, nếu tốt hay
xấu; các thành dân đó ở
làm sao, hoặc chỉ những nơi đóng trại hay
là đồn lũy;
20. đất ra làm sao, nếu màu mỡ hay là
xấu, có cây cối hay là không.
Hãy can đảm và hái lấy trái
cây xứ đó. Bấy giờ nhằm mùa nho sớm.
21. Vậy các người đó đi lên do
thám xứ, từ đồng vắng Xin cho đến Rê-hốp, đi về
Ha-mát.
22. Họ bắt từ hướng Nam đi lên, đến thành
Hếp-rôn, là nơi có A-hi-man,
Sê-sai và Tanh-mai, con cái của
A-nác. Vả, thành Hếp-rôn đã
xây từ bảy năm trước Xô-an, là
thành của xứ Ê-díp-tô.
23. Các người đến khe Ếch-côn, cắt tại
đó một nhành nho có một
chùm nho; và hai người khiêng lấy bằng
cây sào, luôn những trái lựu
và trái vả.
24. Người ta gọi chỗ nầy là khe Ếch-côn,
vì có chùm nho mà
dân Y-sơ-ra-ên đã cắt tại đó.
25. Các người đi do thám xứ trong bốn mươi
ngày trở về.
26. Tới rồi, bèn đến cùng Môi-se,
A-rôn và cả hội dân
Y-sơ-ra-ên, trong đồng vắng Pha-ran, tại Ca-đe, mà
thuật lại mọi sự cho hai người và cả hội chúng
nghe, cùng đưa cho xem hoa quả của xứ.
27. Vậy, các người ấy thuật cho Môi-se rằng:
Chúng tôi đi đến xứ mà người
đã sai chúng tôi đi; ấy quả thật một xứ
đượm sữa và mật, nầy hoa quả xứ đó đây.
28. Mà, dân sự ở trong xứ nầy vốn mạnh dạn,
thành trì thật vững vàng và
rất lớn; chúng tôi cũng có thấy con
cái của A-nác ở đó.
29. Dân A-ma-léc ở miền Nam, dân
Hê-tít, dân
Giê-bu-sít và dân
A-mô-rít ở trong núi; dân
Ca-na-an ở gần biển và dọc dài theo mé
Giô-đanh.
30. Ca-lép bèn làm cho dân
sự, đương lằm bằm cùng Môi-se nín lặng
đi, mà nói rằng: Chúng ta
hãy đi lên và chiếm xứ đi,
vì chúng ta thắng hơn được.
31. Nhưng những người đi cùng Ca-lép
nói rằng: Chúng ta không đi
lên cự dân nầy được, vì chúng
nó mạnh hơn chúng ta.
32. Trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, các người
đó phao phản xứ mình đã do
thám mà rằng: Xứ mà chúng
tôi đã đi khắp đặng do thám,
là một xứ nuốt dân sự mình; hết thảy
những người chúng tôi đã thấy tại
đó, đều là kẻ hình vóc cao
lớn.
33. Chúng tôi có thấy kẻ cao lớn, tức
là con cháu của A-nác, thuộc về giống
giềnh giàng; chúng tôi thấy
mình khác nào con cào
cào, và họ thấy chúng tôi
cũng như vậy.
Dân-số Ký 14
Home
1. Cả hội chúng bèn cất tiếng la lên,
và dân sự khóc lóc trong
đêm đó.
2. Hết thảy dân Y-sơ-ra-ên lằm bằm cùng
Môi-se và A-rôn; cả hội chúng
nói cùng hai người rằng: Chớ chi chúng
tôi đã chết trong xứ
Ê-díp-tô, hay là
đã chết trong đồng vắng nầy!
3. Vì cớ nào Ðức
Giê-hô-va dẫn chúng tôi
vào xứ nầy đặng bị gươm mà ngã? Vợ
và con nhỏ chúng tôi sẽ bị
làm một miếng mồi. Về phần chúng tôi,
há chẳng khá trở về xứ
Ê-díp-tô hơn sao?
4. Rồi dân sự nói với nhau rằng: Chúng
ta hãy lập lên một quan trưởng, và trở
về xứ Ê-díp-tô đi.
5. Môi-se và A-rôn bèn sấp
mình xuống trước mặt cả hội dân
Y-sơ-ra-ên.
6. Giô-suê, con trai của Nun, và
Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê,
là hai người trong bọn đi do thám xứ,
bèn xé áo quần mình.
7. Hai người nói cùng cả hội dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Xứ mà chúng
tôi đã đi khắp đặng do thám thật
là một xứ rất tốt;
8. nếu Ðức Giê-hô-va đẹp lòng
cùng chúng ta, ắt sẽ đem chúng ta
vào xứ nầy mà ban cho; ấy là một xứ
đượm sữa và mật.
9. Chỉ các ngươi chớ dấy loạn cùng Ðức
Giê-hô-va, và đừng sợ dân của
xứ, vì dân đó sẽ là đồ
nuôi chúng ta, bóng che chở họ
đã rút đi khỏi họ rồi, và Ðức
Giê-hô-va ở cùng ta. Chớ sợ chi.
10. Bấy giờ cả hội chúng nói ném
đá hai người nầy, nhưng sự vinh quang của Ðức
Giê-hô-va hiện ra trên hội mạc, trước mặt
dân Y-sơ-ra-ên.
11. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Dân nầy khinh ta
và không tin ta cho đến chừng nào, mặc
dầu các phép lạ ta làm giữa
chúng nó?
12. Ta sẽ giáng cho dân sự nầy dịch lệ
và tiêu diệt phần cơ nghiệp của nó đi;
nhưng ta sẽ làm cho ngươi thành một dân
lớn hơn và mạnh hơn nó.
13. Môi-se thưa cùng Ðức
Giê-hô-va rằng: Dân
Ê-díp-tô có hay rằng
Chúa cậy quyền năng Chúa đem dân nầy ra
khỏi họ;
14. và có thuật điều đó cho
dân xứ nầy. Ôi Ðức
Giê-hô-va! người ta biết rằng Chúa ngự
giữa dân nầy, Chúa hiện ra cho mắt
chúng thấy, trụ mây Chúa ở
trên dân nầy, và Chúa đi
trước, ban ngày trong một trụ mây, ban
đêm trong một trụ lửa.
15. Nếu Chúa giết hết dân nầy như thể giết một
người, thì các nước đã nghe
nói về Chúa sẽ nói rằng:
16. Ðức Giê-hô-va không thể dẫn
dân nầy vào xứ mà Ngài
đã thề ban cho; bởi cớ đó, Ngài giết
chết chúng nó trong đồng vắng.
17. Vả, bây giờ, tôi xin quyền năng của
Chúa hiện ra cách oai nghiêm như
Chúa đã nói rằng:
18. Ðức Giê-hô-va vốn chậm nóng
giận và đầy ơn; hay xá điều gian ác
và tội lỗi; nhưng không kể kẻ có tội
là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt con
cháu trải ba bốn đời.
19. Tôi xin Chúa tha tội gian ác của
dân nầy tùy theo ơn lớn của Chúa, như
Chúa đã tha từ xứ
Ê-díp-tô đến đây.
20. Ðức Giê-hô-va đáp rằng: Ta
đã tha như lời ngươi xin.
21. Nhưng ta chỉ sự hằng sống ta mà quả quyết rằng, sự vinh
quang của Ðức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp
trái đất!
22. Trong mọi người đã thấy sự vinh quang ta,
phép lạ ta đã làm tại xứ
Ê-díp-tô và nơi đồng vắng,
là các ngươi đã thử ta mười lần
và đã không nghe lời ta,
23. thì chẳng một ai sẽ thấy xứ mà ta thề hứa cho
tổ phụ chúng nó. Chẳng ai mà
đã khinh ta sẽ thấy xứ đó đâu!
24. Nhưng vì kẻ tôi tớ Ca-lép ta
không đồng lòng cùng chúng
nó, theo ta một cách trung tín,
thì ta sẽ đem ngươi vào xứ mà người
đã có đi, và dòng
dõi ngươi sẽ được xứ làm sản nghiệp.
25. Dân A-ma-léc và dân
Ca-na-an ở trong trũng; ngày mai các ngươi
hãy trở lui lại sau, đi đến đồng vắng về hướng Biển đỏ.
26. Ðức Giê-hô-va cũng phán
cùng Môi-se và A-rôn,
mà rằng:
27. Ta sẽ chịu hội chúng hung dữ nầy hay lằm bằm
cùng ta cho đến chừng nào? Ta đã nghe
lời lằm bằm của dân Y-sơ-ra-ên oán
trách ta.
28. Hãy nói với dân chúng:
Ðức Giê-hô-va nói rằng: Ta chỉ
sự hằng-sống ta mà thề, ta sẽ đãi các
ngươi tùy theo lời ta đã nghe các
ngươi nói;
29. những thây các ngươi sẽ ngã nằm
trong đồng vắng nầy. Các ngươi mà người ta
đã tu bộ, hết thảy bao nhiêu cũng vậy, từ hai mươi
tuổi sắp lên, là những kẻ đã lằm bằm
cùng ta,
30. thì chẳng hề được vào xứ mà ta
đã thề cho các ngươi ở, ngoại trừ
Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê,
và Giô-suê, con trai của Nun.
31. Nhưng ta sẽ đem vào xứ những con trẻ của các
ngươi mà các ngươi có nói
rằng: Chúng nó sẽ bị làm một miếng
mồi; rồi chúng nó sẽ biết xứ các ngươi
đã chê bai.
32. Còn những thây các ngươi sẽ
ngã nằm trong đồng vắng nầy.
33. Con cái các ngươi sẽ chăn chiên nơi
đồng vắng trong bốn mươi năm, và sẽ mang hình
phạt vì tội thông dâm của các
ngươi, cho đến chừng nào thây của các
ngươi đã ngã rạp hết trong đồng vắng.
34. Các ngươi đi do thám xứ bao nhiêu
ngày, nghĩa là bốn mươi ngày,
thì các ngươi cũng sẽ mang hình phạt
vì tội gian ác mình bấy
nhiêu năm, nghĩa là bốn mươi năm, một năm đền cho
một ngày; bấy giờ các ngươi sẽ biết ta
đã xây khỏi các ngươi.
35. Ta, Ðức Giê-hô-va, đã
phán: Ta sẽ làm điều nầy cho cả hội
chúng hung dữ nầy đã hiệp lại nghịch
cùng ta; chúng nó sẽ bị hao
mòn và chết tại trong đồng vắng nầy.
36. Những người mà Môi-se đã sai đi do
thám xứ, khi trở về có xui cho cả hội
chúng lằm bằm cùng Môi-se,
37. và có phao phản xứ, những người nầy đều bị
một tai vạ hành chết trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
38. Nhưng trong bọn người đi do thám xứ, chỉ có
Giô-suê, con trai của Nun, và
Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê,
còn sống được.
39. Môi-se thuật lại những lời nầy cho cả dân
Y-sơ-ra-ên; rồi có một sự thảm sầu rất lớn trong
dân sự.
40. Ðoạn, dân sự dậy sớm đi lên
chót núi mà nói rằng:
Chúng tôi đây sẽ đi lên tới
chỗ Ðức Giê-hô-va đã
phán-hứa, vì chúng tôi
có phạm tội.
41. Song Môi-se nói rằng: Sao các ngươi
trái mạng Ðức Giê-hô-va? Sự
đó sẽ chẳng may mắn đâu.
42. Chớ đi lên đó, e các ngươi bị
quân nghịch đánh bại chăng; vì
Ðức Giê-hô-va không
còn ở giữa các ngươi nữa.
43. Kìa, dân A-ma-léc và
dân Ca-na-an ở đằng trước các ngươi,
các ngươi sẽ bị gươm ngã rạp, bởi vì
đã bội nghịch cùng Ðức
Giê-hô-va, Ðức
Giê-hô-va sẽ không ở cùng
các ngươi.
44. Nhưng dân sự cố ý đi lên
chót núi; còn hòm giao ước
của Ðức Giê-hô-va và
Môi-se không đi ra khỏi trại quân.
45. Dân A-ma-léc và dân
Ca-na-an ở trong núi nầy đổ xuống, đánh bại
và phân thây dân
Y-sơ-ra-ên cho đến Họt-ma.
Dân-số Ký 15
Home
1. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng:
2. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Khi các ngươi vào xứ
mà ta ban cho các ngươi đặng ở,
3. và các ngươi dâng cho Ðức
Giê-hô-va một của lễ dùng lửa đốt; hoặc
một của lễ thiêu, hoặc một của lễ trả sự hứa nguyện, hoặc một
của lễ lạc ý, hay là trong những lễ trọng thể,
các ngươi muốn dâng cho Ðức
Giê-hô-va một của lễ có mùi
thơm bằng bò hay chiên,
4. thì ai dâng lễ vật mình phải
dâng cho Ðức Giê-hô-va một của lễ
chay bằng một phần mười ê-pha bột lọc nhồi với một phần tư
hin dầu.
5. Về mỗi con chiên con, ngươi phải dâng một lễ
quán bằng một phần tư hin rượu với của lễ thiêu
hay là với của lễ khác.
6. Nhược bằng về một con chiên đực, thì ngươi phải
dùng một của lễ chay bằng hai phần mười ê-pha bột
lọc nhồi với một phần ba hin dầu,
7. và một phần ba hin rượu làm lễ
quán, mà dâng có
mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va.
8. Nhược bằng ngươi dâng một con bò tơ, hoặc
làm của lễ thiêu, hoặc làm của lễ trả
sự hứa nguyện hay là làm của lễ thù
ân cho Ðức Giê-hô-va,
9. thì phải dâng chung với con bò tơ
một của lễ chay bằng ba phần mười ê-pha bột lọc nhồi với nửa
hin dầu,
10. và dâng nửa hin rượu làm lễ
quán: ấy là một của lễ dùng lửa
dâng lên có mùi thơm cho
Ðức Giê-hô-va.
11. Người ta cũng phải làm như vậy về mỗi con bò
đực, mỗi con chiên đực, mỗi con chiên con, hay
là mỗi con dê con.
12. Tùy theo số con sinh mà các ngươi
sẽ dâng, thì phải làm như vậy cho mỗi
con.
13. Phàm người sanh ra trong xứ phải làm như vậy,
khi nào dâng một của lễ dùng lửa đốt,
có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va.
14. Nếu một khách ngoại bang kiều ngụ trong các
ngươi hay là một người nào ở giữa các
ngươi từ đời nầy sang đời kia, dùng lửa dâng một
của lễ có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va, thì phải làm y như
các ngươi làm vậy.
15. Trong hội chúng chỉ đồng có một luật lệ cho
các ngươi và cho khách ngoại bang kiều
ngụ giữa các ngươi. Ấy sẽ là một lệ định đời đời
cho dòng dõi các ngươi trước mặt
Ðức Giê-hô-va; khách ngoại bang
cũng đồng như các ngươi vậy.
16. Sẽ có một luật và một lệ như nhau cho
các ngươi và cho khách ngoại bang kiều
ngụ giữa các ngươi.
17. Ðức Giê-hô-va cũng phán
cùng Môi-se rằng:
18. Hãy nói cho dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào các ngươi
đã vào xứ mà ta sẽ dẫn các
ngươi vào,
19. và ăn bánh của xứ đó,
thì các ngươi phải lấy một lễ vật dâng
giơ lên cho Ðức Giê-hô-va.
20. Các ngươi phải lấy ra một cái bánh
nhỏ làm lễ vật, tức là bánh
đầu-tiên về bột nhồi của các ngươi; các
ngươi phải dâng y một cách như dâng giơ
lên lễ vật về sân đạp lúa vậy.
21. Từ đời nầy sang đời kia, các ngươi phải dâng
giơ lên cho Ðức Giê-hô-va một lễ
vật về bột nhồi đầu tiên của các ngươi.
22. Khi các ngươi lầm lỡ phạm tội, không giữ hết
thảy các điều răn nầy mà Ðức
Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se,
23. nghĩa là mọi điều chi Ðức
Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền
cho các ngươi, từ ngày Ðức
Giê-hô-va truyền những điều răn nầy cho
và về ngày sau, trong những dòng
dõi sẽ đến của các ngươi,
24. nếu là tội phạm vì lầm lỡ mà hội
chúng không hay biết, thì cả hội
chúng tùy theo mạng lịnh phải dùng một
con bò đực tơ dâng làm của lễ
thiêu có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va, luôn với của lễ chay
cùng lễ quán cặp theo; và một con
dê đực làm của lễ chuộc tội.
25. Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho cả hội dân
Y-sơ-ra-ên, thì tội hội chúng sẽ được
tha, vì là một tội phạm lầm lỡ và
vì hội chúng đã đem đến trước mặt
Ðức Giê-hô-va lễ vật mình, tức
là một của lễ dùng lửa dâng cho
Ðức Giê-hô-va, luôn với của lễ
chuộc tội đặng chữa sự lầm lỡ mình.
26. Cả hội dân Y-sơ-ra-ên và
khách ngoại bang kiều ngụ trong dân đó
sẽ được tha tội, vì là bởi lầm lỡ mà
cả dân sự đã phạm tội.
27. Nhược bằng chỉ một người lầm lỡ phạm tội, thì người
đó phải dâng một con dê cái
giáp năm làm của lễ chuộc tội;
28. thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người đã
lầm lỡ mà phạm tội như vậy trước mặt Ðức
Giê-hô-va, và khi đã
làm lễ chuộc tội cho người, thì người sẽ được tha.
29. Khi lầm lỡ mà phạm tội, thì sẽ có
đồng một luật lệ cho các ngươi, hoặc là sanh giữa
dân Y-sơ-ra-ên hay là khách
kiều ngụ trong dân đó.
30. Nhưng ai cố ý phạm tội, hoặc người sanh trong xứ, hay
là khách ngoại bang, thì ai
đó khinh bỉ Ðức Giê-hô-va; người
sẽ bị truất khỏi dân sự mình,
31. vì người đã khinh bỉ lời Ðức
Giê-hô-va và trái mạng của
Ngài: người hẳn sẽ bị truất diệt, tội gian ác
người đổ lại trên mình người.
32. Vả, dân Y-sơ-ra-ên đương ở tại đồng vắng, gặp
một người lượm củi trong ngày sa-bát;
33. những kẻ gặp người đương lượm củi dẫn người đến Môi-se,
A-rôn, và cả hội chúng.
34. Họ bắt người giam tù, vì điều phải
làm cho người chưa nhất định.
35. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng: Người nầy phải
phạt xử tử, cả hội chúng hãy ném
đá người ngoài trại quân.
36. Vậy, cả hội chúng đem người ra ngoài trại
quân mà ném đá,
và người chết, y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
37. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
38. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên và biểu họ từ đời nầy sang đời kia
hãy làm một cái tua nơi các
chéo áo mình, và
trên mỗi tua kết một sợi dây màu điều.
39. Các ngươi phải mang cái tua nầy; khi thấy
nó các ngươi sẽ nhớ lại hết thảy điều răn của
Ðức Giê-hô-va mà làm
theo, không theo tư dục của lòng và mắt
mình, là điều làm cho các
ngươi sa vào sự thông dâm.
40. Như vậy, các ngươi sẽ nhớ lại mà
làm theo những điều răn của ta, và làm
thánh cho Ðức Chúa Trời của
các ngươi.
41. Ta là Giê-hô-va, Ðức
Chúa Trời của các ngươi, Ðấng
đã đem các ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô đặng làm Ðức
Chúa Trời của các ngươi. Ta là
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của
các ngươi.
Dân-số Ký 16
Home
1. Vả, Cô-rê, con trai của
Dít-sê-ha, cháu của
Kê-hát, chít của Lê-vi, giục
theo mình Ða-than và A-bi-ram, con trai
của Ê-li-áp, cùng với Ôn, con
trai của Phê-lết, cháu Ru-bên.
2. Các người nầy với hai trăm năm mươi người trong
dân Y-sơ-ra-ên, vốn là quan tướng của
hội, nghị viên của hội đồng, có danh
giá, đều hiệp nhau dấy nghịch cùng
Môi-se và A-rôn,
3. mà rằng: Thôi đủ rồi! vì cả hội
chúng đều là thánh, và
Ðức Giê-hô-va ngự ở trong; vậy sao
các ngươi tự cao trên hội chúng của
Ðức Giê-hô-va?
4. Môi-se nghe điều đó, bèn sấp mặt
xuống đất,
5. nói cùng Cô-rê
và hết thảy kẻ hiệp với người mà rằng:
Sáng mai, Ðức Giê-hô-va sẽ tỏ
cho biết ai thuộc về Ngài và ai là
thánh; Ngài sẽ khiến người đó lại gần
Ngài, tức khiến người nào mà
Ngài đã chọn lấy đến gần Ngài.
6. Hỡi Cô-rê, hãy làm điều
nầy: Ngươi và hết thảy kẻ hiệp với ngươi hãy cầm
lư hương;
7. sáng mai hãy để lửa ở trong và bỏ
hương ở trên trước mặt Ðức
Giê-hô-va. Người nào mà
Ðức Giê-hô-va sẽ chọn, ấy là
người thánh. Hỡi con cháu Lê-vi,
thôi đủ rồi!
8. Môi-se nói cùng
Cô-rê rằng: Hỡi con cháu
Lê-vi, bây giờ hãy nghe.
9. Về phần các ngươi, Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên đã biệt các ngươi
riêng ra với hội chúng Y-sơ-ra-ên,
và khiến các ngươi đến gần Ngài đặng
làm công việc trong đền tạm của Ðức
Giê-hô-va, đặng chực hầu việc trước mặt hội
chúng, việc ấy há là nhỏ mọn sao?
10. Ngài biểu ngươi, hết thảy anh em ngươi với con
cháu Lê-vi đến gần Ngài, các
ngươi lại còn kiếm chức tế lễ nữa sao?
11. Vì vậy, ngươi và toàn
bè đảng của ngươi đều hiệp lại nghịch cùng
Ðức Giê-hô-va! Vì
A-rôn là ai mà các ngươi lằm
bằm cùng người?
12. Môi-se sai đòi Ða-than và
A-bi-ram, con trai Ê-li-áp; nhưng hai người
đáp rằng: Chúng tôi không đi
lên đâu.
13. Há là điều nhỏ mọn mà ngươi
đã đem chúng ta ra khỏi xứ đượm sữa và
mật, đặng làm cho chúng ta chết trong đồng vắng,
mà ngươi lại còn muốn lấn lướt trên
chúng ta nữa sao?
14. Quả thật, ngươi không có dẫn chúng
ta đến trong một xứ đượm sữa và mật đâu, ngươi
không cho chúng ta đồng ruộng hay là
vườn nho làm sản nghiệp đâu! Ngươi toan
khoét mắt của dân nầy ư? Chúng ta
không đi lên đâu.
15. Môi-se nổi giận lắm, thưa cùng Ðức
Giê-hô-va rằng: Xin đừng kể đến của lễ chay
chúng nó nữa; tôi không
có bắt nơi chúng nó một con lừa
nào, và tôi cũng không
có làm hại một ai trong bọn chúng
nó.
16. Ðoạn, Môi-se nói cùng
Cô-rê rằng: Ngày mai ngươi và
toàn bè đảng ngươi với A-rôn
hãy ra mắt Ðức Giê-hô-va.
17. Mỗi người hãy lấy lư hương mình bỏ hương ở
trong, rồi mỗi người dâng lư hương mình trước mặt
Ðức Giê-hô-va, tức là hai trăm
năm mươi cái lư hương. Ngươi và A-rôn,
mỗi người cũng phải có lư hương mình.
18. Vậy, mỗi người lấy lư hương mình để lửa vào,
bỏ hương trên, rồi đứng tại cửa hội mạc luôn với
Môi-se và A-rôn.
19. Cô-rê hiệp cả hội chúng nghịch lại
Môi-se và A-rôn tại cửa hội mạc; sự vinh
quang của Ðức Giê-hô-va hiện ra
cùng cả hội chúng.
20. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se và
A-rôn rằng:
21. Hãy tách khỏi giữa hội chúng nầy,
thì ta sẽ tiêu diệt nó trong một
lát.
22. Hai người bèn sấp mặt xuống mà rằng:
Ôi Ðức Chúa Trời, là
Chúa của thần linh mọi xác thịt! chỉ
có một người phạm tội mà Chúa lại nổi
giận cùng cả hội chúng sao?
23. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
24. Hãy nói cùng hội chúng
mà rằng: Hãy dan ra khỏi chung quanh chỗ ở của
Cô-rê, Ða-than, và A-bi-ram.
25. Môi-se đứng dậy, đi lại phía Ða-than
và A-bi-ram; các trưởng lão
Y-sơ-ra-ên đi theo người.
26. Người nói cùng hội chúng rằng:
Bây giờ, hãy dan ra khỏi trại của các
người hung ác nầy, và chớ đụng đến vật chi thuộc
về họ, e các ngươi sẽ chết vì những tội của họ
chăng.
27. Vậy, dân sự dan ra khỏi tứ phía chỗ ở của
Cô-rê, Ða-than, và A-bi-ram.
Ða-than và A-bi-ram ra đứng tại cửa trại với vợ, con
trai và con nít mình.
28. Môi-se bèn nói rằng: Nhờ điều nầy
các ngươi sẽ biết rằng Ðức
Giê-hô-va có sai ta đặng làm
các điều nầy, và ta chẳng làm sự chi
tự ta.
29. Nếu các kẻ đó chết như mọi người
khác chết, nếu họ đồng chịu số phận chung như mọi người,
thì Ðức Giê-hô-va
không có sai ta.
30. Nhưng nếu Ðức Giê-hô-va làm
một sự thật mới, nếu đất hả miệng ra nuốt họ và mọi
món chi thuộc về họ, nếu họ còn đương sống
mà xuống âm phủ, thì các
ngươi sẽ biết rằng những người nầy có khinh bỉ Ðức
Giê-hô-va.
31. Vừa khi Môi-se nói dứt các lời nầy,
đất ngay dưới chân họ bèn nứt ra;
32. hả miệng nuốt họ, gia quyến và hết thảy phe
Cô-rê cùng tài sản của
chúng nó.
33. Các người đó còn đương sống
và mọi vật chi thuộc về họ đều xuống âm phủ; đất
lấp lại và chúng nó bị diệt khỏi hội
chúng.
34. Cả Y-sơ-ra-ên ở xung quanh nghe tiếng họ la, đều chạy
trốn, vì nói rằng: Chúng ta
hãy coi chừng, kẻo đất nuốt chúng ta chăng!
35. Rồi một ngọn lửa từ Ðức Giê-hô-va
lòe ra thiêu hóa hai trăm năm mươi
người đã dâng hương.
36. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng:
37. Hãy nói với Ê-lê-a-sa,
con trai thầy tế lễ A-rôn, biểu lượm các lư hương
ra khỏi chỗ lửa cháy, và đổ lửa của
các lư hương nơi xa, vì lư hương đã
nên thánh.
38. Còn những lư hương của các người
đã phạm tội cùng sanh mạng mình, người
ta phải lấy làm thành những tấm dát
mỏng để bọc bàn thờ. Bởi các lư hương
đã dâng trước mặt Ðức
Giê-hô-va đã thành
thánh; những tấm dát đó sẽ
dùng làm một dấu cho dân
Y-sơ-ra-ên.
39. Vậy, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, lấy những lư hương
bằng đồng của các người bị thiêu đã
dâng lên, và người ta làm
thành những tấm dát mòng để bọc
bàn thờ.
40. Ấy là một kỷ niệm cho dân
Y-sơ-ra-ên, để người nào ngoại dòng
A-rôn chớ đến gần đặng xông hương trước mặt
Ðức Giê-hô-va, kẻo e đồng số phận
cùng Cô-rê và bè
đảng người, theo lời Ðức Giê-hô-va
đã cậy Môi-se truyền dạy.
41. Ngày mai, cả hội dân Y-sơ-ra-ên lằm
bằm cùng Môi-se và A-rôn
mà rằng: Hai người đã làm chết
dân của Ðức Giê-hô-va.
42. Khi hội chúng đương hiệp nhau nghịch cùng
Môi-se và A-rôn, thì
ngó về hướng hội mạc, xảy thấy trụ mây bao phủ hội
mạc, và sự vinh quang của Ðức
Giê-hô-va hiện ra.
43. Môi-se và A-rôn đến đứng trước hội
mạc,
44. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
45. Hãy dan ra khỏi giữa hội chúng nầy,
thì ta sẽ tiêu diệt nó trong một
lát. Nhưng hai người sấp mặt xuống đất,
46. rồi Môi-se nói cùng A-rôn
rằng: Hãy cầm lấy lư hương để lửa từ trên
bàn thờ vào, bỏ hương lên
trên, mau mau đi đến hội chúng và
làm lễ chuộc tội cho họ; vì sự thạnh nộ của
Ðức Giê-hô-va đã nổi
lên, và tai vạ đã phát khởi.
47. A-rôn bèn cầm lấy lư hương y như
Môi-se đã biểu, chạy đến giữa hội
chúng; kìa, tai vạ đã phát
khởi giữa dân sự. A-rôn bèn bỏ hương
vào, và làm lễ chuộc tội cho
dân sự.
48. Người đứng giữa kẻ chết và kẻ sống, thì tai
vạ bèn ngừng lại.
49. Có mười bốn ngàn bảy trăm người chết
vì tai vạ nầy, trừ ra những kẻ đã bị chết
vì cớ Cô-rê.
50. Ðoạn, A-rôn trở về cùng
Môi-se tại cửa hội mạc, rồi tai vạ ngừng lại.
Dân-số Ký 17
Home
1. Kế đó, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng:
2. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên và biểu rằng: Mỗi chi phái
của họ phải đem nộp cho ngươi một cây gậy; nghĩa
là mười hai cây gậy bởi các quan trưởng
của mỗi chi phái.
3. Ngươi phải đề tên mỗi người trên cây
gậy của mình, và đề tên A-rôn
trên cây gậy của Lê-vi; vì
phải có một cây gậy cho mỗi trưởng tộc.
4. Ngươi phải để các gậy đó trong hội mạc, trước
hòm bảng chứng, là nơi ta gặp ngươi.
5. Hễ người nào ta chọn lấy, thì cây
gậy người đó sẽ trổ hoa; vậy ta sẽ làm cho
nín đi trước mặt ta những lời lằm bằm của dân
Y-sơ-ra-ên đã phát ra đối nghịch
cùng các ngươi.
6. Môi-se nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên, thì hết thảy trưởng tộc,
tùy theo chi phái mình, đem nộp cho
người một cây gậy, tức là mười hai cây.
Gậy của A-rôn ở giữa các cây gậy
khác.
7. Môi-se để những gậy đó trong Trại bảng chứng
trước mặt Ðức Giê-hô-va.
8. Ngày mai, khi Môi-se vào Trại bảng
chứng, xảy thấy cây gậy A-rôn về nhà
Lê-vi đã trổ hoa: nó có nứt
mụt, sanh hoa và trái hạnh-nhân
chín.
9. Môi-se bèn rút các
cây gậy khỏi trước mặt Ðức
Giê-hô-va, đem đưa cho cả dân
Y-sơ-ra-ên; các người đều thấy và mỗi
người lấy gậy mình lại.
10. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Hãy đem cây
gậy của A-rôn để lại trước hòm bảng chứng, đặng
giữ làm một dấu cho con cái phản nghịch; ngươi
phải làm cho nín đi những lời lằm bằm đối nghịch
cùng ta, hầu cho dân chúng chẳng chết.
11. Môi-se làm như vậy, tức làm y như
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn mình.
12. Dân Y-sơ-ra-ên nói cùng
Môi-se rằng: Nầy, chúng tôi bị diệt,
chúng tôi bị chết, chúng tôi
chết mất hết thảy!
13. Phàm ai đến gần đền tạm của Ðức
Giê-hô-va đều chết. Có lẽ
chúng tôi phải chết hết sao?
Dân-số Ký 18
Home
1. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng A-rôn rằng: Ngươi,
các con trai ngươi, và tông tộc ngươi
phải mang lấy những tội lỗi phạm trong nơi thánh;
còn ngươi và các con trai ngươi phải
mang lấy những tội lỗi phạm trong chức tế lễ.
2. Cũng hãy biểu đến gần ngươi các anh em
mình, là chi phái Lê-vi, tức
tông tộc ngươi, đặng các người đó hiệp
với ngươi và hầu việc ngươi; nhưng ngươi và
các con trai ngươi phải ở trước Trại bảng chứng.
3. Các người đó sẽ gìn giữ điều chi
ngươi truyền dạy, và điều nào thuộc về cả Trại;
chỉ không nên lại gần những vật thánh,
cũng đừng lại gần bàn thờ, e khi chúng
nó phải chết, và các ngươi cũng chết
luôn chăng.
4. Vậy, các người đó sẽ hiệp với ngươi coi
sóc điều chi thuộc về hội mạc, và giữ
công việc của Trại; một người ngoại nào chẳng
nên đến gần các ngươi.
5. Các ngươi phải coi sóc điều chi thuộc về nơi
thánh và bàn thờ để đừng có
sự thạnh nộ cùng dân Y-sơ-ra-ên nữa.
6. Còn ta đây, trong dân
Y-sơ-ra-ên ta đã chọn lấy anh em các
ngươi, là những người Lê-vi, mà ban cho
các ngươi, vì đã dâng cho
Ðức Giê-hô-va rồi, đặng làm
công việc của hội mạc.
7. Nhưng ngươi và các con trai ngươi phải kỹ
lưỡng lo cho xong chức tế lễ, quản trị các điều chi thuộc về
bàn thờ, và vật chi ở phía trong
màn; các ngươi phải làm việc
mình tại đó. Chức tế lễ của các ngươi
là một việc ta phong cho như một của ban: người ngoại
nào đến gần sẽ bị xử tử.
8. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng A-rôn rằng: Nầy ta cử ngươi coi
sóc các lễ vật của ta thâu lấy về
mọi-vật mà dân Y-sơ-ra-ên đã
biệt riêng ra thánh; cứ một lệ định đời đời ta ban
những lễ vật nầy cho ngươi và cho các con trai
ngươi như một phần riêng mà phép xức
dầu truyền cho.
9. Trong các vật rất thánh không
có thiêu hóa mà
dân Y-sơ-ra-ên dâng cho ta, nầy
là phần sẽ thuộc về ngươi: Hết thảy lễ vật của họ,
nào của lễ chay, nào của lễ chuộc tội,
nào của lễ chuộc sự mắc lỗi; những vật rất thánh
nầy đều sẽ thuộc về ngươi và các con trai ngươi.
10. Ngươi phải ăn nó trong nơi rất thánh; mọi
người nam phải ăn lấy, ấy sẽ làm một vật thánh
cho ngươi.
11. Vật nầy cũng sẽ thuộc về ngươi: Phàm lễ vật
nào mà dân Y-sơ-ra-ên
dâng giơ lên và đưa qua đưa lại,
thì ta cứ một lệ định đời đời mà ban cho ngươi
và các con trai con gái ngươi. Ai
trong nhà ngươi tinh sạch sẽ được ăn các
món đó.
12. Ta cũng đã ban cho ngươi những vật đầu mùa
mà dân Y-sơ-ra-ên sẽ dâng cho
Ðức Giê-hô-va, hết thảy phần dầu, rượu ngọt
và lúa miến nhất hạng.
13. Mọi hoa quả đầu mùa của đất sanh sản mà
dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Ðức
Giê-hô-va, đều sẽ thuộc về ngươi; ai trong
nhà ngươi tinh sạch sẽ được ăn lấy.
14. Phàm vật chi mà dân
Y-sơ-ra-ên phú dâng sẽ thuộc về ngươi.
15. Mọi con đầu lòng của các xác thịt,
hoặc ngươi, hoặc vật mà dân Y-sơ-ra-ên
dâng cho Ðức Giê-hô-va, đều sẽ
thuộc về ngươi; nhưng ngươi phải chuộc lại con đầu lòng của
loài người, và cũng phải chuộc lại con đầu
lòng của thú vật ô uế.
16. Về sự chuộc lại, ngươi phải chuộc lại những con từ một
tháng trở đi, theo giá định của ngươi,
là năm siếc-lơ bạc, theo siếc-lơ của nơi thánh
là hai mươi ghê-ra.
17. Nhưng ngươi chớ chuộc lại con đầu lòng của bò
cái, hoặc con đầu lòng của chiên
cái hay là con đầu lòng của
dê cái; ấy là những vật
thánh. Ngươi phải rưới huyết nó trên
bàn thờ, và xông mỡ nó
làm của lễ dùng lửa dâng lên
có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va.
18. Thịt nó sẽ thuộc về ngươi như cái o
dâng đưa qua đưa lại và cái
giò hữu.
19. Ta cứ lệ định đời đời ban cho ngươi, các con trai
và các con gái ngươi, hết thảy lễ vật
thánh mà dân Y-sơ-ra-ên
dâng giơ lên cho Ðức
Giê-hô-va: ấy là một giao ước bằng muối
đời đời, không bỏ được, trước mặt Ðức
Giê-hô-va cho ngươi và cho
dòng dõi ngươi.
20. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng A-rôn rằng: Ngươi sẽ
không có cơ nghiệp trong xứ dân
Y-sơ-ra-ên; và chẳng sẽ có phần cho
ngươi giữa dân đó; ta là phần của
ngươi, và là cơ nghiệp của ngươi ở giữa
dân Y-sơ-ra-ên.
21. Còn về con cháu Lê-vi, nầy ta
đã ban cho làm cơ nghiệp, mọi thuế một phần mười
của Y-sơ-ra-ên làm lương về công việc
mình làm trong hội mạc.
22. Dân Y-sơ-ra-ên chớ lại gần hội mạc nữa, e phải
mắc tội và chết chăng.
23. Nhưng ấy là người Lê-vi sẽ làm
công việc của hội mạc; bằng có phạm tội,
thì tự mang lấy; chúng nó sẽ
không có phần cơ nghiệp giữa dân
Y-sơ-ra-ên; ấy sẽ là một lệ định đời đời trải qua
các thế đại.
24. Vì ta đã ban cho người Lê-vi
làm cơ nghiệp, những thuế một phần mười của dân
Y-sơ-ra-ên dâng giơ lên cho Ðức
Giê-hô-va. Bởi cớ đó, ta đã
phán về họ rằng: Họ sẽ không có cơ
nghiệp giữa dân Y-sơ-ra-ên.
25. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng:
26. Ngươi cũng phải truyền cho người Lê-vi rằng: Khi
nào các ngươi đã lãnh của
dân Y-sơ-ra-ên thuế một phần mười mà ta
đã ban về phần dân đó đặng
làm cơ nghiệp của các ngươi, thì
hãy lấy một phần mười của vật thuế một phần mười,
làm của lễ dâng giơ lên cho Ðức
Giê-hô-va.
27. Lễ-vật dâng giơ lên của các ngươi sẽ
kể như lúa mì lấy nơi sân đạp
lúa, và như sự đầy dẫy của hầm rượu.
28. Thế thì, trong những thuế một phần mười mà
các ngươi lãnh nơi dân
Y-sơ-ra-ên, thì cũng phải lấy ra một phần mười
làm lễ vật dâng giơ lên cho Ðức
Giê-hô-va, và giao lễ vật của
Ðức Giê-hô-va đó cho
A-rôn, thầy tế lễ.
29. Trong những lễ vật lãnh được, các ngươi phải
lấy ra phần tốt nhất, biệt riêng ra thánh
mà dâng giơ lên cho Ðức
Giê-hô-va.
30. Ngươi phải nói cùng người Lê-vi
rằng: Khi nào các ngươi đã
dâng giơ lên phần tốt nhất của thuế một phần mười,
thì sẽ kể cho người Lê-vi như huê lợi
của sân đạp lúa, và như huê
lợi của hầm rượu vậy.
31. Các ngươi và gia quyến các ngươi
phải ăn nó trong nơi nào cũng được, vì
là công giá mình về việc
các ngươi làm trong hội mạc.
32. Bởi cớ ấy, khi các ngươi đã dâng
giơ lên phần tốt nhất, các ngươi sẽ
không mắc tội, sẽ không làm ô
uế những vật thánh của dân Y-sơ-ra-ên,
và các ngươi không chết đâu.
Dân-số Ký 19
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se và A-rôn rằng:
2. Nầy là lệ định của luật pháp mà
Ðức Giê-hô-va có truyền rằng:
Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên và biểu dẫn đến người một con
bò cái tơ sắc hoe, không tật
không vít, và chưa mang ách.
3. Ðoạn phải giao nó cho
Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, dẫn ra ngoài trại
quân, rồi người ta giết nó trước mặt người.
4. Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, sẽ dùng
ngón tay nhúng huyết nó rảy bảy lần
phía trước của hội mạc.
5. Người ta sẽ thiêu con bò cái tơ
đó trước mắt người, là thiêu da, thịt,
và huyết với phẩn nó.
6. Kế đó, thầy tế lễ sẽ lấy cây hương nam,
chùm kinh giới, và màu đỏ sặm, liệng
vào giữa đám lửa thiêu con
bò cái tơ.
7. Ðoạn, thầy tế lễ phải giặt áo xống và
tắm mình trong nước, sau rồi vào trại
quân, bị ô uế đến chiều tối.
8. Kẻ nào thiêu con bò cái
tơ phải giặt áo xống và tắm mình trong
nước, bị ô uế đến chiều tối.
9. Một người tinh sạch sẽ hốt tro con bò cái tơ
đổ ngoài trại quân, trong một nơi tinh sạch; người
ta phải giữ tro đó cho hội dân
Y-sơ-ra-ên để dùng làm nước tẩy uế: ấy
là một của lễ chuộc tội.
10. Kẻ nào hốt tro con bò cái tơ phải
giặt áo xống mình và bị ô uế
đến chiều tối. Ðiều nầy sẽ làm một lệ định đời đời
cho dân Y-sơ-ra-ên và cho
khách ngoại bang kiều ngụ giữa dân đó.
11. Ai đụng đến một xác chết của người nào sẽ bị
ô uế trong bảy ngày.
12. Ngày thứ ba và ngày thứ bảy, người
ấy phải dùng nước nầy làm cho mình
được sạch, thì sẽ được sạch; còn nếu
ngày thứ ba và ngày thứ bảy
không làm cho mình được sạch,
thì người vẫn không tinh sạch.
13. Phàm người nào đụng đến xác chết
của người nào và không làm
cho mình được sạch, thì sẽ gây cho đền
tạm của Ðức Giê-hô-va bị ô uế.
Người đó sẽ bị truất khỏi Y-sơ-ra-ên;
vì nước tẩy uế không có rảy
trên mình người, nên người vẫn
ô uế; sự ô uế của người vẫn ở trên
mình người vậy.
14. Nầy là luật pháp khi có một người
nào chết trong trại: bất kỳ ai vào trại
và mọi vật chi ở trong đều sẽ bị ô uế trong bảy
ngày.
15. Phàm bình đựng nào để trống,
không có nắp đậy buộc theo, sẽ bị ô uế.
16. Ngoài đồng, ai đụng đến hoặc một người bị gươm giết,
hoặc một xác chết, hoặc hài cốt loài
người hay là một cái mả, thì sẽ bị
ô uế trong bảy ngày.
17. Về kẻ bị ô uế, người ta phải lấy tro của con sinh
đã bị thiêu đặng chuộc tội, để trong một
cái bình và đổ nước chảy lên
trên.
18. Ðoạn, một người tinh sạch sẽ lấy chùm kinh giới
nhúng vào nước, rồi rảy trên trại,
trên các bình, trên những
người có tại đó, và trên
người đã đụng, hoặc những hài cốt, hoặc một người
bị giết, hoặc một xác chết hay là một
cái mả.
19. Ngày thứ ba và ngày thứ bảy, người
tinh sạch phải rảy nước đó trên người bị
ô uế, và ngày thứ bảy người tinh sạch
sẽ làm cho người được sạch, Người đương được sạch phải giặt
áo xống mình, tắm mình trong nước,
và đến chiếu tối mới được tinh sạch.
20. Còn người nào sẽ bị ô uế
mà không làm cho mình được
sạch, một người như vậy sẽ bị truất khỏi hội chúng;
vì người đã làm cho nơi
thánh của Ðức Giê-hô-va bị
ô uế. Nước tẩy uế không có rưới
trên mình người: người vẫn ô uế.
21. Ấy sẽ là một lệ định đời đời cho dân sự. Người
nào rảy nước tẩy uế sẽ giặt áo xống
mình: kẻ nào đụng đến nước tẩy uế sẽ bị
ô uế đến chiều tối.
22. Phàm vật chi mà người ô uế đụng
đến, đều sẽ bị lây ô uế; còn ai đụng đến
người đó sẽ bị lây ô uế đến chiều tối.
Dân-số Ký 20
Home
1. Tháng giêng, cả hội dân
Y-sơ-ra-ên tới đồng vắng Xin; và dừng lại tại
Ca-đe. Mi-ri-am qua đời và được chôn tại
đó.
2. Vả, không có nước cho hội chúng
uống; chúng bèn dấy loạn cùng
Môi-se và A-rôn.
3. Dân sự cãi-lộn cùng Môi-se
mà rằng: Anh em chúng tôi đã
chết trước mặt Ðức Giê-hô-va, chớ chi
chúng tôi cũng đồng chết luôn thể!
4. Sao người đem hội chúng của Ðức
Giê-hô-va vào đồng vắng nầy,
làm cho chúng tôi và
súc vật của chúng tôi phải chết?
5. Sao người khiến chúng tôi đi lên khỏi
xứ Ê-díp-tô đặng dẫn đến chỗ độc nầy,
là nơi người ta không gieo mạ được, và
chẳng có cây vả, cây nho, cây
lựu, và cũng không có nước uống?
6. Môi-se và A-rôn bèn lui
khỏi mặt hội chúng, đến tại cửa hội mạc, sấp mặt xuống đất;
và sự vinh quang của Ðức
Giê-hô-va cùng hai người.
7. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
8. Hãy cầm lấy cây gậy ngươi, rồi với
A-rôn anh ngươi, hãy truyền nhóm hội
chúng, và hai ngươi phải nói
cùng hòn đá trước mặt hội
chúng, thì hòn đá sẽ chảy
nước ra; ngươi sẽ khiến nước từ hòn đá chảy ra
cho hội chúng và súc vật của họ uống.
9. Vậy, Môi-se cầm lấy cây gậy ở trước mặt
Ðức Giê-hô-va, như Ngài
đã phán dặn.
10. Môi-se và A-rôn truyền
nhóm hội chúng đến trước hòn
đá mà nói rằng: Hỡi dân phản
nghịch! hãy nghe, chúng ta há dễ khiến
nước chảy từ hòn đá nầy ra cho các
ngươi được sao?
11. Môi-se giơ tay lên, đập hòn
đá hai lần bằng cây gậy mình. Nước
bèn chảy tràn ra nhiều, hội chúng
uống, và súc vật họ uống nữa.
12. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se và
A-rôn rằng: Bởi vì hai ngươi không
có tin đến ta, đặng tôn ta nên
thánh trước mặt dân Y-sơ-ra-ên,
vì cớ đó, hai ngươi sẽ không đem hội
chúng nầy vào xứ mà ta đã
cho nó đâu.
13. Ấy đó là nước của Mê-ri-ba, tức
là nơi dân Y-sơ-ra-ên
cãi-trã cùng Ðức
Giê-hô-va; Ngài tự nên
thánh trước mặt dân đó.
14. Ðoạn, từ Ca-đe, Môi-se sai sứ giả đi đến vua
Ê-đôm đặng nói rằng:
Y-sơ-ra-ên, là em vua, có
nói như vầy: Vua biết các sự tai nạn
đã xảy đến cho chúng tôi,
15. và tổ phụ chúng tôi đi xuống xứ
Ê-díp-tô là làm
sao? Chúng tôi đã ở lâu tại
xứ Ê-díp-tô, nhưng dân xứ
đó bạc đãi chúng tôi
và tổ phụ chúng tôi.
16. Chúng tôi có kêu la
cùng Ðức Giê-hô-va;
Ngài có nghe thấu tiếng kêu,
bèn sai một thiên sứ dẫn chúng
tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Nầy,
chúng tôi hiện ở tại Ca-đe, là
thành ở nơi đầu bờ cõi của vua.
17. Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua
xứ của vua; chúng tôi sẽ chẳng đi ngang qua đồng
ruộng, sẽ chẳng đi ngang vườn nho, và chúng
tôi cũng sẽ chẳng uống nước các giếng;
chúng tôi sẽ đi theo đường cái của vua,
không xây qua bên hữu, cũng
không xây qua bên tả cho đến chừng
nào đã đi ngang khỏi bờ cõi của vua.
18. Nhưng Ê-đôm đáp rằng: Ngươi chớ
khá đi ngang ranh ta; bằng cượng, ta sẽ cầm gươm ra
đón ngươi.
19. Dân Y-sơ-ra-ên tâu rằng:
Chúng tôi đi theo đường cái; nếu
chúng tôi và bầy súc vật
chúng tôi uống nước của vua, thì
chúng tôi sẽ trả tiền. Xin chỉ để đi bộ ngang qua,
không chi khác nữa.
20. Nhưng Ê-đôm đáp rằng: Ngươi chẳng
được qua đâu! Ê-đôm bèn đem
quân chúng rất đông, tay cầm binh
khí, ra đón Y-sơ-ra-ên.
21. Ấy vậy, Ê-đôm không cho
phép Y-sơ-ra-ên đi ngang bờ cõi
mình; Y-sơ-ra-ên trở đi khỏi người.
22. Cả hội dân Y-sơ-ra-ên đi từ Ca-đe đến
núi Hô-rơ.
23. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se và A-rôn
trên núi Hô-rơ, tại bờ cõi xứ
Ê-đôm, mà rằng:
24. A-rôn sẽ về nơi tổ phụ mình, vì
người không được vào xứ mà ta
đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên đâu;
bởi vì tại nước Mê-ri-ba, các ngươi
đã bội nghịch điều răn ta.
25. Hãy bắt A-rôn và
Ê-lê-a-sa, con trai người, biểu đi lên
núi Hô-rơ;
26. đoạn hãy lột áo xống A-rôn mặc cho
Ê-lê-a-sa, con trai người. Ấy tại đó
A-rôn sẽ được tiếp về và qua đời.
27. Vậy, Môi-se làm y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn; ba
người đi lên núi Hô-rơ, cả hội
chúng đều thấy.
28. Môi-se lột áo xống A-rôn, mặc cho
Ê-lê-a-sa, con trai người. A-rôn chết tại
đó, trên chót núi; rồi
Môi-se và Ê-lê-a-sa xuống.
29. Cả hội chúng thấy A-rôn đã tắt hơi
rồi, bèn khóc người trong ba mươi ngày.
Dân-số Ký 21
Home
1. Khi vua A-rát, người Ca-na-an, ở nơi Nam phương, hay rằng
Y-sơ-ra-ên theo đường do thám đi đến,
bèn hãm đánh Y-sơ-ra-ên,
và bắt mấy người cầm tù.
2. Y-sơ-ra-ên bèn hứa nguyện cùng
Ðức Giê-hô-va rằng: Nếu Chúa
phó dân nầy vào tay tôi, tất
tôi sẽ diệt các thành của nó.
3. Ðức Giê-hô-va nhậm lời dân
Y-sơ-ra-ên và phó dân
Ca-na-an cho. Người ta diệt hết dân đó
và các thành của nó, đặt
tên chỗ nầy là Họt-ma.
4. Ðoạn, dân Y-sơ-ra-ên đi từ
núi Hô-rơ về hướng Biển đỏ, đặng đi
vòng theo xứ Ê-đôm; giữa đường
dân sự ngã lòng.
5. Vậy, dân sự nói nghịch cùng
Ðức Chúa Trời và Môi-se
mà rằng: Làm sao người khiến chúng
tôi lên khỏi xứ
Ê-díp-tô đặng chết trong đồng vắng?
Vì đây không có
bánh, cũng không có nước, và
linh hồn chúng tôi đã ghê gớm
thứ đồ ăn đạm bạc nầy.
6. Ðức Giê-hô-va sai con rắn lửa đến trong
dân sự, cắn dân đó đến đỗi người
Y-sơ-ra-ên chết rất nhiều.
7. Dân sự bèn đến cùng Môi-se
mà nói rằng: Chúng tôi
có phạm tội, vì đã nói
nghịch Ðức Giê-hô-va và người.
Hãy cầu xin Ðức Giê-hô-va để
Ngài khiến rắn lìa xa chúng
tôi. Môi-se cầu khẩn cho dân sự.
8. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Hãy làm
lấy một con rắn lửa, rồi treo nó trên một
cây sào. Nếu ai bị cắn và
nhìn nó, thì sẽ được sống.
9. Vậy, Môi-se làm một con rắn bằng đồng, rồi treo
lên một cây sào; nếu người
nào đã bị rắn cắn mà nhìn
con rắn bằng đồng, thì được sống.
10. Kế đó, dân Y-sơ-ra-ên đi
và đóng trại tại Ô-bốt.
11. Ðoạn, đi từ Ô-bốt và đóng
trại tại Y-giê-A-ba-rim, tại đồng vắng, đối ngang
Mô-áp về hướng mặt trời mọc.
12. Họ đi từ đó đóng trại tại đèo
Xê-rết.
13. Rồi tự đó đi và đóng trại
phía bên kia Ạt-nôn, ở trong đồng vắng,
vừa ra bờ cõi dân A-mô-rít;
vì Ạt-nôn là giáp-ranh của
dân Mô-áp và dân
A-mô-rít.
14. Bởi cớ đó, trong sách chiến trận của
Ðức Giê-hô-va có nói
rằng: Va-hép ở tại Su-pha, và trũng
Ạt-nôn,
15. cùng những triền trũng chạy xuống phía A-rơ,
và đụng ranh Mô-áp.
16. Từ đó dân Y-sơ-ra-ên đến
Bê-re, ấy đó là cái giếng
mà Ðức Giê-hô-va đã
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
nhóm hiệp dân sự, ta sẽ cho chúng
nó nước.
17. Y-sơ-ra-ên bèn hát bài
nầy: Hỡi giếng, hãy tuôn lên!
hãy ca hát cho nó!
18. Giếng mà các vua chúa
đã khai, Các tước vị của dân sự
đã đào Với phủ việt cùng cây
gậy mình!
19. Kế đó, từ đồng vắng dân Y-sơ-ra-ên
đến Ma-tha-na; rồi từ Ma-tha-na đến Na-ha-li-ên; từ
Na-ha-li-ên đến Ba-mốt;
20. và từ Ba-mốt đến trũng ở trong bờ cõi
Mô-áp, tại chót núi
Phích-ga, là nơi người ta nhìn thấy
đồng bằng của sa mạc.
21. Vả, Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến Si-hôn, vua
dân A-mô-rít, đặng nói rằng:
22. Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua
xứ vua, chúng tôi sẽ không xây
vào đồng ruộng, hay là vào vườn nho,
và chúng tôi cũng sẽ không
uống nước các giếng, cứ đi đường cái của vua cho
đến chừng nào qua khỏi bờ cõi vua.
23. Nhưng Si-hôn không cho phép
Y-sơ-ra-ên đi ngang qua bờ cõi mình,
bèn hiệp hết dân sự mình đi ra
đón Y-sơ-ra-ên về hướng đồng vắng; người đến
Gia-hát, chiến trận cùng Y-sơ-ra-ên.
24. Song Y-sơ-ra-ên dùng lưỡi gươm đánh
bại người, và chiếm xứ người từ Ạt-nôn đến
Gia-bốc, đến dân Am-môn; vì bờ
cõi dân Am-môn bền vững.
25. Y-sơ-ra-ên chiếm hết các thành nầy,
và ở trong các thành dân
A-mô-rít, là ở tại Hết-bôn
và trong các thành địa-hạt.
26. Vì Hết-bôn là thành của
Si-hôn, vua dân A-mô-rít,
là vua đã giao chiến cùng vua trước
của Mô-áp, chiếm lấy khắp hết xứ người đến
Ạt-nôn.
27. Bởi cớ đó, những nhà văn sĩ nói
rằng: Hãy đến Hết-bôn! Thành
Si-hôn phải xây cất và lập vững!
28. Vì có một đám lửa bởi
thành Hết-bôn, Một ngọn lửa bởi thành
Si-hôn mà ra; Nó thiêu đốt
A-rơ của Mô-áp, Các chúa của
nơi cao Ạt-nôn
29. Hỡi Mô-áp, khốn thay cho ngươi! Hỡi
dân Kê-móc, ngươi đã diệt
mất! Người đã nộp con trai mình làm kẻ
trốn tránh, Và con gái mình
làm phu tù cho Si-hôn, vua
A-mô-rít.
30. Chúng ta đã bắn tên nhằm
chúng nó. Hết-bôn đã bị hủy
diệt cho đến Ði-bôn. Chúng ta
đã làm tàn hại đến
Nô-phách, Lửa đã lan đến
Mê-đê-ba.
31. Vậy, Y-sơ-ra-ên ở trong xứ dân
A-mô-rít.
32. Môi-se sai đi do thám Gia-ê-xe,
chiếm các thành bổn hạt và đuổi
dân A-mô-rít ở tại đó.
33. Ðoạn, dân Y-sơ-ra-ên trở lại đi
lên về hướng Ba-san, Óc, vua Ba-san, và
cả dân sự người đi ra đón đặng chiến trận tại
Ết-rê-i.
34. Nhưng Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Ðừng sợ người,
vì ta đã phó người, luôn
dân sự và xứ người vào tay ngươi; ngươi
khá làm cho người như đã
làm cho Si-hôn, vua dân
A-mô-rít ở tại Hết-bôn.
35. Vậy, dân Y-sơ-ra-ên đánh bại
Óc, các con trai người và cả
dân sự người, cho đến chừng không còn
người nào ở lại; dân Y-sơ-ra-ên chiếm
lấy xứ người vậy.
Dân-số Ký 22
Home
1. Ðoạn dân Y-sơ-ra-ên đi, đến
đóng trại trong đồng bắng Mô-áp,
bên kia sông Giô-đanh, đối-diện
Giê-ri-cô.
2. Ba-lác, con trai Xếp-bô, thấy hết mọi điều
Y-sơ-ra-ên đã làm cho dân
A-mô-rít.
3. Mô-áp lấy làm sợ sệt lắm
và kinh khủng trước mặt dân Y-sơ-ra-ên,
vì dân đó rất đông.
4. Vậy, Mô-áp nói cùng
các trưởng lão Ma-đi-an rằng: Bây giờ,
đoàn dân đông nầy sẽ nuốt hết thảy chung
quanh ta, khác nào con bò ăn cỏ trong
đồng vậy. Ðương lúc đó,
Ba-lác, con trai Xếp-bô, làm vua
Mô-áp.
5. Người sai sứ giả đến cùng Ba-la-am, con trai
Bê-ô, ở Phê-thô-rơ, tại
trên mé sông, trong xứ của con
cái dân sự mình, đặng gọi người
mà nói rằng: Nầy một dân đã
ra khỏi xứ Ê-díp-tô, phủ khắp mặt đất,
và đóng lại đối ngang ta.
6. Vậy, ta xin ngươi hãy đến bây giờ, rủa sả
dân nầy cho ta, vì nó mạnh hơn ta.
Có lẽ ta sẽ đánh bại dân nầy
và đuổi nó khỏi xứ được; vì ta biết
rằng kẻ nào ngươi chúc phước cho, thì
được phước; còn kẻ nào ngươi rủa sả,
thì bị rủa sả.
7. Vậy, các trưởng lão Mô-áp
đi cùng các trưởng lão Ma-đi-an, trong
tay có lễ vật cho thầy bói, đến cùng
Ba-la-am mà thuật lại những lời của Ba-lác.
8. Người đáp rằng: Hãy ở lại đây
đêm nay thì ta sẽ trả lời theo như lời Ðức
Giê-hô-va sẽ phán cùng ta.
Các trưởng lão Mô-áp ở lại
nhà Ba-la-am.
9. Vả, Ðức Chúa Trời đến cùng Ba-la-am
và phán rằng: Những người ngươi có
trong nhà là ai?
10. Ba-la-am thưa cùng Ðức Chúa Trời
rằng: Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua
Mô-áp, đã sai đến tôi đặng
nói rằng:
11. Nầy, một dân đã ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, phủ khắp mặt đất;
hãy đến bây giờ, rủa sả dân
đó cho ta; có lẽ ta sẽ đánh bại
dân nầy và đuổi nó được.
12. Ðức Chúa Trời phán cùng
Ba-la-am rằng: Ngươi chớ đi với chúng nó, chớ rủa
sả dân nầy, vì dân nầy được ban phước.
13. Sớm mai Ba-la-am dậy, nói cùng các
sứ thần của Ba-lác rằng: Hãy trở về xứ
các ngươi, vì Ðức
Giê-hô-va không cho ta đi cùng
các ngươi.
14. Vậy, các sứ thần Mô-áp dậy, trở về
Ba-lác mà tâu rằng: Ba-la-am từ chối
đến cùng chúng tôi.
15. Ba-lác lại sai nhiều sứ thần hơn và
tôn trọng hơn những người trước,
16. đến cùng Ba-la-am mà rằng: Ba-lác,
con trai Xếp-bô, có nói như vầy: Ta xin
ngươi, chớ có chi ngăn cản ngươi đến cùng ta,
17. vì ta sẽ tôn ngươi rất vinh hiển,
và làm theo mọi điều ngươi sẽ nói
cùng ta. Ta xin ngươi hãy đến rủa sả
dân nầy.
18. Ba-la-am đáp cùng các sứ thần của
Ba-lác rằng: Dầu Ba-lác sẽ cho ta nhà
người đầy vàng và bạc, ta cũng chẳng được vượt
qua mạng của Giê-hô-va, Ðức Chúa
Trời của ta, đặng làm một việc hoặc nhỏ hay lớn.
19. Song ta xin các ngươi cũng ở lại đêm nay, đặng
ta biết Ðức Giê-hô-va sẽ phán
điều chi cùng ta nữa.
20. Trong lúc ban đêm, Ðức Chúa
Trời giáng đến Ba-la-am mà phán rằng:
Nếu các người ấy đến đặng gọi ngươi, hãy đứng dậy
đi với chúng nó; nhưng chỉ hãy
làm theo lời ta sẽ phán.
21. Vậy, sớm mai, Ba-la-am dậy, thắng lừa cái
mình và đi với các sứ thần
Mô-áp.
22. Nhưng cơn thạnh nộ của Ðức Chúa Trời nổi phừng
lên, vì người ra đi; thiên sứ của
Ðức Giê-hô-va đứng trên đường
đặng cản người. Vả, người đã cỡi lừa cái
mình, và có hai đứa đầy tớ đi theo.
23. Lừa cái thấy thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va đứng trên đường có
cây gươm trần nơi tay, bèn tẻ đường đi
vào trong ruộng; Ba-la-am đánh nó đặng
dẫn nó vào đường lại.
24. Nhưng thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va đứng trong đường nhỏ của vườn nho
có vách bên nầy và
bên kia.
25. Lừa thấy thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va thì nép
vào vách và ép
chân Ba-la-am; người đánh nó.
26. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va đi
tới xa hơn, đứng trong một ngả rất hẹp không chỗ
nào trở qua bên hữu hay là
bên tả;
27. lừa thấy thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va bèn nằm quị dưới Ba-la-am.
Nhưng Ba-la-am nổi giận, đánh lừa bằng một cây gậy.
28. Bấy giờ, Ðức Giê-hô-va mở miệng lừa ra,
nó nói cùng Ba-la-am rằng:
Tôi có làm chi cho người, mà
người đã đánh tôi ba lần?
29. Ba-la-am đáp cùng lừa cái rằng: Ấy
là tại mầy khinh nhạo ta. Chớ chi ta có
cây gươm trong tay, ta đã giết mầy rồi!
30. Lừa nói cùng Ba-la-am rằng: Tôi
há chẳng phải là lừa của người mà
người đã cỡi luôn đến ngày nay sao?
Tôi há có thói
làm như vậy cùng người chăng? Người
đáp: Không.
31. Ðức Giê-hô-va bèn mở mắt
Ba-la-am ra, thấy thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va đứng trong đường, tay cầm một
cây gươm. Người cúi đầu và sấp mặt
xuống đất.
32. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va
nói: Sao ngươi đã đánh lừa
cái ngươi ba lần? Nầy, ta đi ra đặng cản ngươi,
vì ta thấy ngươi đi theo một con đường dẫn mình
đến nơi hư nát.
33. Vả, con lừa cái có thấy ta, đi tẻ trước mặt
ta ba lần, nếu nó không đi tẻ trước mặt ta, chắc
ta đã giết ngươi rồi và để nó sống.
34. Ba-la-am bèn thưa cùng thiên sứ của
Ðức Giê-hô-va rằng: Tôi
có phạm tội, vì chẳng biết người đã
đứng trong đường đặng cản tôi, bây giờ, nếu người
không bằng lòng tôi đi, tôi sẽ
trở về.
35. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va
nói cùng Ba-la-am rằng: Hãy đi
cùng các người đó, nhưng chỉ
hãy nói điều chi ta sẽ phán dặn ngươi.
Ba-la-am bèn đi cùng các sứ thần của
Ba-lác.
36. Khi Ba-lác hay rằng Ba-la-am đến, bèn đi ra
tới thành Mô-áp ở gần khe
Ạt-nôn, tức là ở tận bờ cõi của xứ,
mà nghinh tiếp người.
37. Ba-lác nói cùng Ba-la-am rằng: Ta
há chẳng sai sứ vời ngươi sao? Sao ngươi không đến
ta? Ta há không tôn vinh hiển cho ngươi
được sao?
38. Ba-la-am đáp cùng Ba-lác rằng: Nầy
tôi đã đến cùng vua, bây giờ
tôi há có thể nói ra lời
gì chăng? Tôi sẽ nói điều chi
Ðức Chúa Trời đặt trong miệng tôi vậy.
39. Ba-la-am đi cùng Ba-lác, đến
Ki-ri-át-Hút-sốt.
40. Ba-lác giết những bò và
chiên, sai dâng cho Ba-la-am và
các sứ thần đã đi với người.
41. Khi đến sáng mai, Ba-lác đem Ba-la-am
lên Ba-mốt-Ba-anh, là nơi người thấy đầu
cùng trại quân Y-sơ-ra-ên.
Dân-số Ký 23
Home
1. Ba-la-am nói cùng Ba-lác rằng:
Hãy cất tại đây cho tôi bảy
cái bàn thờ, cùng sắm sẵn cho
tôi bảy con bò đực và bảy con
chiên đực.
2. Ba-lác làm như Ba-la-am đã
nói; hai người dâng một con bò đực
và một con chiên đực trên mỗi
bàn thờ.
3. Ðoạn, Ba-la-am nói cùng
Ba-lác rằng: Vua hãy đứng gần của lễ
thiêu của vua, tôi sẽ đi; có lẽ
Ðức Giê-hô-va sẽ hiện ra cùng
tôi chăng, tôi sẽ thuật lại cùng vua
điều chi Ngài cho tôi thấy. Người đi lên
một nơi cao trống trải.
4. Ðức Chúa Trời hiện ra cùng Ba-la-am,
và Ba-la-am thưa cùng Ngài rằng:
Tôi có lập bảy cái bàn thờ,
và trên mỗi bàn thờ tôi
có dâng một con bò đực và
một con chiên đực.
5. Ðức Giê-hô-va để lời trong miệng
Ba-la-am và phán rằng: Hãy trở về
cùng Ba-lác và nói như vậy.
6. Ba-la-am bèn trở về cùng Ba-lác;
nầy, người và các sứ thần
Mô-áp đứng gần của lễ thiêu vua.
7. Ba-la-am bèn nói lời ca mình
mà rằng: Ba-lác, vua Mô-áp,
sai vời tôi từ A-ram, Từ những núi
Ðông-phương, và nói:
Hãy đến rủa sả Gia-cốp cho ta! Hãy đến, giận mắng
Y-sơ-ra-ên!
8. Kẻ mà Ðức Chúa Trời không
rủa sả, tôi sẽ rủa sả làm sao? Kẻ mà
Ðức Chúa Trời không giận mắng,
tôi sẽ giận mắng làm sao?
9. Vì từ đỉnh các núi, tôi
thấy người, Từ đầu cao gò đống, tôi
nhìn người: Kìa, là một dân
ở riêng ra, Sẽ không nhập số các nước.
10. Ai đếm được bụi cát của Gia-cốp, Ai tu bộ được phần tư
của Y-sơ-ra-ên? Người công chánh
thác thể nào, tôi nguyện
thác thể ấy; Cuối cùng người nghĩa làm
sao, tôi nguyện cuối cùng tôi
làm vậy!
11. Bấy giờ, Ba-lác nói cùng Ba-la-am
rằng: Ngươi đã làm chi với ta? Ta thỉnh ngươi để
rủa sả những thù nghịch ta, kìa ngươi lại
chúc phước cho!
12. Người đáp rằng: Tôi há
không nên cẩn thận nói điều
Giê-hô-va đặt vào miệng tôi
sao?
13. Ba-lác bèn nói: Vậy,
hãy đến cùng ta trong một chỗ khác,
là nơi ngươi sẽ thấy dân nầy, vì ngươi
chỉ đã thấy ở đầu cùng nó, chớ
không thấy hết; ở đó hãy rủa sả
nó cho ta.
14. Vậy, người dẫn Ba-la-am đến đồng Xô-phim, trên
chót núi Phích-ga, lập bảy
cái bàn thờ, và trên mỗi
cái dâng một con bò đực và
một con chiên đực.
15. Ba-la-am bèn nói cùng
Ba-lác rằng: Hãy đứng đây gần của lễ
thiêu của vua, còn tôi sẽ đi lại
đó, đón Ðức Giê-hô-va.
16. Ðức Giê-hô-va hiện ra cùng
Ba-la-am, mà rằng: Hãy trở về cùng
Ba-lác và nói như vậy.
17. Ba-la-am trở về cùng Ba-lác; người
và các sứ thần Mô-áp đứng
gần của lễ thiêu của vua. Ba-lác hỏi: Ðức
Giê-hô-va có phán chi?
18. Ba-la-am bèn nói lời ca mình
mà rằng: Hỡi Ba-lác, hãy đứng dậy
và nghe! Hỡi con trai Xếp-bô, hãy lắng
tai!
19. Ðức Chúa Trời chẳng phải là người để
nói dối, Cũng chẳng phải là con loài
người đặng hối cải. Ðiều Ngài đã
nói, Ngài há sẽ chẳng làm
ư? Ðiều Ngài đã phán,
Ngài há sẽ chẳng làm ứng nghiệm sao?
20. Nầy, tôi đã lãnh mạng
chúc phước; Ngài đã ban phước,
tôi chẳng cải đâu.
21. Ngài chẳng xem tội ác nơi Gia-cốp,
Và không thấy tà vạy trong
Y-sơ-ra-ên; Giê-hô-va, Ðức
Chúa Trời người, ở cùng người, Trong
Y-sơ-ra-ên có tiếng reo mừng của vua.
22. Ấy là Ðức Chúa Trời đã
rút dân đó ra khỏi xứ
Ê-díp-tô; Chúng có
sức mạnh như bò rừng vậy
23. Không có phù chú nơi
Gia-cốp, Cũng chẳng có bói-khoa trong
Y-sơ-ra-ên, Vì đến kỳ định, sẽ nói về
Gia-cốp và Y-sơ-ra-ên rằng: Việc Ðức
Chúa Trời làm lạ là dường
nào!
24. Kìa, một thứ dân hưng lên như sư tử
cái, Và dược lên khác
nào sư tử đực; Chỉ khi nào đã
xé được mồi mới nằm xuống, Và uống huyết những kẻ
bị thương.
25. Bấy giờ, Ba-lác nói cùng Ba-la-am
rằng: Chớ rủa sả họ, nhưng cũng đừng chúc phước cho nữa.
26. Ba-la-am đáp cùng Ba-lác rằng:
Tôi há chẳng có nói:
Tôi phải làm mọi điều Ðức
Giê-hô-va sẽ phán dặn sao?
27. Ba-lác lại nói cùng Ba-la-am rằng:
Vậy, hãy lại, ta dẫn ngươi đến một chỗ khác;
có lẽ Ðức Chúa Trời sẽ ưng cho ngươi rủa
sả dân nầy tại đó chăng.
28. Ba-lác bèn dẫn Ba-la-am đến chót
núi Phê-ô, đối ngang đồng vắng.
29. Ba-la-am nói cùng Ba-lác rằng: Tại
đây, hãy lập cho tôi bảy cái
bàn thờ, và sắm sẵn bảy con bò đực
và bảy con chiên đực.
30. Vậy, Ba-lác làm theo như Ba-la-am
đã nói; trên mỗi bàn thờ,
người dâng một con bò đực và một con
chiên đực.
Dân-số Ký 24
Home
1. Ba-la-am thấy rõ Ðức
Giê-hô-va ưng ban phước cho Y-sơ-ra-ên,
thì không cậy đến phù chú
như những lần khác; nhưng người xây mặt về hướng
đồng vắng,
2. nhướng mắt lên thấy Y-sơ-ra-ên đóng
trại từng chi phái, và Thần Ðức
Chúa Trời cảm động người,
3. bèn nói lời ca mình mà
rằng: Lời ca của Ba-la-am, con trai Bê-ô, Lời ca
của người có mắt mở ra,
4. Lời ca của người nghe lời Ðức Chúa Trời, Xem sự
hiện thấy của Ðấng Toàn năng, Sấp mình
xuống và mắt mở ra:
5. Hỡi Gia-cốp! trại ngươi tốt dường bao! Hỡi Y-sơ-ra-ên!
nhà tạm ngươi đẹp biết mấy!
6. Nó trương ra như trũng núi, Khác
nào cảnh vườn ở nơi mé sông, Tợ
cây trầm hương mà Ðức
Giê-hô-va đã trồng, Tỉ như cây
hương nam ở nơi mé nước.
7. Nước chảy tràn ngoài thùng chứa,
Hột giống của người nhuần tưới dư dật, Vua người sẽ trổi cao hơn
A-gát, Nước người được cao lên.
8. Ðức Chúa Trời đã dẫn người ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, Người có sức mạnh
như bò rừng, Sẽ nuốt các nước, tức kẻ
thù nghịch mình, Bẻ gãy xương
chúng nó, đánh chúng
nó bằng mũi tên mình.
9. Người sụm xuống, nằm như sư tử đực, khác nào
sư tử cái: Ai dễ khiến ngồi lên? Phước cho kẻ
nào chúc phước ngươi, Rủa sả kẻ nào
rủa sả ngươi.
10. Bấy giờ, Ba-lác nổi giận cùng Ba-la-am, vỗ
tay mà nói cùng Ba-la-am rằng: Ta
đã thỉnh ngươi đặng rủa sả kẻ thù nghịch ta; nầy,
ngươi lại chúc phước cho chúng nó
đã ba lần rồi!
11. Vậy, bây giờ, khá chạy trở về xứ ngươi! Ta
đã nói ta sẽ tôn ngươi vinh hiển, nhưng
nầy, Ðức Giê-hô-va đã cản ngươi
nhận lãnh.
12. Ba-la-am đáp cùng Ba-lác rằng:
Tôi há chẳng có nói
cùng các sứ giả vua đã sai đến
tôi rằng:
13. Dầu Ba-lác cho tôi nhà người đầy
bạc và vàng, tôi cũng chẳng được vượt
qua mạng Ðức Giê-hô-va để làm tự
ý điều phải hay là điều quấy; tôi phải
nói điều chi Ðức Giê-hô-va sẽ
phán!
14. Nầy, bây giờ, tôi trở cùng
dân tôi, hãy lại, tôi sẽ
cáo cho vua biết điều dân nầy ngày sau
cùng sẽ làm cho dân sự vua.
15. Người bèn nói lời ca mình
mà rằng: Lời ca của Ba-la-am, con trai
Bê-ô, Lời ca của người có mắt mở ra;
16. Lời ca của người nghe lời Ðức Chúa Trời, Biết sự
tri thức của Ðấng Chí cao, Xem sự hiện thấy của
Ðấng Toàn năng, Sấp mình xuống
mà mắt tự mở ra:
17. Tôi thấy Người, nhưng chẳng phải bây giờ;
Tôi xem Người, nhưng chẳng phải ở gần; Một ngôi sao
hiện ra từ Gia-cốp, Một cây phủ việt trồi lên từ
Y-sơ-ra-ên; Người sẽ đâm lủng
Mô-áp từ đầu nầy tới đầu kia, Hủy diệt
dân hay dấy giặc nầy.
18. Người sẽ được Ê-đôm làm cơ nghiệp;
Sẽ được Sê-i-rơ, là kẻ thù nghịch
mình, làm sản nghiệp. Y-sơ-ra-ên sẽ tỏ
ra sự cường thạnh mình.
19. Ðấng ra từ Gia-cốp sẽ cầm quyền, Người sẽ diệt những
dân sót của thành.
20. Ba-la-am cũng thấy A-ma-léc, bèn
nói lời ca mình rằng: A-ma-léc đứng
đầu các nước; Nhưng sau cùng người sẽ bị diệt
vong.
21. Kế đó, Ba-la-am thấy người Kê-nít,
bèn nói lời ca mình rằng: Chỗ ở ngươi
là bền vững, Ổ ngươi đóng trong hòn
đá.
22. Nhưng Ca-in sẽ bị hư nát, Cho đến khi A-su-rơ bắt dẫn
tù ngươi.
23. Người còn nói lời ca mình rằng:
Ôi! khi Ðức Chúa Trời đã
làm các điều nầy, ai sẽ còn sống?
24. Nhưng sẽ có những tàu từ gành
Kít-tim đến, Hà khắc A-su, hà khắc
Hê-be. Rồi chính người cũng sẽ bị tuyệt diệt.
25. Ðoạn, Ba-la-am đứng dậy đi về bổn xứ. Ba-lác
cũng lên đường.
Dân-số Ký 25
Home
1. Dân Y-sơ-ra-ên ở tại Si-tim, khởi
thông dâm cùng những con gái
Mô-áp.
2. Con gái mời dân sự ăn sinh lễ cúng
các thần mình; dân sự ăn và
quì lạy trước các thần chúng
nó.
3. Y-sơ-ra-ên cũng thờ thần Ba-anh-Phê-ô,
cơn giận của Ðức Giê-hô-va bèn
nổi lên cùng Y-sơ-ra-ên.
4. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Hãy bắt
các đầu trưởng của dân sự, và treo
lên trước mặt Ðức Giê-hô-va, đối
cùng mặt trời, để cơn giận của Ðức
Giê-hô-va xây khỏi Y-sơ-ra-ên.
5. Vậy, Môi-se nói cùng các
quan án Y-sơ-ra-ên rằng: Mỗi người trong
các ngươi phải giết những kẻ nào thuộc về bọn
cúng thờ Ba-anh-Phê-ô.
6. Nầy, một người trong dân Y-sơ-ra-ên dẫn một
người nữ Ma-đi-an đến giữa anh em mình, hiện trước mắt
Môi-se và cả hội dân
Y-sơ-ra-ên, đương khi hội chúng khóc
tại cửa hội mạc.
7. Phi-nê-a, con trai Ê-lê-a-sa,
cháu A-rôn, thầy tế lễ, thấy sự nầy,
bèn đứng dậy giữa hội chúng, cầm một
cây giáo,
8. đi theo người Y-sơ-ra-ên vào trong trại,
đâm ngang dạ dưới của người Y-sơ-ra-ên
và người nữ; tai vạ giữa dân Y-sơ-ra-ên
bèn ngừng lại.
9. Vả, có hai mươi bốn ngàn người chết về tai vạ
nầy.
10. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
11. Phi-nê-a, con trai Ê-lê-a-sa,
cháu A-rôn, thầy tế lễ, đã
xây dân Y-sơ-ra-ên khỏi cơn giận ta,
vì lòng kỵ tà thúc giục
lòng người; vậy, ta không có diệt
dân Y-sơ-ra-ên trong cơn kỵ tà của ta.
12. Bởi cớ đó, hãy cáo cùng
người rằng: Ta ưng cho người sự giao ước bình yên
ta;
13. ấy về phần người và dòng dõi người
sẽ là sự giao ước về một chức tế lễ đời đời, bởi
vì người có lòng sốt sắng về
Ðức Chúa Trời mình, và
có chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên.
14. Vả, người Y-sơ-ra-ên bị giết chung với người nữ Ma-đi-an,
tên là Xim-ri, con trai Sa-lu, quan trưởng của một
tông tộc, người Si-mê-ôn.
15. Tên người nữ Ma-đi-an bị giết là Cốt-bi, con
gái Xu-rơ, đầu trưởng của một tông tộc Ma-đi-an.
16. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
17. Hãy khuấy rối người Ma-đi-an và
hãm đánh chúng nó;
18. vì chúng nó đã lấy mưu
chước mình mà khuấy rối các ngươi, dỗ
dành các ngươi về việc cúng thờ
Phê-ô, và trong việc của Cốt-bi, con
gái quan trưởng Ma-đi-an, là chị chúng
nó đã bị giết trong ngày tai vạ,
vì cớ việc cúng thờ Phê-ô.
Dân-số Ký 26
Home
1. Xảy sau tai vạ nầy, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se và
Ê-lê-a-sa, con trai A-rôn, thầy tế lễ,
mà rằng:
2. Hãy dựng sổ cả hội chúng Y-sơ-ra-ên,
từ hai mươi tuổi sắp lên, tùy theo tông
tộc của họ, tức là hết thảy người trong Y-sơ-ra-ên
đi ra trận được.
3. Vậy, Môi-se và Ê-lê-a-sa,
thầy tế lễ, nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên trong đồng Mô-áp gần
sông Giô-đanh, đối ngang
Giê-ri-cô, mà rằng:
4. Hãy tu bộ dân sự từ hai mươi tuổi sắp
lên, như Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se và
dân Y-sơ-ra-ên, mà đã ra khỏi
xứ Ê-díp-tô.
5. Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên. Con trai
Ru-bên là Hê-nóc; do nơi
người sanh ra họ Hê-nóc; do nơi Pha-lu sanh họ
Pha-lu;
6. do nơi Hết-rôn sanh họ Hết-rôn; do nơi Cạt-mi
sanh ra họ Cạt-mi.
7. Ðó là các họ của
Ru-bên, và những tên người mà
người ta tu bộ, cộng được bốn mươi ba ngàn bảy trăm ba mươi.
8. Con trai Pha-lu là Ê-li-áp.
9. Các con trai của Ê-li-áp
là Nê-mu-ên, Ða-than
và A-bi-ram. Ấy là Ða-than và
A-bi-ram nầy, trưởng của hội chúng dấy loạn cùng
Môi-se và A-rôn, tại phe đảng
Cô-rê, khi họ dấy loạn cùng Ðức
Giê-hô-va.
10. Ấy, khi đất hả miệng ra nuốt hai người và
Cô-rê cùng những kẻ đã hiệp
đảng chết luôn, lúc lửa thiêu nuốt hai
trăm rưởi người; họ làm gương như vậy.
11. Nhưng các con trai Cô-rê
không chết.
12. Các con trai Si-mê-ôn,
tùy theo họ hàng mình: do nơi
Nê-mu-ên sanh ra họ Nê-mu-ên;
do nơi Gia-min sanh ra họ Gia-min; do nơi Gia-kin sanh ra họ Gia-kin;
13. do nơi Xê-rách sanh ra họ
Xê-rách; do nơi Sau-lơ sanh ra họ Sau-lơ.
14. Ðó là các họ của
Si-mê-ôn: số là hai mươi hai
ngàn hai trăm người.
15. Các con trai của Gát, tùy theo họ
hàng mình: do nơi Xê-phôn
sanh ra họ Xê-phôn; do nơi Ha-ghi sanh ra họ
Ha-ghi; do nơi Su-ni sanh ra họ Su-ni;
16. do nơi Óc-ni sanh ra họ Óc-ni; do nơi
Ê-ri sanh ra họ Ê-ri;
17. do nơi A-rốt sanh ra họ A-rốt; do nơi A-rê-li sanh ra họ
A-rê-li.
18. Ðó là các họ của những con
trai Gát, tùy theo tu bộ: số là bốn
mươi ngàn năm trăm người.
19. Các con trai Giu-đa: Ê-rơ và
Ô-nan; nhưng Ê-rơ và Ô-nan
đã qua đời tại xứ Ca-na-an.
20. Các con trai Giu-đa, tùy theo họ
hàng mình: do nơi Sê-la sanh ra họ
Sê-la; do nơi Phê-rết sanh ra họ Phê-rết;
do nơi Xê-rách sanh ra họ
Xê-rách.
21. Các con trai của Pha-rết: do nơi Hết-rôn sanh
ra họ Hết-rôn; do nơi Ha-mun sanh ra họ Ha-mun.
22. Ðó là các họ của Giu-đa,
tùy theo tu bộ: số là bảy mươi sáu
ngàn năm trăm người.
23. Các con trai Y-sa-ca, tùy theo họ
hàng mình: do nơi Thô-la sanh ra họ
Thô-la; do nơi Phu-va sanh ra họ Phu-va;
24. do nơi Gia-súp sanh ra họ Gia-súp; do nơi
Sim-rôn sanh ra họ Sim-rôn.
25. Ðó là các họ Y-sa-ca,
tùy theo tu bộ: số là sáu mươi bốn
ngàn ba trăm người.
26. Các con trai Sa-bu-lôn, tùy theo họ
hàng mình: do nơi Sê-rết sanh ra họ
Sê-rết; do nơi Ê-lôn sanh ra họ
Ê-lôn; do nơi Gia-lê-ên sanh ra
họ Gia-lê-ên.
27. Ðó là các họ của
Sa-bu-lôn tùy theo tu bộ: số là
sáu mươi ngàn năm trăm người.
28. Các con trai Giô-sép,
tùy theo họ hàng mình, là
Ma-na-se và Ép-ra-im.
29. Các con trai Ma-na-se: do nơi Ma-ki sanh ra họ Ma-ki,
Ma-ki sanh Ga-la-át: do nơi Ga-la-át sanh ra họ
Ga-la-át.
30. Nầy là các con trai Ga-la-át: do
nơi Giê-xe sanh ra họ Giê-xe; do nơi
Hê-léc sanh ra họ Hê-léc;
31. do nơi Ách-ri-ên sanh ra họ
Ách-ri-ên; do nơi Si-chem sanh ra họ Si-chem;
32. do nơi Sê-mi-đa sanh ra họ Sê-mi-đa; do nơi
Hê-phe sanh ra họ Hê-phe.
33. Vả, Xê-lô-phát, con trai
Hê-phe, không có con trai, nhưng
có con gái. Tên các con
gái Xê-lô-phát là
Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và
Thiệt-sa.
34. Ðó là các họ Ma-na-se,
tùy theo tu bộ: số là năm mươi hai
ngàn bảy trăm người.
35. Nầy là các con trai Ép-ra-im,
tùy theo họ hàng mình: do nơi
Su-thê-lách sanh ra họ
Su-thê-rách; do nơi Bê-ke sanh ra họ
Bê-ke; do nơi Tha-chan sanh ra họ Tha-chan.
36. Nầy là con trai của Su-thê-lách: do
nơi Ê-ran sanh ra họ Ê-ran.
37. Ðó là họ của các con trai
Ép-ra-im, tùy theo tu bộ: số là ba
mươi hai ngàn năm trăm người. Ấy là
các con trai Giô-sép, tùy
theo họ hàng mình vậy.
38. Các con trai Bên gia-min, tùy theo
họ hàng mình: do nơi Bê-la sanh ra họ
Bê-la; do nơi Ách-bên sanh ra họ
Ách-bên, do nơi A-chi-ram sanh ra họ A-chi-ram;
39. do nơi Sê-phu-pham sanh ra họ Sê-phu-pham; do
nơi Hu-pham sanh ra họ Hu-pham.
40. Các con trai Bê-la là A-rết
và Na-a-man; do nơi A-rết sanh ra họ A-rết; do nơi Na-a-man
sanh ra họ Na-a-man.
41. Ðó là các con trai
Bên-gia-min, tùy theo họ hàng
và tùy theo tu bộ: số là bốn mươi lăm
ngàn sáu trăm người.
42. Nầy là các con trai của Ðan,
tùy theo họ hàng mình: do nơi Su-cham
sanh ra họ Su-cham. Ðó là họ của
Ðan;
43. họ Su-cham, tùy theo tu bộ: số là
sáu mươi bốn ngàn bốn trăm người.
44. Các con trai A-se, tùy theo họ
hàng mình: do nơi Di-ma sanh ra họ Di-ma; do nơi
Dích-vi sanh ra họ Dích-vi; do nơi
Bê-ri-a sanh ra họ Bê-ri-a.
45. Các con trai Bê-ri-a: do nơi Hê-be
sanh ra họ Hê-be; do nơi Manh-ki-ên sanh ra họ
Manh-ki-ên.
46. Tên của con gái A-se là
Sê-rách.
47. Ðó là những họ của các con
trai A-se, tùy theo tu bộ: số là năm mươi ba
ngàn bốn trăm người.
48. Các con trai Nép-ta-li, tùy theo
họ hàng mình: do nơi
Giát-sê-ên sanh ra họ
Giát-sê-ên; do nơi Gu-ni sanh ra họ
Gu-ni;
49. do nơi Dít-se sanh ra họ Dít-se: do nơi
Si-lem sanh ra họ Si-lem.
50. Ðó là các họ của
Nép-ta-li, tùy theo họ hàng
và tu bộ mình: số là bốn mươi lăm
ngàn bốn trăm người.
51. Ðó là những người trong dân
Y-sơ-ra-ên mà người ta tu bộ lại: số là
sáu trăm một ngàn bảy trăm ba mươi người.
52. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
53. Phải tùy theo số các danh mà chia
xứ ra cho những người nầy làm sản nghiệp;
54. chi phái nào số dân đông
thì ngươi phải cho một sản nghiệp lớn hơn, chi
phái nào số dân ít,
thì phải cho một sản nghiệp nhỏ hơn, tức là phải
cho mỗi chi phái sản nghiệp mình cân
phân cùng số tu bộ.
55. Nhưng phải bắt thăm mà chia xứ ra; dân
Y-sơ-ra-ên sẽ lãnh phần sản nghiệp mình
theo tên của các chi phái tổ
tông.
56. Phải tùy sự bắt thăm mà chia sản nghiệp ra
cho mỗi chi phái, hoặc số dân đông hay
ít.
57. Nầy là người Lê-vi mà người ta tu
bộ lại, tùy theo họ hàng mình: do nơi
Ghẹt-sôn sanh ra họ Ghẹt-sôn; do nơi
Kê-hát sanh ra họ Kê-hát; do
nơi Mê-ra-ri sanh ra họ Mê-ra-ri.
58. Nầy là các họ Lê-vi: họ
Líp-ni, họ Hếp-rôn, họ Mách-li, họ
Mu-si, họ Cô-rê. Vả, Kê-hát
sanh Am-ram.
59. Tên vợ Am-ram là
Giô-kê-bết, con gái của Lê-vi,
sanh trong xứ Ê-díp-tô; nàng
sanh cho Am-ram, A-rôn, Môi-se và chị
của hai người là Mi-ri-am.
60. Còn A-rôn sanh Na-đáp và
A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma.
61. Nhưng Na-đáp và A-bi-hu chết trong khi
dâng một thứ lửa lạ trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
62. Những nam đinh mà người ta tu bộ từ một tháng
sắp lên, cộng được hai mươi ba ngàn; vì
người Lê-vi không được kể vào số tu bộ
của dân Y-sơ-ra-ên, bởi người Lê-vi
không được phần sản nghiệp giữa dân
Y-sơ-ra-ên.
63. Ðó là sự tu bộ mà
Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế
lễ, làm về dân Y-sơ-ra-ên trong đồng
bằng Mô-áp gần Giô-đanh, đối ngang
Giê-ri-cô.
64. Trong các người nầy không có một ai
thuộc về bọn mà Môi-se và
A-rôn, thầy tế lễ, đã kiểm soát khi hai
người tu bộ dân Y-sơ-ra-ên tại đồng vắng Si-na-i.
65. Vì Ðức Giê-hô-va
có phán về bọn đó rằng:
Chúng nó hẳn sẽ chết trong đồng vắng! Vậy, chẳng
còn lại một tên, trừ ra Ca-lép, con
trai Giê-phu-nê, và
Giô-suê, con trai Nun.
Dân-số Ký 27
Home
1. Các con gái của
Xê-lô-phát, là con trai
Hê-phe, cháu của Ga-la-át, chắt của
Ma-ki, chít của Ma-na-se, thuộc về họ hàng
Ma-na-se, là con trai của Giô-sép, đến
gần; đây là tên của con gái
người: Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca
và Thiệt-sa.
2. Các con gái đó đến ra mắt
Môi-se, Ê-lê-a-sa thầy tế lễ,
các quan trưởng, và cả hội chúng tại
cửa hội mạc, mà nói rằng:
3. Cha chúng tôi đã chết trong đồng
vắng; người chẳng phải về phe đảng của kẻ hiệp lại nghịch
cùng Ðức Giê-hô-va tức
là phe đảng Cô-rê; nhưng người chết
vì tội lỗi mình, và không
có con trai.
4. Cớ sao danh cha chúng tôi bị trừ ra khỏi giữa
họ người, bởi không có con trai? Hãy
cho chúng tôi một phần sản nghiệp giữa anh em của
cha chúng tôi.
5. Môi-se bèn đem cớ sự của các con
gái ấy đến trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
6. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
7. Các con gái
Xê-lô-phát nói có
lý; ngươi phải cho chúng nó một phần
sản nghiệp giữa anh em của cha chúng nó, tức
là phải giao cho chúng nó sản nghiệp
của cha chúng nó.
8. Ngươi cũng phải nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Khi một người nào chết
không có con trai, thì các
ngươi phải giao sản nghiệp của người lại cho con gái người.
9. Nhược bằng không có con gái,
thì phải giao sản nghiệp cho anh em người.
10. Ví bằng người không có anh em,
thì phải giao sản nghiệp cho chú bác
người.
11. Nếu không có chú bác,
thì phải giao sản nghiệp người cho người bà con
gần hơn hết; và người ấy sẽ được lấy làm của. Ấy
sẽ là một luật lệ để định cho dân
Y-sơ-ra-ên, y như Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se.
12. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng: Hãy
lên trên núi A-ba-rim nầy và
nhìn xem xứ mà ta đã ban cho
dân Y-sơ-ra-ên.
13. Ngươi sẽ nhìn xem xứ đó, rồi ngươi cũng sẽ
được về cùng tổ phụ, như A-rôn, anh ngươi,
đã được về vậy;
14. bởi vì, tại đồng vắng Xin, các ngươi
có bội nghịch mạng lịnh ta, trong lúc hội
chúng cãi cọ, và vì trước
mặt chúng nó, các ngươi
không tôn ta nên thánh về việc
nước. Ấy là nước về sự cãi cọ tại Ca-đe, trong
đồng vắng Xin.
15. Môi-se thưa cùng Ðức
Giê-hô-va rằng:
16. Lạy Giê-hô-va là Ðức
Chúa Trời của thần linh mọi xác thịt, xin
Ngài lập trên hội chúng một người
17. để vào ra trước mặt chúng nó khiến
chúng nó ra vào, hầu cho hội
chúng của Ðức Giê-hô-va chớ như
con chiên không người chăn.
18. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Hãy chọn lấy
Giô-suê con trai của Nun, người có Thần
cảm động; phải đặt tay trên mình người;
19. rồi đem người ra mắt Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ,
và cả hội chúng, truyền lịnh cho người trước mặt
họ,
20. và trao phần vinh hiển ngươi lại cho người, hầu cho cả
hội chúng Y-sơ-ra-ên nghe người.
21. Người phải ra mắt Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, rồi
người sẽ vì Giô-suê cầu hỏi sự
xét đoán của u-rim trước mặt Ðức
Giê-hô-va; theo lịnh Ê-lê-a-sa,
người và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sẽ đi
ra và đi vào.
22. Vậy, Môi-se làm y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
mình, chọn lấy Giô-suê để trước mặt
Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và trước mặt cả
hội chúng,
23. đặt tay trên mình người, và truyền
lịnh cho, y như Ðức Giê-hô-va đã
cậy Môi-se phán dặn vậy.
Dân-số Ký 28
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy truyền lịnh nầy cho dân
Y-sơ-ra-ên mà rằng: Các ngươi phải lo
dâng cho ta trong kỳ định lễ vật và thực vật của
ta, cùng các của lễ dùng lửa
dâng lên có mùi thơm cho ta.
3. Vậy, ngươi phải nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là của lễ dùng lửa
đốt mà các ngươi sẽ dâng cho
Ðức Giê-hô-va: Mỗi ngày, hai con
chiên con đực giáp năm, không
tì vít, làm của lễ thiêu
hằng hiến.
4. Ngươi phải dâng con nầy vào buổi sớm mai
và con kia vào buổi chiều tối;
5. còn về của lễ chay, thì phải dâng
một phần mười ê-pha bột lọc nhồi với một phần tư hin dầu
ô-li-ve ép.
6. Ấy là của lễ thiêu hằng hiến đã lập
tại núi Si-na-i. là một của lễ dùng
lửa dâng lên có mùi thơm cho
Ðức Giê-hô-va.
7. Lễ quán sẽ bằng một phần tư hin rượu cho mỗi một
chiên con. Ngươi phải dâng lễ quán bằng
rượu cho Ðức Giê-hô-va trong nơi
thánh.
8. Ngươi phải dâng chiên con kia vào
buổi chiều tối, và làm một của lễ chay
và một lễ quán như buổi sớm mai; ấy là
một của lễ dùng lửa dâng lên
có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va.
9. Ngày sa-bát, ngươi phải dâng hai
chiên con đực giáp năm, không
tì vít, và hai phần mười
ê-pha bột lọc nhồi dầu làm của lễ chay với lễ
quán cặp theo.
10. Ấy là của lễ thiêu về mỗi ngày
sa-bát, ngoại trừ của lễ thiêu hằng hiến
và lễ quán cặp theo.
11. Mỗi đầu tháng, các ngươi phải dâng
cho Ðức Giê-hô-va hai con bò đực
tơ, một con chiên đực, và bảy chiên con
đực giáp năm, không tì vít,
làm của lễ thiêu;
12. ba phần mười ê-pha bột lọc nhồi dầu dùng
làm của lễ chay về mỗi con bò đực; hai phần mười
ê-pha bột lọc nhồi dầu dùng làm của lễ
chay về con chiên đực;
13. một phần mười ê-pha bột lọc nhồi dầu dùng
làm của lễ chay về mỗi con chiên con. Ấy
là một của lễ thiêu có mùi
thơm, tức một của lễ dùng lửa dâng cho Ðức
Giê-hô-va.
14. Lễ quán sẽ bằng phân nửa hin rượu nho về mỗi
con bò đực, một phần ba hin về con chiên đực
và một phần tư hin về mỗi con chiên con. Ấy
là của lễ thiêu về các đầu
tháng trong năm.
15. Ngoại trừ của lễ thiêu hằng hiến và lễ
quán cặp theo, cũng phải dâng cho Ðức
Giê-hô-va một con dê đực làm
của lễ chuộc tội.
16. Ngày mười bốn tháng giêng, phải giữ
lễ Vượt-qua cho Ðức Giê-hô-va.
17. Qua ngày mười lăm sẽ là ngày lễ;
phải ăn bánh không men trong bảy ngày.
18. Ngày thứ nhứt các ngươi sẽ có sự
hội hiệp thánh: chớ nên làm một
công việc xác thịt nào.
19. Các ngươi phải dâng cho Ðức
Giê-hô-va hai con bò đực tơ,
và bảy chiên con đực giáp năm, đều
không tì vít, làm của lễ
thiêu.
20. Của lễ chay sẽ bằng bột lọc nhồi dầu; các ngươi phải
dâng ba phần mười ê-pha về một con bò
đực, hai phần mười ê-pha về con chiên đực,
21. và một phần mười ê-pha về mỗi chiên
con,
22. luôn một con dê đực làm của lễ chuộc
tội, đặng làm lễ chuộc tội cho các ngươi.
23. Các ngươi phải dâng các lễ vật nầy,
ngoài của lễ thiêu buổi sớm mai, là một
của lễ thiêu hằng hiến.
24. Mỗi bữa trong bảy ngày, các ngươi phải
dâng những lễ vật ngần ấy, như thực vật về của lễ
dùng lửa dâng lên có
mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va.
Người ta phải dâng lễ vật đó ngoài của
lễ thiêu hằng hiến và lễ quán cặp theo.
25. Ngày thứ bảy các ngươi sẽ có sự
hội hiệp thánh, chớ nên làm một
công việc xác thịt nào.
26. Trong kỳ lễ của các tuần, nhằm ngày hoa quả
đầu mùa, khi các ngươi dâng cho
Ðức Giê-hô-va của lễ chay mới,
thì phải có sự hội hiệp thánh; chớ
nên làm một công việc xác
thịt nào.
27. Các ngươi sẽ dùng hai con bò đực
tơ, một con chiên đực, và bảy chiên con
đực giáp năm, đặng làm của lễ thiêu
có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va;
28. của lễ chay sẽ bằng bột lọc nhồi dầu, ba phần mười ê-pha
về mỗi con bò đực, hai phần mười ê-pha về con
chiên đực,
29. một phần mười ê-pha về mỗi con chiên con;
30. cũng phải dâng một con dê đực, để
làm lễ chuộc tội cho mình.
31. Ngoài của lễ thiêu hằng hiến và của
lễ chay cặp theo, các ngươi cũng phải dâng mấy lễ
vật đó, không tì vít,
và thêm những lễ quán cặp theo.
Dân-số Ký 29
Home
1. Ngày mồng một tháng bảy, các ngươi
sẽ có sự nhóm hiệp thánh; chớ
nên làm một công việc xác
thịt nào; về phần các ngươi, ấy sẽ là
một ngày người ta thổi kèn vậy.
2. Các ngươi phải dùng một con bò đực
tơ, một con chiên đực, và bảy chiên con
đực giáp năm, không tì vít,
dâng làm của lễ thiêu có
mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va,
3. luôn với của lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu, ba phần mười
ê-pha về con bò đực, hai phần mười ê-pha
về con chiên đực,
4. một phần mười ê-pha về mỗi con chiên con;
5. và dâng một con dê đực làm
của lễ chuộc tội, để làm lễ chuộc tội cho các
ngươi;
6. các ngươi phải dâng những lễ vật nầy
ngoài của lễ thiêu đầu tháng,
và của lễ chay cặp theo, của lễ thiêu hằng hiến,
và của lễ chay với lễ quán cặp theo,
tùy theo những lệ đã định về mấy của lễ
đó, mà làm của lễ dùng lửa
dâng lên có mùi thơm cho
Ðức Giê-hô-va.
7. Ngày mồng mười tháng bảy nầy, các
ngươi sẽ có sự nhóm hiệp thánh, phải
ép linh hồn mình, chớ nên
làm một công việc xác thịt
nào.
8. Các ngươi phải dâng một con bò đực
tơ, một con chiên đực, và bảy chiên con
đực giáp năm, không tì vít,
làm của lễ thiêu có mùi thơm
cho Ðức Giê-hô-va:
9. của lễ chay sẽ bằng bột lọc nhồi dầu, ba phần mười ê-pha
về con bò đực, hai phần mười ê-pha về con
chiên đực,
10. một phần mười ê-pha về mỗi con chiên con.
11. Các ngươi phải dâng một con dê đực
làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ chuộc tội
mà người ta dâng trong ngày chuộc tội,
của lễ thiêu hằng hiến và của lễ chay với lễ
quán cặp theo.
12. Ngày rằm tháng bảy, các ngươi sẽ
có sự nhóm hiệp thánh. Chớ
nên làm một công việc xác
thịt nào, nhưng các ngươi phải giữ một lễ cho
Ðức Giê-hô-va trong bảy ngày.
13. Các ngươi phải dùng mười ba con bò
đực tơ, hai con chiên đực, và mười bốn
chiên con đực giáp năm, không
tì vít, dâng làm của lễ
thiêu, tức là của lễ dùng lửa
dâng lên có mùi thơm cho
Ðức Giê-hô-va:
14. của lễ chay cặp theo sẽ bằng bột lọc nhồi dầu, ba phần mười
ê-pha về mỗi con bò đực, hai phần mười
ê-pha về mỗi con chiên đực,
15. và một phần mười ê-pha về mỗi con
chiên con.
16. Các ngươi cũng phải dâng một con dê
đực làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ
thiêu hằng hiến, và của lễ chay với lễ
quán cặp theo.
17. Ngày thứ hai, các ngươi phải dâng
mười hai con bò đực tơ, hai con chiên đực, mười
bốn chiên con đực giáp năm, không
tì vít,
18. với của lễ chay và các lễ quán về
những bò đực, chiên đực, và
chiên con cứ theo số như lệ đã định.
19. Các ngươi phải dâng một con dê đực
làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ
thiêu hằng hiến cùng lễ quán cặp theo.
20. Ngày thứ ba, các ngươi phải dâng
mười một con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn
chiên con đực giáp năm, không
tì vít,
21. với của lễ chay và các lễ quán về
những bò đực, chiên đực và
chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
22. Các ngươi phải dâng một con dê đực
làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ
thiêu hằng hiến, cùng của lễ chay và lễ
quán cặp theo.
23. Ngày thứ tư, các ngươi phải dâng
mười con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn
chiên con đực giáp năm, không
tì vít,
24. với của lễ chay và các lễ quán về
những bò đực, chiên đực, và
chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
25. Các ngươi phải dâng một con dê đực
làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ
thiêu hằng hiến, cùng của lễ chay và lễ
quán cặp theo.
26. Ngày thứ năm, các ngươi phải dâng
chín con bò đực, hai con chiên đực,
mười bốn chiên con đực giáp năm, không
tì vít,
27. với của lễ chay và các lễ quán về
những bò đực, chiên đực, và
chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
28. Các ngươi phải dâng một con dê đực
làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ
thiêu hằng hiến, cùng của lễ chay và lễ
quán cặp theo.
29. Ngày thứ sáu, các ngươi phải
dâng tám con bò đực, hai con
chiên đực, mười bốn chiên con đực giáp
năm, không tì vít,
30. với của lễ chay và các lễ quán về
những bò đực; chiên đực, và
chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
31. Các ngươi phải dâng một con dê đực
làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ
thiêu hằng hiến, cùng của lễ chay và lễ
quán cặp theo.
32. Ngày thứ bảy, các ngươi phải dâng
bảy con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn
chiên con đực giáp năm, không
tì vít,
33. với của lễ chay và các lễ quán về
những bò đực, chiên đực, và
chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
34. Các ngươi phải dâng một con dê đực
làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ
thiêu hằng hiến, cùng của lễ chay và lễ
quán cặp theo.
35. Ngày thứ tám, các ngươi phải
có sự nhóm hiệp trọng thể; chớ nên
làm một công việc xác thịt
nào;
36. phải dùng một con bò đực, một con
chiên đực, và bảy chiên con đực
giáp năm, không tì vít,
dâng làm của lễ thiêu, tức là
của lễ dùng lửa dâng lên có
mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va,
37. với của lễ chay và các lễ quán về
những bò đực, chiên đực, và
chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
38. Các ngươi phải dâng một con dê đực
làm của của lễ chuộc tội, ngoài của lễ
thiêu hằng hiến, cùng của lễ chay và lễ
quán cặp theo.
39. Ðó là những lễ vật mà
các ngươi phải dâng cho Ðức
Giê-hô-va trong những ngày lễ trọng thể
mình, đặng làm của lễ thiêu, của lễ
chay, lễ quán, và làm của lễ
thù ân, ngoài những của lễ hứa nguyện,
và những của lễ lạc ý của các ngươi.
40. (30:1) Môi-se nói cùng
dân Y-sơ-ra-ên mọi điều Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn người.
Dân-số Ký 30
Home
1. (30:2) Môi-se cũng nói cùng những
quan trưởng của các chi phái Y-sơ-ra-ên
rằng: Này là điều mà Ðức
Giê-hô-va đã phán:
2. (30:3) Khi một người nào có hứa nguyện
cùng Ðức Giê-hô-va, hoặc
phát thề buộc lấy lòng mình phải giữ
một sự gì, thì chớ nên thất
tín. Mọi lời ra khỏi miệng người, người phải làm
theo.
3. (30:4) Khi một người nữ, trong buổi còn thơ ấu, ở
nhà cha mình, có hứa nguyện
cùng Ðức Giê-hô-va,
và buộc lấy lòng mình phải giữ một
điều chi,
4. (30:5) nếu người cha đã biết lời hứa nguyện
nàng, và sự buộc lòng nàng
tự chịu lấy, mà đối với nàng vẫn làm
thinh, thì nàng phải làm y lời hứa
nguyện, và giữ mọi sự buộc lòng mình
mà nàng tự chịu lấy.
5. (30:6) Còn nhược bằng ngày nào cha
màng biết mà cấm đi, thì
nàng sẽ không mắc lời hứa nguyện mình
hay là các sự buộc lòng giữ
mà nàng đã tự chịu lấy; Ðức
Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng,
vì cha nàng cấm nàng vậy.
6. (30:7) Nếu người nữ ấy đã kết hôn, hoặc
vì hứa nguyện, hoặc vì lời chi lỡ ra khỏi
môi mà nàng đã chịu lấy một
sự buộc mình,
7. (30:8) nhược bằng ngày nào chồng
nàng hay mà đối cùng nàng
vẫn làm thinh, thì nàng phải
làm y lời hứa nguyện, và giữ những sự buộc
lòng mình mà nàng tự chịu
lấy.
8. (30:9) Còn nếu ngày nào chồng
đã biết, cấm nàng đi, hủy lời hứa nguyện
mà nàng mắc đó và lời
gì lỡ ra khỏi môi, mà vì cớ
đó nàng đã buộc lấy mình,
thì Ðức Giê-hô-va sẽ tha tội cho
nàng.
9. (30:10) Lời hứa nguyện của một người đàn bà
góa hoặc một người đàn bà bị để, mọi
điều chi người đã buộc mình, thì phải
giữ lấy.
10. (30:11) Nếu một người đàn bà đã
hứa nguyện trong nhà chồng mình, hoặc
phát thề buộc lấy lòng mình phải giữ
một sự gì,
11. (30:12) và nếu chồng đã hay, vẫn
làm thinh cùng nàng, không
cấm, thì nàng phải làm y lời hứa
nguyện và giữ mọi sự buộc lòng mà
nàng đã tự chịu lấy.
12. (30:13) Nhưng nhược bằng ngày nào chồng
nàng hay biết, hủy đi, thì mọi lời đã
ra khỏi môi về những sự hứa nguyện, và về sự buộc
lòng mình sẽ bị hủy đi; chồng nàng
đã hủy các lời đó, thì
Ðức Giê-hô-va sẽ tha tội cho
nàng.
13. (30:14) Chồng nàng có thể ưng hay hủy mọi sự
hứa nguyện, và mọi lời thề mà nàng sẽ
buộc mình đặng ép linh hồn mình.
14. (30:15) Nhược bằng chồng vẫn làm thinh cùng
nàng ngày nay qua ngày mai, như vậy
chồng ưng các sự hứa nguyện của nàng; chồng ưng,
vì không nói chi ngày
mà người đã hay biết.
15. (30:16) Còn nếu chồng hủy các sự hứa nguyện
một ít lâu sau khi đã hay biết
thì chồng sẽ mang sự hình phạt về tội lỗi của vợ
mình.
16. (30:17) Ðó là các lệ định
mà Ðức Giê-hô-va truyền cho
Môi-se về một người chồng và vợ mình,
một người cha và con gái mình, buổi
thơ ấu khi còn ở nhà cha.
Dân-số Ký 31
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy báo thù dân Ma-đi-an
cho dân Y-sơ-ra-ên; rồi ngươi sẽ được về
cùng tổ phụ.
3. Vậy, Môi-se truyền cho dân sự rằng: Trong
các ngươi hãy sắm sửa binh khí
mà ra trận hãm đánh dân
Ma-đi-an đặng báo thù dân đó
cho Ðức Giê-hô-va.
4. Về mỗi chi phái Y-sơ-ra-ên, các
ngươi phải sai một ngàn lính ra trận.
5. Vậy, trong dân Y-sơ-ra-ên người ta cứ mỗi chi
phái chọn một ngàn lính, là
mười hai ngàn người sắm sửa binh khí đặng ra trận.
6. Môi-se sai mười hai ngàn người đó ra
trận, tức là sai một ngàn người về mỗi chi
phái, với Phi-nê-a, con trai của
Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, đem đi theo mình,
những khí giới thánh cùng
kèn có tiếng vang.
7. Vậy, chúng giao chiến cùng dân
Ma-đi-an, y như Ðức Giê-hô-va đã
phán dặn Môi-se, và giết hết thảy nam
đinh.
8. Trong các người bị giết chúng cũng giết năm
vua Ma-đi-an, là: Ê-vi, Rê-kem, Xu-rơ,
Hu-rơ, và Rê-ba; cũng lấy gươm giết Ba-la-am, con
trai của Bê-ô.
9. Dân Y-sơ-ra-ên bắt đàn bà
và con nít Ma-đi-an dẫn theo, cướp hết thảy
súc vật, bầy chiên và của cải họ,
10. đốt hết những thành, nhà ở, và
hương thôn chúng nó,
11. cũng lấy đem theo hết thảy của đoạt được, bất kỳ người hay vật.
12. Chúng dẫn những kẻ bị bắt và những của đoạt
được đến cho Môi-se, cho Ê-lê-a-sa, thầy
tế lễ, và cho hội dân Y-sơ-ra-ên đương
đóng trại tại đồng bằng Mô-áp, gần
sông Giô-đanh, đối ngang
Giê-ri-cô.
13. Bấy giờ, Môi-se, Ê-lê-a-sa, thầy tế
lễ, và hết thảy hội trưởng đi ra đón rước
chúng binh ngoài trại quân.
14. Môi-se nổi giận cùng các
quân trưởng, tức là quan tướng một ngàn
quân và quan tướng một trăm quân đi
đánh giặc nầy trở về.
15. Môi-se nói cùng họ rằng:
Các ngươi để hết thảy người nữ còn sống sao?
16. Kìa, ấy là chúng nó
theo mưu kế của Ba-la-am mà dụ dỗ dân
Y-sơ-ra-ên cùng thờ Phê-ô,
và phạm một tội trọng cùng Ðức
Giê-hô-va; và tội đó xui cho
hội chúng của Ðức Giê-hô-va bị
tai vạ.
17. Vậy bây giờ, hãy giết hết thảy nam đinh trong
bọn con trẻ, và giết người nữ nào đã
kết bạn cùng một người nam;
18. nhưng hãy để sống cho các ngươi hết thảy con
gái chưa hề kết bạn cùng người nam.
19. Còn về phần các ngươi, hãy
đóng trại ngoài trại quân trong bảy
ngày. Ai có giết một người và
có đụng đến một xác chết, thì ai
đó cùng kẻ bị bắt, phải dọn cho mình
được sạch ngày thứ ba và ngày thứ bảy.
20. Cũng phải làm cho sạch hết thảy áo xống, mọi
vật bằng da, mọi vật bằng lông dê, và
mọi đồ đạc bằng cây.
21. Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, nói
cùng những lính trận đi về, mà rằng:
Nầy là điều luật pháp dạy mà
Ðức Giê-hô-va đã truyền cho
Môi-se:
22. vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì,
23. tức là mọi vật đưa vào lửa được,
thì các ngươi phải đưa ngang qua lửa đặng luyện
nó; nhưng người ta cũng phải dùng nước tẩy uế
mà làm cho nó được sạch nữa.
Còn mọi vật chi không đưa qua lửa được,
thì phải ngâm nó trong nước.
24. Ngày thứ bảy các ngươi phải giặt
áo xống mình, thì sẽ được sạch; đoạn
mới được vào trại quân.
25. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
26. Ngươi, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và
các quan trưởng của những tông tộc, hãy
dựng sổ về của giặc mà người ta đã đoạt được,
nào người, nào vật,
27. rồi chia của đó cho các người đã
ra trận và cho cả hội chúng.
28. Trong phần thuộc về quân binh đã ra trận, hoặc
người, hoặc bò, hoặc lừa hay chiên, ngươi phải cứ
thâu một phần trong năm trăm mà đóng
thuế cho Ðức Giê-hô-va,
29. tức phải thâu thuế đó trong phân nửa
thuộc về quân binh và giao cho
Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, làm lễ vật
dâng cho Ðức Giê-hô-va.
30. Còn trong phân nửa kia thuộc về dân
Y-sơ-ra-ên, hoặc người, hoặc bò, hoặc lừa hay
chiên, tức các súc vật, ngươi phải cứ
mỗi năm chục mà để riêng ra một, và
giao cho người Lê-vi có chức phận coi
sóc đền tạm của Ðức Giê-hô-va.
31. Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy
tế lễ, làm y như Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se.
32. Vả, của giặc còn lại mà quân binh
cướp lấy được, là sáu trăm bảy mươi lăm
ngàn con chiên cái;
33. bảy mươi hai ngàn con bò,
34. sáu mươi mốt ngàn con lừa đực.
35. Người nữ chưa kết bạn cùng người nam nào, hết
thảy được ba mươi hai ngàn người.
36. Phân nửa thuộc về kẻ đã đi trận, là
ba trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm con chiên
cái,
37. đóng thuế cho Ðức Giê-hô-va
là sáu trăm bảy mươi lăm con;
38. ba mươi sáu ngàn con bò,
đóng thuế cho Ðức Giê-hô-va
là bảy mươi hai con;
39. ba ngàn năm trăm con lừa đực, và
đóng thuế cho Ðức Giê-hô-va
sáu mươi mốt con;
40. mười sáu ngàn người, và
đóng thuế cho Ðức Giê-hô-va
là ba mươi hai người.
41. Môi-se giao cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ
của thuế làm lễ vật dâng cho Ðức
Giê-hô-va, y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
42. Phân nửa kia thuộc về dân Y-sơ-ra-ên,
tức là phân nửa mà Môi-se
chia ra với phân nửa của quân binh đã đi
trận,
43. phân nửa nầy thuộc về hội chúng, số
là ba trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm con
chiên cái,
44. ba mươi sáu ngàn con bò,
45. ba mươi ngàn năm trăm con lừa,
46. và mười sáu ngàn người.
47. Trong phân nửa nầy thuộc về dân
Y-sơ-ra-ên, Môi-se cứ mỗi năm chục thì
để riêng ra một, bất luận người hay vật, và giao
cho người Lê-vi có chức phận coi sóc
đền tạm của Ðức Giê-hô-va, y như
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn mình.
48. Những quan trưởng, tức là quan tướng một ngàn
quân và quan tướng một trăm quân, đến
gần Môi-se
49. mà rằng: Những kẻ tôi tớ ông
đã dựng sổ chiến sĩ, là người ở dưới quyền
chúng tôi, và không thiếu một
tên.
50. Mỗi người trong chúng tôi có đem
đến đồ bằng vàng mình đã được, hoặc
dây chuyền, hoặc vòng, hoặc
cà-rá, hoặc hoa tai, hoặc kiềng, làm
lễ vật dâng cho Ðức Giê-hô-va
đặng chuộc tội cho mình trước mặt Ngài.
51. Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy
tế lễ, bèn nhận lãnh vàng,
và hết thảy đồ trang sức làm công kỹ.
52. Hết thảy vàng về lễ vật mà những quan tướng
một ngàn quân và quan tướng một trăm
quân dâng cho Ðức
Giê-hô-va, cộng là mười sáu
ngàn bảy trăm năm mươi siếc-lơ.
53. Vả, mỗi người trong quân binh đều có cướp lấy
vật cho mình.
54. Vậy, Môi-se và Ê-lê-a-sa,
thầy tế lễ, nhận lãnh vàng của quan tướng
ngàn quân và trăm quân, rồi
đem vào hội mạc làm kỷ niệm về dân
Y-sơ-ra-ên trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
Dân-số Ký 32
Home
1. Vả, con cháu Ru-bên cùng con
cháu Gát có bầy súc vật rất
nhiều; thấy xứ Gia-ê-xe và xứ Ga-la-át
là đất tiện hiệp nuôi bầy súc vật:
2. bèn đến thưa cùng Môi-se,
Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và các
hội trưởng mà rằng:
3. A-ta-rốt, Ði-bôn, Gia-ê-xe, Nim-ra,
Hết-bôn, Ê-lê-a-sa, Sê-bam,
Nê-bô và Bê-ôn,
4. xứ mà Ðức Giê-hô-va
đã đánh bại trước mặt hội chúng
Y-sơ-ra-ên, là một xứ tiện hiệp nuôi bầy
súc vật, và các tôi tớ
ông có bầy súc vật.
5. Lại tiếp rằng: Nếu chúng tôi được ơn trước mặt
ông, chớ chi ban xứ nầy cho kẻ tôi tớ ông
làm sản nghiệp, xin đừng biểu chúng tôi
đi ngang qua sông Giô-đanh.
6. Nhưng Môi-se đáp cùng con
cháu Gát và con cháu
Ru-bên rằng: Anh em các ngươi há sẽ đi
trận, còn các ngươi ở lại đây sao?
7. Sao các ngươi xui dân Y-sơ-ra-ên trở
lòng, không khứng đi qua xứ mà
Ðức Giê-hô-va đã cho?
8. Ấy, tổ phụ các ngươi cũng làm như vậy khi ở từ
Ca-đe-Ba-nê-a, ta sai họ đi do thám xứ.
9. Vì tổ phụ các ngươi lên đến
đèo Ếch-côn, thấy xứ, rồi xui dân
Y-sơ-ra-ên trở lòng, không khứng
vào xứ mà Ðức
Giê-hô-va đã ban cho.
10. Trong ngày đó, cơn thạnh nộ của Ðức
Giê-hô-va phừng lên và
Ngài thề rằng:
11. Những người đi lên khỏi xứ
Ê-díp-tô, từ hai mươi tuổi sắp
lên, sẽ chẳng hề thấy xứ mà ta đã thề
ban cho Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp,
vì các người đó không theo
ta cách trung thành,
12. trừ ra Ca-lép, con trai của
Giê-phu-nê, là người
Kê-nít, và Giô-suê,
con trai của Nun: hai người đó đã theo
Ðức Giê-hô-va cách trung
thành.
13. Ấy vậy, cơn thạnh nộ của Ðức Giê-hô-va
nổi phừng phừng cùng dân Y-sơ-ra-ên,
Ngài làm cho dân đó đi lưu
lạc trong đồng vắng bốn mươi năm, cho đến chừng nào cả
dòng dõi đã làm điều
ác trước mặt Ðức Giê-hô-va bị
tiêu diệt hết.
14. Nầy các ngươi dấy lên thế cho tổ phụ
mình, là dòng dõi tội
nhân, đặng gia thêm sức thạnh nộ của Ðức
Giê-hô-va cùng Y-sơ-ra-ên nữa.
15. Vì nhược bằng các ngươi đi tẻ Ngài
ra, thì Ngài sẽ cứ để dân nầy ở trong
đồng vắng, và các ngươi làm cho
dân chết sạch hết vậy.
16. Nhưng các người đó đến gần Môi-se
mà rằng: Tại đây, chúng tôi
sẽ dựng chuồng cho súc vật và thành
cho con trẻ chúng tôi;
17. rồi chúng tôi cầm binh khí lập tức
đặng đi trước dân Y-sơ-ra-ên cho đến chừng
nào đưa dân ấy vào cõi
đã phân định cho họ. Còn con trẻ
chúng tôi phải ở trong thành
kiên cố, vì cớ dân bổn xứ.
18. Chúng tôi không trở về
nhà chúng tôi trước khi mọi người trong
dân Y-sơ-ra-ên chưa lãnh được sản nghiệp
mình.
19. Chúng tôi sẽ chẳng được chi với dân
Y-sơ-ra-ên về bên kia sông
Giô-đanh hay là xa hơn, vì
chúng tôi được sản nghiệp mình ở
bên nầy sông Giô-đanh, về phía
đông.
20. Môi-se đáp cùng các
người rằng: Nếu các ngươi làm điều đó,
nếu cầm binh khí đặng đi chiến trận trước mặt Ðức
Giê-hô-va,
21. nếu mọi người cầm binh khí đi ngang qua sống
Giô-đanh trước mặt Ðức Giê-hô-va,
cho đến khi nào đuổi quân-nghịch chạy khỏi trước
mặt Ngài,
22. và nếu chỉ trở về sau khi xứ đã phục trước
mặt Ðức Giê-hô-va, thì đối
cùng Ðức Giê-hô-va và
Y-sơ-ra-ên, các ngươi sẽ không bị
trách móc chi, và đất nầy sẽ
làm sản nghiệp cho các ngươi trước mặt
Ðức Giê-hô-va.
23. Còn nếu không làm như vậy, nầy
các ngươi sẽ phạm tội cùng Ðức
Giê-hô-va, và phải biết rằng tội chắc sẽ
đổ lại trên các ngươi.
24. Vậy, hãy cất thành cho con trẻ
mình, cùng dựng chuồng cho bầy súc vật
và làm điều các ngươi đã
nói.
25. Con cháu Gát và con
cháu Ru-bên bèn nói
cùng Môi-se rằng: Các tôi tớ
ông sẽ làm điều mà chúa
tôi phán dặn.
26. Con trẻ, vợ, bầy chiên, và hết thảy
súc vật chúng tôi sẽ ở đây
trong những thành xứ Ga-la-át;
27. còn hết thảy tôi tớ ông sẽ cầm binh
khí, đi ngang qua, sẵn ngừa mà chiến trận trước
mặt Ðức Giê-hô-va, như chúa
tôi đã phán dặn.
28. Vậy, Môi-se về phần các người đó
truyền lịnh cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, cho
Giô-suê, con trai Nun, và cho
các quan trưởng của những chi phái dân
Y-sơ-ra-ên,
29. mà rằng: Nếu con cháu Gát
và con cháu Ru-bên cầm binh
khí đi ngang qua sông Giô-đanh với
các ngươi đặng chiến trận trước mặt Ðức
Giê-hô-va, và nếu xứ phục các
ngươi, thì các ngươi phải ban cho họ xứ
Ga-la-át làm sản nghiệp.
30. Nhưng nếu họ không cầm binh khí mà
đi ngang qua với các ngươi, thì họ sẽ
có sản nghiệp giữa các ngươi trong xứ Ca-na-an.
31. Con cháu Gát và con
cháu Ru-bên thưa rằng: Chúng
tôi sẽ làm điều chi mà Ðức
Giê-hô-va đã phán
cùng kẻ tôi tớ ông.
32. Chúng tôi sẽ cầm binh khí đi qua
trong xứ Ca-na-an trước mặt Ðức Giê-hô-va;
nhưng chúng tôi sẽ lãnh sản nghiệp
mình về phía bên nầy sông
Giô-đanh.
33. Ấy vậy, Môi-se ban cho con cháu
Gát, con cháu Ru-bên, và
phân nữa chi phái Ma-na-se, là con trai
của Giô-sép, nước của Si-hôn, vua
dân A-mô-rít, và nước của
Óc, vua xứ Ba-san, tức là ban xứ với những
thành nó và các
thành địa-hạt ở chung quanh.
34. Con cháu Gát bèn xây cất
Ði-bôn, A-ta-rốt, A-rô-e,
35. Ạt-rốt-Sô-phan, Gia-ê-xe,
Giô-bê-ha,
36. Bết-Nim-ra, và Bết-Ha-ran, là những
thành kiên cố. Cũng dựng chuồng cho bầy
súc vật nữa.
37. Con cháu Ru-bên xây cất
Hết-bôn, Ê-lê-a-lê,
Ki-ri-a-ta-im,
38. Nê-bô, Ba-anh-Mê-ôn,
tên các thành nầy bị đổi, và
Síp-ma; rồi đặt tên cho các
thành nào mình xây cất.
39. Con cháu Ma-ki, là con trai Ma-na-se, đi
vào chiếm xứ Ga-la-át và đuổi người
A-mô-rít ở trong đó ra.
40. Vậy, Môi-se ban xứ Ga-la-át cho Ma-ki,
là con trai Ma-na-se, và người ở tại
đó.
41. Giai-rơ, là con trai Ma-na-se, đi chiếm các
thôn dân A-mô-rít, đặt
tên là thôn Giai-rơ.
42. Nô-bách đi lấy thành
Kê-nát với các thành địa
hạt, đặt tên là Nô-bách theo
chánh danh mình.
Dân-số Ký 33
Home
1. Nầy là các nơi đóng trại của
dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi xứ
Ê-díp-tô tùy theo
các đội ngũ, có Môi-se và
A-rôn quản lý.
2. Môi-se vâng mạng Ðức
Giê-hô-va chép sự hành
trình của dân chúng, tùy
theo các nơi đóng trại. Vậy, nầy là
các nơi đóng trại tùy theo sự
hành trình của họ.
3. Ngày rằm tháng giêng, tức
ngày sau lễ Vượt-qua, dân Y-sơ-ra-ên ra
đi từ Ram-se, cách dạn dĩ, có mắt của hết thảy
người Ê-díp-tô thấy.
4. Người Ê-díp-tô chôn những
kẻ mà Ðức Giê-hô-va
đã hành hại giữa bọn mình, tức
là hết thảy con đầu lòng: Ðức
Giê-hô-va đã đoán
xét các thần chúng nó.
5. Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Ram-se đến đóng
trại tại Su-cốt;
6. rồi đi từ Su-cốt đến đóng trại tại Ê-tam, ở
cuối đồng vắng.
7. Kế đó, đi từ Ê-tam vòng về hướng
Phi-Ha-hi-rốt, đối ngang cùng
Ba-anh-Sê-phôn, và đóng trại
trước Mít-đôn.
8. Dân Y-sơ-ra-ên bỏ Phi-Ha-hi-rốt, đi qua giữa
biển về hướng đồng vắng đi ba ngày đường ngang đồng vắng
Ê-tam, rồi đóng trại tại Ma-ra.
9. Ðoạn, đi từ Ma-ra đến Ê-lim; vả, tại
Ê-lim có mười hai cái suối
và bảy chục cây chà-là,
bèn đóng trại tại đó.
10. Dân sự đi từ Ê-lim và
đóng trại gần Biển đỏ.
11. Ðoạn, di từ Biển đỏ và đóng trại tại
đồng vắng Sin.
12. Ði từ đồng vắng Sin và đóng trại tại
Ðáp-ca.
13. Ði từ Ðáp-ca và
đóng trại tại A-lúc.
14. Ði từ A-lúc và đóng trại
tại Rê-phi-đim, là nơi không
có nước cho dân sự uống.
15. Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Rê-phi-đim
và đóng trại trong đồng vắng Si-na-i.
16. Kế đó, đi từ đồng vắng Si-na-i và
đóng trại tại Kíp-rốt Ha-tha-va.
17. Ði từ Kíp-rốt-Ha-tha-va và
đóng trại tại Hát-sê-rốt.
18. Ðoạn, đi từ Hát-sê-rốt và
đóng trại tại Rít-ma.
19. Ði từ Rít-ma và đóng trại
tại Ri-môn Phê-rết.
20. Ði từ Ri-môn-Phê-rết và
đóng trại tại Líp-na.
21. Ði từ Líp-na và đóng trại
tại Ri-sa.
22. Kế đó, đi từ Ri-sa và đóng trại
tại Kê-hê-la-tha.
23. Ði từ Kê-hê-la-tha đóng trại
tại núi Sê-phe.
24. Ði từ núi Sê-phe và
đóng trại tại Ha-ra-đa.
25. Ði từ Ha-ra-đa và đóng trại tại
Mác-hê-lốt.
26. Ðoạn, đi từ Mác-hê-lốt và
đóng trại tại Ta-hát.
27. Ði từ Ta-hát và đóng trại
tại Ta-rách.
28. Ði từ Ta-rách và đóng trại
tại Mít-ga.
29. Ði từ Mít-ga và đóng trại
tại Hách-mô-na.
30. Ði từ Hách-mô-na và
đóng trại tại Mô-sê-rốt.
31. Ði từ Mô-sê-rốt và
đóng trại tại Bê-be-Gia-can.
32. Ði từ Bê-ne-Gia-can và đóng
trại tại Hô-Ghi-gát.
33. Ði từ Hô-Ghi-gát và
đóng trại tại Dốt-ba-tha.
34. Ði từ Dốt-ba-tha và đóng trại tại
Áp-rô-na.
35. Ðoạn, đi từ Áp-rô-na và
đóng trại tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
36. Ði từ Ê-xi-ôn-Ghê-be
và đóng trại tại đồng vắng Xin, nghĩa
là tại Ca-đe.
37. Kế đó, đi từ Ca-đe và đóng trại
tại núi Hô-rơ, ở chót đầu xứ
Ê-đôm.
38. A-rôn, thầy tế lễ, theo mạng Ðức
Giê-hô-va lên trên
núi Hô-rơ, rồi qua đời tại đó, nhằm
ngày mồng một tháng năm, năm thứ bốn mươi sau khi
dân Y-sơ-ra-ên đã ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
39. Khi A-rôn qua đời trên núi
Hô-rơ, người đã được một trăm hai mươi ba tuổi.
40. Bấy giờ, vua A-rát, là người Ca-na-an, ở miền
nam xứ Ca-na-an, hay rằng dân Y-sơ-ra-ên đến.
41. Dân Y-sơ-ra-ên đi từ núi
Hô-rơ và đóng trại tại
Xa-mô-na.
42. Ði từ Xa-mô-na và đóng trại
tại Phu-nôn.
43. Ði từ Phu-nôn và đóng trại
tại Ô-bốt.
44. Kế đó, đi từ Ô-bốt và
đóng trại tại Y-giê-A-ba-rim, trên bờ
cõi Mô-áp.
45. Ði từ Y-giê-A-ba-rim và
đóng trại tại Ði-bôn-Gát.
46. Ði từ Ði-bôn-Gát và
đóng trại tại
Anh-môn-Ðíp-la-tha-im.
47. Kế ấy, đi từ Anh-môn-Ðíp-la-tha-im
và đóng trại tại núi A-ba-rim trước
Nê-bô.
48. Ði từ núi A-ba-rim và đóng
trại tại đồng bằng Mô-áp gần sông
Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.
49. Dân Y-sơ-ra-ên đóng trại gần
đông Giô-đanh, từ Bết-Giê-si-mốt chi
A-bên-Si-tim trong đồng Mô-áp.
50. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se trong đồng Mô-áp
gần sông Giô-đanh, đối ngang
Giê-ri-cô, mà rằng:
51. Hãy truyền cùng dân
Y-sơ-ra-ên mà rằng: Khi nào
các ngươi đã đi ngang qua sông
Giô-đanh đặng vào xứ Ca-na-an rồi,
52. thì phải đuổi hết thảy dân của xứ khỏi trước
mặt các ngươi, phá hủy hết thảy hình
tượng chạm và hình đúc,
cùng đạp đổ các nơi cao của chúng
nó.
53. Các ngươi sẽ lãnh xứ làm sản
nghiệp và ở tại đó; vì ta
đã ban xứ cho các ngươi đặng làm cơ
nghiệp.
54. Phải bắt thăm chia xứ ra tùy theo họ hàng
các ngươi. Hễ ai số đông, các ngươi
phải cho một sản nghiệp lớn hơn; còn hễ ai số ít,
thì phải cho một sản nghiệp nhỏ hơn. Mỗi người sẽ nhận
lãnh phần mình bắt thăm được; phải cứ những chi
phái tổ phụ các ngươi mà chia xứ ra.
55. Còn nếu các ngươi không đuổi
dân của xứ khỏi trước mặt mình, thì
những kẻ nào trong bọn họ mà các ngươi
còn chừa lại, sẽ như gai trong con mắt, và như
chông nơi hông các ngươi,
chúng nó sẽ theo bắt riết các ngươi
tại trong xứ các ngươi ở;
56. rồi xảy đến ta sẽ hành hại các ngươi
khác nào ta đã toan hành
hại chúng nó vậy.
Dân-số Ký 34
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy truyền điều nầy cho dân
Y-sơ-ra-ên mà rằng: Các ngươi sẽ
vào xứ Ca-na-an đặng lãnh xứ làm sản
nghiệp, tức là xứ Ca-na-an khắp bốn bề:
3. Miền nam sẽ thuộc về các ngươi, từ đồng vắng Xin chạy
dài theo Ê-đôm. Ấy vậy, giới hạn của
các ngươi về phía nam sẽ chạy từ đầu Biển-mặn về
bên hướng đông.
4. Giới hạn nầy chạy vòng phía nam của
núi Ạc-ráp-bim, đi ngang về hướng Xin
và giáp phía nam
Ca-đe-Ba-nê-a; đoạn chạy qua
Hát-sa-Át-đa, và đi ngang hướng
Át-môn.
5. Từ Át-môn giới hạn chạy vòng về lối
suối Ê-díp-tô và
giáp biển.
6. Còn về giới hạn phía tây
thì các ngươi sẽ có biển lớn
dùng làm hạn, ấy sẽ là giới hạn về
phía Tây.
7. Nầy là giới hạn của các ngươi về
phía Bắc: Từ biển lớn, các ngươi sẽ chấm
núi Hô-rơ làm hạn;
8. từ núi Hô-rơ, các ngươi sẽ chấm tại
đầu Ha-mát làm hạn; rồi giới hạn sẽ
giáp tại Xê-đát.
9. Giới hạn sẽ chạy về hướng Xíp-rôn và
ăn cuối Hát-sa-Ê-nan, đó là
giới hạn của các ngươi về phía Bắc.
10. Phía đông các ngươi sẽ chấm ranh
mình từ Hát-sa-Ê-nan tới
Sê-pham;
11. rồi chạy từ Sê-pham xuống đến Ríp-la về hướng
đông của A-in; đoạn chạy xuống và giáp
gành biển Ki-nê-rết về phía
đông.
12. Rốt lại, giới hạn sẽ chạy xuống về phía sông
Giô-đanh và giáp Biển-mặn.
Ðó là xứ các ngươi sẽ
có, cùng các giới hạn nó
xung quanh vậy.
13. Môi-se bèn truyền lịnh nầy cho dân
Y-sơ-ra-ên mà rằng: Ấy đó là
xứ các ngươi sẽ bắt thăm chia ra mà Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn cho
chín chi phái và phân nửa
của một chi phái.
14. Vì chi phái con cháu
Ru-bên, tùy theo tông tộc
mình, và chi phái con cháu
Gát, tùy theo tông tộc mình,
cùng phân nửa chi phái Ma-na-se
đã lãnh phần sản nghiệp mình rồi.
15. Hai chi phái và nửa chi phái nầy
đã nhận lãnh sản nghiệp mình ở
phía bên kia sông Giô-đanh,
đối ngang Giê-ri-cô về hướng đông, tức về
phía mặt trời mọc.
16. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
17. Ðây là tên những người sẽ
đứng chia xứ: Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và
Giô-suê, con trai Nun.
18. Các ngươi cũng phải cứ mỗi chi phái chọn một
quan trưởng đặng chia xứ ra.
19. Ðây là tên các
người đó: Về chi phái Giu-đa, Ca-lép,
con trai Giê-phu-nê;
20. về chi phái con cháu
Si-mê-ôn, Sê-mu-ên, con trai
A-mi-hút;
21. về chi phái Bên-gia-min,
Ê-li-đát, con trai Kít-lon;
22. về chi phái con cháu Ðan, một quan
trưởng tên là Bu-ki, con trai Giốc-li;
23. về con cháu Giô-sép; về chi
phái con cháu Ma-na-se, một quan trưởng
tên là Ha-ni-ên, con trai
Ê-phát;
24. và về chi phái con cháu
Ép-ra-im, một quan trưởng tên là
Kê-mu-ên, con trai Síp-tan;
25. về chi phái con cháu Sa-bu-lôn, một
quan trưởng tên là
Ê-lít-sa-phan, con trai
Phác-nát;
26. về chi phái con cháu Y-sa-ca, một quan trưởng
tên là Pha-ti-ên, con trai A-xan;
27. về chi phái con cháu A-se, một quan trưởng
tên là A-hi-hút, con trai Se-lu-mi;
28. và về chi phái con cháu
Nép-ta-li, một quan trưởng tên là
Phê-đa-ên, con trai A-mi-hút.
29. Ðó là những người mà
Ðức Giê-hô-va phán biểu đứng
chia sản nghiệp cho dân Y-sơ-ra-ên trong xứ
Ca-na-an.
Dân-số Ký 35
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se trong đồng Mô-áp,
gần sông Giô-đanh, đối ngang
Giê-ri-cô, mà rằng:
2. Hãy biểu dân Y-sơ-ra-ên do trong phần
sản nghiệp mình đã có, nhường những
thành cho người Lê-vi đặng ở; cho luôn
một miếng đất ở chung quanh các thành
đó.
3. Người Lê-vi sẽ có những thành đặng
ở; còn đất chung quanh các thành nầy
sẽ dùng cho súc vật, cho sản vật, và
cho hết thảy thú vật của họ.
4. Ðất chung quanh thành mà
các ngươi nhường cho người Lê-vi sẽ là
một ngàn thước chu vi, kể từ vách
thành và ở ngoài.
5. Vậy các ngươi phải đo, phía ngoài
thành về hướng đông hai ngàn thước, về
hướng nam hai ngàn thước, về hướng tây hai
ngàn thước, và về hướng bắc hai ngàn
thước; cái thành sẽ ở chính giữa.
Ðó sẽ là đất của những thành
người Lê-vi.
6. Trong số thành các ngươi sẽ nhường cho người
Lê-vi, sẽ có sáu cái
thành ẩn náu mà các ngươi
phải chỉ cho, để kẻ sát nhân trốn tránh
tại đó; ngoài sáu thành
đó, các ngươi phải nhường cho người
Lê-vi bốn mười hai cái thành.
7. Hết thảy thành các ngươi sẽ nhường cho người
Lê-vi luôn với đất, số là bốn mươi
tám cái.
8. Về những thành do trong sản nghiệp của dân
Y-sơ-ra-ên mà các ngươi sẽ nhường cho
người Lê-vi phải lấy bớt nhiều hơn của chi phái
có nhiều, và lấy bớt ít hơn của chi
phái có ít; mỗi chi phái
nhường cho người Lê-vi những thành cân
phân theo sản nghiệp của mình sẽ được.
9. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng:
10. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào các ngươi
đã đi qua sông Giô-đanh đặng
vào xứ Ca-na-an,
11. thì phải lựa những thành dùng
làm thành ẩn náu cho mình,
là nơi kẻ sát nhân, vì
vô ý đánh chết ai, chạy ẩn
náu mình được.
12. Những thành đó sẽ dùng
làm thành ẩn náu để trốn khỏi kẻ
báo thù huyết, hầu cho kẻ sát
nhân không chết cho đến chừng nào ứng
hầu trước mặt hội chúng đặng chịu xét
đoán.
13. Vậy, trong những thành các ngươi nhường cho,
sẽ có sáu thành ẩn náu cho
các ngươi.
14. Các ngươi phải chỉ ba thành phía
bên kia sông Giô-đanh, và lập
ba thành khác trong xứ Ca-na-an; ấy sẽ
là những thành ẩn náu.
15. Sáu thành nầy sẽ dùng
làm chỗ ẩn náu cho dân
Y-sơ-ra-ên, luôn cho khách ngoại bang
và kẻ nào kiều ngụ ở trong dân
đó, để ai vì vô ý
đánh chết một người có thế chạy ẩn
mình tại đó.
16. Nhưng nếu người ấy đánh bằng đồ sắt, và người
bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát
nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử.
17. Nếu người đánh bằng một cục đá cầm nơi tay
có thế làm chết, và người bị
đánh chết đi, ấy là một kẻ sát
nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử.
18. Cũng vậy, nếu người đánh bằng đồ cây cầm nơi
tay có thế làm chết, và người bị
đánh chết đi, ấy là một kẻ sát
nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử.
19. Ấy là kẻ báo thù huyết sẽ
làm cho kẻ sát nhân phải chết; khi
nào kẻ báo thù huyết gặp kẻ
sát nhân thì phải làm cho
nó chết đi.
20. Nếu một người nào vì lòng ganh
ghét xô lấn một người khác, hay
là cố ý liệng vật chi trên
mình nó, và vì cớ
đó nó bị chết;
21. hoặc vì sự thù đánh bằng
bàn tay, và vì cớ đó
nó bị chết, thì người nào
đánh đó hẳn phải bị xử tử. Ấy là một
kẻ sát nhân; người báo thù
huyết khi nào gặp kẻ sát nhân phải
làm cho nó chết đi.
22. Nếu vì tình cờ, vẫn hòa thuận
nhau, mà người có lấn xô, hoặc liệng
vật chi trên mình người kia,
23. hoặc nếu không phải thù nghịch chẳng
có ý làm hại, lại không thấy
mà làm rớt một cục đá trên
mình người kia, có thế làm chết được,
và nếu người chết đi,
24. thì cứ theo luật lệ nầy, hội chúng phải xử
đoán cho kẻ đã đánh và kẻ
báo thù huyết:
25. hội chúng sẽ giải cứu kẻ sát nhân
khỏi tay người báo thù huyết, và biểu
người trở về thành ẩn náu, là nơi
người đã chạy ẩn mình; và người phải ở
đó cho đến chừng nào thầy tế lễ thượng phẩm
đã được xức dầu thánh qua đời.
26. Nhưng nếu kẻ sát nhân đi ra ngoài
giới hạn của thành ẩn náu, là nơi
người đã chạy ẩn mình,
27. và nếu kẻ báo thù huyết gặp, giết
người ở ngoài giới hạn thành ẩn náu,
thì kẻ báo thù huyết sẽ
không mắc tội sát nhân.
28. Vì kẻ sát nhân phải ở trong
thành ẩn náu cho đến chừng nào thầy tế
lễ thượng phẩm qua đời, kẻ sát nhân sẽ được trở về
trong sản nghiệp mình.
29. Bất luận các ngươi ở nơi nào, điều nầy phải
dùng làm một luật lệ xét
đoán cho các ngươi trải qua các đời.
30. Nếu ai giết một người nào, người ta sẽ cứ theo lời khai
của những người chứng mà giết kẻ sát
nhân; nhưng một người chứng không đủ cớ đặng giết
ai.
31. Các ngươi chớ lãnh tiền chuộc mạng của một
người sát nhân đã có tội
và đáng chết, vì nó hẳn
phải bị xử tử.
32. Các ngươi đừng lãnh tiền chuộc kẻ
đã chạy ẩn mình trong thành ẩn
náu, hầu cho nó trở về ở trong xứ sau khi thầy tế
lễ qua đời.
33. Các ngươi chớ làm ô uế xứ
mà các ngươi sẽ ở; vì huyết
làm ô uế xứ. Nhược bằng có kẻ
làm đổ huyết ra trong xứ, nếu không làm
đổ huyết nó lại, thì không thế chuộc
tội cho xứ được.
34. Vậy, các ngươi chớ làm ô uế xứ,
là nơi các ngươi sẽ ở, và
chánh giữa đó là nơi ta sẽ ngự;
vì ta là Ðức
Giê-hô-va ngự giữa dân
Y-sơ-ra-ên.
Dân-số Ký 36
Home
1. Vả, những trưởng tộc Ga-la-át, là con trai
Ma-ki, cháu Ma-na-se, trong dòng con
cháu Giô-sép, đến gần và
nói trước mặt Môi-se cùng trước mặt
các tổng trưởng của những chi phái
Y-sơ-ra-ên,
2. mà rằng: Ðức Giê-hô-va
có phán cùng chúa
tôi bắt thăm chia xứ cho dân Y-sơ-ra-ên
làm sản nghiệp, và chúa tôi
có lãnh mạng Ðức
Giê-hô-va giao sản nghiệp của
Xê-lô-phát, anh chúng
tôi, cho các con gái người.
3. Nếu các con gái kết hôn với một
trong những con trai về các chi phái
khác của dân Y-sơ-ra-ên, sản nghiệp
chúng nó sẽ truất khỏi sản nghiệp của tổ phụ
chúng tôi mà thêm
vào sản nghiệp của chi phái nào
chúng nó sẽ thuộc về; như vậy phần đó
phải truất khỏi sản nghiệp đã bắt thăm về chúng
tôi.
4. Khi đến năm hân hỉ cho dân Y-sơ-ra-ên,
sản nghiệp chúng nó sẽ thêm
vào sản nghiệp của chi phái nào
chúng nó sẽ thuộc về; như vậy, sản nghiệp
chúng nó sẽ truất khỏi sản nghiệp của chi
phái tổ phụ chúng tôi.
5. Môi-se bèn truyền các lịnh nầy của
Ðức Giê-hô-va cho dân
Y-sơ-ra-ên mà rằng: Chi phái con
cháu Giô-sép nói
có lý.
6. Nầy là điều Ðức Giê-hô-va
có phán về phần các con gái
Xê-lô-phát: Chúng
nó muốn kết thân với ai thì muốn, những
chỉ hãy kết thân với một trong những
nhà của chi phái tổ phụ mình.
7. Như vậy, trong dân Y-sơ-ra-ên, một sản nghiệp
nào chẳng được từ chi phái nầy đem qua chi
phái khác, vì mỗi người trong
dân Y-sơ-ra-ên sẽ ở đeo theo sản nghiệp về chi
phái tổ phụ mình.
8. Phàm người con gái nào được một
phần sản nghiệp trong một của các chi phái
Y-sơ-ra-ên, thì phải kết thân
cùng một người của một nhà nào về chi
phái tổ phụ mình, hầu cho mỗi người trong
dân Y-sơ-ra-ên hưởng phần sản nghiệp của tổ phụ
mình.
9. Vậy, một phần sản nghiệp nào chẳng được từ chi
phái nầy đem qua chi phái kia; nhưng mỗi chi
phái Y-sơ-ra-ên sẽ giữ sản nghiệp mình
vậy.
10. Các con gái
Xê-lô-phát làm như
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn Môi-se.
11. Mách-la, Thiệt-sa, Hốt-la, Minh-ca, và
Nô-a, các con gái của
Xê-lô-phát, đều kết thân
cùng các con trai của cậu mình.
12. Chúng nó kết thân trong những
nhà của con cháu Ma-na-se, là con trai
Giô-sép, và phần sản nghiệp họ
còn lại trong chi phái tổ phụ mình.
13. Ðó là các mạng lịnh
và luật lệ mà Ðức
Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền
cho dân Y-sơ-ra-ên, tại trong đồng bằng
Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối
ngang Giê-ri-cô.