[1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27]
Lê-vi Ký 1
Home
1. Ðức Giê-hô-va từ trong hội mạc gọi
Môi-se mà phán rằng:
2. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Khi người nào trong
vòng các ngươi dâng của lễ cho
Ðức Giê-hô-va, thì phải
dâng súc vật, hoặc bò, hoặc
chiên.
3. Nếu lễ vật của ngươi là của lễ thiêu bằng
bò, thì phải dùng con đực
không tì vít, dâng
lên tại cửa hội mạc, trước mặt Ðức
Giê-hô-va, để được Ngài đẹp
lòng nhậm lấy.
4. Ngươi sẽ nhận tay mình trên đầu con sinh,
nó sẽ được nhậm thế cho, hầu chuộc tội cho người.
5. Ðoạn, người sẽ giết bò tơ trước mặt Ðức
Giê-hô-va, rồi các con trai
A-rôn, tức những thầy tế lễ, sẽ dâng huyết
lên, và rưới chung quanh trên
bàn thờ tại nơi cửa hội mạc.
6. Kế đó, lột da con sinh, và sả thịt ra từng
miếng.
7. Các con trai thầy tế lễ A-rôn sẽ châm
lửa trên bàn thờ, chất củi chụm lửa;
8. rồi các con trai A-rôn, tức những thầy tế lễ
sắp các miếng thịt, đầu và mỡ lên
trên củi đã chụm lửa nơi bàn thờ.
9. Người sẽ lấy nước rửa bộ lòng và
giò, rồi thấy tế lễ đem hết mọi phần xông nơi
bàn thờ; ấy là của lễ thiêu, tức một
của lễ dùng lữa dâng lên, có
mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va.
10. Nếu lễ vật người là của lễ thiêu bằng
súc vật nhỏ, hoặc chiên hay dê,
thì phải dâng một con đực không
tì vít,
11. giết nó nơi hướng bắc của bàn thờ, trước mặt
Ðức Giê-hô-va; rồi các con trai
A-rôn, tức những thầy tế lễ, sẽ rưới huyết chung quanh
trên bàn thờ;
12. sả thịt từng miếng, để riêng đầu và mỡ ra;
thầy tế lễ sẽ chất các phần đó trên củi
đã chụm lửa nơi bàn thờ.
13. Người sẽ lấy nước rửa bộ lòng và
giò; đoạn thầy tế lễ dâng và
xông hết mọi phần trên bàn thờ; ấy
là của lễ thiêu, tức một của lễ dùng
lửa dâng lên, có mùi thơm cho
Ðức Giê-hô-va.
14. Nếu lễ vật người dâng cho Ðức
Giê-hô-va là một của lễ thiêu
bằng chim, thì phải dùng cu đất hay là
bò câu con.
15. Thầy tế lễ sẽ đem nó đến bàn thờ, vặn rứt đầu
ra, rồi xông trên bàn thờ; vắt huyết
chảy nơi cạnh bàn thờ.
16. Người sẽ gỡ lấy cái diều và nhổ
lông, liệng gần bàn thờ, về hướng đông,
là chỗ đổ tro;
17. đoạn xé nó ra tại nơi hai cánh,
nhưng không cho rời, rồi thầy tế lễ sẽ đem xông
trên bàn thờ, tại trên củi đã
chụm lửa; ấy là của lễ thiêu, tức một của lễ
dùng lửa dâng lên, có
mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va.
Lê-vi Ký 2
Home
1. Khi nào ai dâng cho Ðức
Giê-hô-va một của lễ chay, thì lễ vật
người phải bằng bột lọc có chế dầu, và để nhũ
hương lên trên.
2. Người sẽ đem đến cho các con trai A-rôn, tức
những thầy tế lễ; thầy tế lễ sẽ lấy một nắm bột lọc chế dầu
và hết thảy nhũ hương, đem xông làm kỷ
niệm trên bàn thờ; ấy là một của lễ
dùng lửa dâng lên, có
mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va.
3. Phần chi trong của lễ chay còn lại sẽ thuộc về
A-rôn và các con trai người; ấy
là một vật chí thánh trong
các của lễ dùng lửa dâng cho
Ðức Giê-hô-va.
4. Khi nào ngươi dùng vật chi hấp lò
làm của lễ chay, thì phải lấy bột mịn
làm bánh nhỏ không men nhồi dầu,
và bánh tráng không men thoa
dầu.
5. Nếu ngươi dùng vật chiên trong chảo đặng
làm của lễ chay, thì phải bằng bột mịn
không pha men, nhồi với dầu,
6. bẻ ra từ miếng và chế dầu trên. Ấy
là của lễ chay.
7. Nếu ngươi dùng vật chiên trong chảo lớn đặng
làm của lễ chay, thì phải bằng bột mịn với dầu.
8. Của lễ chay đã sắm sửa như cách nầy, ngươi sẽ
đem dâng cho Ðức Giê-hô-va, giao
cho thầy tế lễ, và ngươi sẽ đem đến bàn thờ.
9. Thầy tế lễ sẽ lấy ra phần phải dâng làm kỷ
niệm, xông trên bàn thờ; ấy
là một của lễ dùng lửa dâng
lên, có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va.
10. Phần chi trong của lễ chay còn lại sẽ thuộc về
A-rôn và các con trai người; ấy
là một vật chí thánh trong
các của lễ dùng lửa dâng cho
Ðức Giê-hô-va.
11. Hễ của lễ chay các ngươi dâng cho Ðức
Giê-hô-va, thì chớ dâng với
men; vì các ngươi chớ dùng men hay mật
xông với của lễ chi dùng lửa dâng cho
Ðức Giê-hô-va.
12. Các ngươi được dâng những vật đó
cho Ðức Giê-hô-va như của lễ đầu
mùa; nhưng chẳng nên đốt trên
bàn thờ như của lễ có mùi thơm.
13. Phải nêm muối các của lễ chay; chớ
nên dâng lên thiếu muối; vì
muối là dấu hiệu về sự giao ước của Ðức
Chúa Trời đã lập cùng ngươi;
trên các lễ vật ngươi phải dâng muối.
14. Nếu ngươi dùng hoa quả đầu mùa đặng
làm của lễ chay tế Ðức
Giê-hô-va, thì phải bằng gié
lúa rang, hột lúa mới tán ra,
15. đổ dầu vào và thêm nhũ hương. Ấy
là của lễ chay.
16. Ðoạn, thầy tế lễ lấy một phần hột tán ra với dầu
và hết thảy nhũ hương mà xông
làm kỷ niệm. Ấy là của lễ dùng lửa
dâng cho Ðức Giê-hô-va.
Lê-vi Ký 3
Home
1. Phàm khi nào ai dâng của lễ
thù ân bằng bò, hoặc đực hoặc
cái, thì phải dâng lên trước
mặt Ðức Giê-hô-va, không
tì vít chi.
2. Người sẽ nhận tay mình trên đầu con sinh của
mình, rồi giết nó tại cửa hội mạc; các
con trai A-rôn, tức những thầy tế lễ, sẽ rảy huyết chung
quanh trên bàn thờ.
3. Do của lễ thù ân nầy, người sẽ dâng
làm của lễ dùng lửa dâng cho
Ðức Giê-hô-va, mỡ chài
và mỡ bộ lòng;
4. hai trái cật, mỡ trên hai trái cật
nơi cạnh hông, và tấm da mỏng bọc gan, gỡ gần nơi
hai trái cật.
5. Các con trai A-rôn sẽ xông mấy
món đó nơi bàn thờ trên của
lễ thiêu đã chất trên củi chụm lửa rồi;
ấy là một của lễ dùng lửa dâng
lên, có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va.
6. Nếu người dâng cho Ðức
Giê-hô-va của lễ thù ân bằng
chiên, hoặc đực hoặc cái, thì phải
dâng lên không tì
vít chi.
7. Vì của lễ bằng chiên con thì phải
dâng nó lên trước mặt Ðức
Giê-hô-va,
8. nhận tay mình trên đầu con sinh, rồi giết
nó trước cửa hội mạc; các con trai
A-rôn sẽ rảy huyết chung quanh trên bàn
thờ.
9. Do của lễ thù ân nầy, người phải dâng
làm của lễ dùng lửa dâng cho
Ðức Giê-hô-va, mỡ và
cái đuôi nguyên, chặt gần cuối xương
sống, mỡ chài và mỡ bộ lòng;
10. hai trái cật, mỡ trên hai trái cật
nơi cạnh hông, và tấm da mỏng bọc gan, gỡ gần nơi
hai trái cật.
11. Thầy tế lễ sẽ xông các món
đó trên bàn thờ; ấy là thực
vật về của lễ dùng lửa dâng cho Ðức
Giê-hô-va.
12. Nếu của lễ người bằng con dê cái,
thì phải dâng lên trước mặt Ðức
Giê-hô-va,
13. nhận tay mình trên đầu con sinh, rồi giết
nó trước hội mạc; các con trai A-rôn sẽ
rảy huyết chung quanh trên bàn thờ.
14. Do của lễ thù ân nầy, người phải
dâng làm của lễ dùng lửa dâng
cho Ðức Giê-hô-va, mỡ chài
và mỡ bộ lòng,
15. hai trái cật, mỡ trên hai trái cật
nơi cạnh hông và tấm da mỏng bọc gan, gỡ gần nơi
hai trái cật.
16. Thầy tế lễ sẽ xông các món
đó trên bàn thờ; ấy là thực
vật về của lễ dùng lửa dâng lên
có mùi thơm. Hết thảy mỡ đều thuộc về Ðức
Giê-hô-va.
17. Ấy đó là luật lệ đời đời cho dòng
dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi nào:
ngươi chẳng nên ăn mỡ hay là huyết.
Lê-vi Ký 4
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào ai lầm lỡ mà
phạm một trong các điều răn của Ðức
Giê-hô-va, và làm điều chẳng
nên làm;
3. nếu là thầy tế lễ chịu xức dầu rồi mà phạm
tội, và vì cớ đó gây cho
dân sự phải mắc tội, thì vì tội
mình đã phạm, người phải dâng cho
Ðức Giê-hô-va một con bò tơ
không tì vít chi, đặng làm
của lễ chuộc tội.
4. Người sẽ dẫn bò tơ đó đến cửa hội mạc trước
mặt Ðức Giê-hô-va, nhận tay mình
trên đầu nó, rồi giết nó trước mặt
Ðức Giê-hô-va.
5. Thầy tế lễ chịu xức dầu rồi sẽ lấy huyết bò tơ đem
vào trong hội mạc,
6. nhúng ngón tay mình trong huyết,
rảy bảy lần trước mặt Ðức Giê-hô-va, đối
ngang bức màn nơi đền thánh.
7. Ðoạn, thầy tế lễ sẽ bôi huyết trên
các sừng của bàn thờ xông hương ở trong
hội mạc, trước mặt Ðức Giê-hô-va,
và đổ hết thảy huyết bò tơ nơi chân
bàn thờ về của lễ thiêu, để trước cửa hội mạc.
8. Người phải gỡ những mỡ của con bò dùng
làm của lễ chuộc tội, tức là mỡ chài
và mỡ bộ lòng,
9. hai trái cật, mỡ trên hai trái cật
nơi cạnh hông, tấm da mỏng bọc gan, gỡ gần nơi hai
trái cật,
10. như gỡ các phần nầy của bò tơ dùng
làm của lễ thù ân; rồi thầy tế lễ sẽ
xông các món đó
trên bàn thờ về của lễ thiêu.
11. Còn da, hết thảy thịt, đầu, giò, bộ
lòng và phẩn,
12. tức con bò tơ nguyên, người phải đem ra khỏi
trại quân đến một nơi tinh sạch, là chỗ họ đổ tro,
rồi chất trên củi nơi lửa và thiêu
nó đi: tức là thiêu nó tại
chỗ đổ tro vậy.
13. Nếu cả hội chúng Y-sơ-ra-ên vì lầm
lỡ phạm một trong các điều răn của Ðức
Giê-hô-va, và làm điều
không nên làm, mà vốn
không tự biết, và vì cớ đó
phải mắc tội;
14. nếu tội phạm ấy vừa mới lộ ra, thì hội chúng
phải dâng một con bò tơ đặng làm của lễ
chuộc tội, dẫn nó đến trước hội mạc.
15. Các hội trưởng phải nhận tay mình
trên đầu bò tơ, rồi giết nó trước mặt
Ðức Giê-hô-va;
16. thầy tế lễ chịu xức dầu rồi sẽ đem huyết con bò tơ
vào hội mạc,
17. nhúng ngón tay mình trong huyết,
rảy bảy lần trước mặt Ðức Giê-hô-va, đối
ngang bức màn.
18. Ðoạn, người sẽ bôi huyết trên
các sừng của bàn thờ trong hội mạc trước mặt
Ðức Giê-hô-va, rồi đổ huyết hết dưới
chân bàn thờ về của lễ thiêu, để trước
cửa hội mạc.
19. Người cũng gỡ hết thảy mỡ đem xông trên
bàn thờ.
20. Cách dâng con bò tơ nầy cũng như
cách dâng con bò dùng
làm lễ chuộc tội: ấy vậy, thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho hội
chúng và tội hội chúng sẽ được tha.
21. Ðoạn, người phải đem con bò tơ đó ra
ngoài trại quân, thiêu đi như
đã thiêu con bò tơ trước: ấy
là của lễ chuộc tội cho hội chúng.
22. Ví bằng một quan trưởng nào, vì
lẫm lỡ phạm một trong các điều răn của Ðức
Giê-hô-va, là Ðức
Chúa Trời mình, mà làm điều
không nên làm, và
vì cớ đó mắc tội;
23. khi nào người ta tỏ ra cho quan trưởng đó
biết tội mình đã phạm, thì người phải
dẫn đến làm của lễ mình, một con dê đực
không tì vít chi,
24. nhận tay mình trên đầu dê đực
đó, rồi giết nó trước mặt Ðức
Giê-hô-va tại nơi giết các con sinh
dùng làm của lễ thiêu: ấy là
của lễ chuộc tội.
25. Thầy tế lễ sẽ nhúng ngón tay mình
trong huyết của con sinh tế chuộc tội, bôi trên
các sừng bàn thờ về của lễ thiêu,
và đổ huyết dưới chân bàn thờ;
26. đoạn xông hết mỡ trên bàn thờ như
cách xông mỡ về của lễ thù
ân. Ấy vậy, thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho người, và
tội người sẽ được tha.
27. Nếu một người nào trong dân chúng,
vì lẫm lỡ phạm một trong các điều răn của
Ðức Giê-hô-va mà làm
điều không nên làm, và
vì cớ đó phải mắc tội;
28. khi nào người ta tỏ cho người đó biết tội
mình đã phạm, thì người phải
vì cớ tội mình dẫn đến một con dê
cái không tì vít chi,
dùng làm của lễ,
29. nhận tay mình trên đầu con sinh tế chuộc tội,
rồi giết nó trong nơi giết con sinh dùng
làm của lễ thiêu.
30. Thầy tế lễ sẽ nhúng ngón tay mình
trong huyết, bôi trên các sừng
bàn thờ về của lễ thiêu, và đổ hết
huyết dưới chân bàn thờ;
31. rồi, gỡ hết mỡ như cách gỡ mỡ về của lễ thù
ân, đem xông trên bàn thờ,
làm của lễ có mùi thơm dâng
cho Ðức Giê-hô-va. Ấy vậy, thầy tế lễ sẽ
chuộc tội cho người đó, thì tội người sẽ được tha.
32. Nếu của lễ chuộc tội người bằng chiên con, thì
phải dâng một con cái chẳng tì
vít chi,
33. nhận tay mình trên đầu con sinh tế chuộc tội,
rồi giết nó tại nơi giết con sinh dùng
làm của lễ thiêu.
34. Ðoạn, thầy tế lễ sẽ nhúng ngón tay
mình trong huyết, bôi trên
các sừng bàn thờ về của lễ thiêu,
và đổ hết huyết dưới chân bàn thờ;
35. gỡ hết mỡ như cách gỡ mỡ của chiên con
dùng làm của lễ thù ân, đem
xông trên bàn thờ như các của
lễ dùng lửa dâng cho Ðức
Giê-hô-va. Ấy vậy, thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho
người đó, thì tội người sẽ được tha.
Lê-vi Ký 5
Home
1. Khi người nào làm chứng bị bắt thề rồi,
và phạm tội vì không tỏ ra điều
mình đã thấy hay là đã
biết, thì người đó sẽ mang tội mình.
2. Khi ai sẽ đụng đến một vật ô uế, hoặc thây của
con thú nhà không tinh sạch, hoặc
thây của con thú rừng không tinh sạch,
hoặc thây của loài côn trùng
nào không tinh sạch, mà không
tự biết, thì sẽ bị ô uế và mắc tội.
3. Khi ai, hoặc tự biết hay không biết, sẽ đụng đến sự
ô uế nào của loài người,
không cứ bị ô uế cách nào,
thì cũng sẽ mắc tội.
4. Khi ai nói sơ ý thề thốt làm
ác hay là làm thiện, mặc dầu
cách nào, trước không ngờ đến, rồi sau
lại tự biết, thì ai đó sẽ mắc tội trong điều nầy
hay là điều kia.
5. Vậy, khi nào ai mắc tội về một trong các điều
nầy, thì phải xưng mình phạm tội chi,
6. rồi vì tội mình đã phạm, dẫn đến
Ðức Giê-hô-va một con cái trong
bầy súc vật nhỏ, hoặc chiên cái hay
là dê cái, đặng làm của lễ
chuộc tội; thì thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho
người.
7. Nếu không phương thế lo cho có một
chiên cái hay là một dê
cái được, thì phải vì tội
mình đã phạm, đem đến cho Ðức
Giê-hô-va một cặp cu hay là cặp bồ
câu con: một con dùng làm của lễ chuộc
tội, một con dùng làm của lễ thiêu.
8. Người sẽ đem cặp đó đến cho thầy tế lễ; thầy tế lễ sẽ
dâng trước con dùng làm của lễ chuộc
tội, vặn rứt đầu gần nơi gáy cổ không
gãy lìa ra;
9. đoạn rảy huyết của con sinh tế chuộc tội trên một
phía của bàn thờ; huyết còn dư lại
thì vắt dưới chân bàn thờ; ấy
là một của lễ chuộc tội.
10. Còn chim kia, người phải tùy theo lệ
đã định, dùng làm một của lễ
thiêu. Ấy vậy, thầy tế lễ sẽ vì người
đó làm lễ chuộc tội người đã phạm,
thì tội người sẽ được tha.
11. Nếu không phương thế lo cho có một cặp cu hay
là cặp bồ câu con được, thì người
vì tội mình đã phạm, phải đem một phần
mười ê-pha bột lọc làm của lễ chuộc tội,
không nên đổ dầu trên và cũng
không nên thêm nhũ hương, vì
là một của lễ chuộc tội.
12. Người sẽ đem bột đó đến thầy tế lễ; thầy tế lễ sẽ bốc
một nắm làm kỷ niệm. và xông
trên bàn thờ như cách xông
của lễ dùng lửa dâng cho Ðức
Giê-hô-va: ấy là một của lễ chuộc tội.
13. Ấy vậy, thầy tế lễ sẽ vì người đó
làm lễ chuộc tội người đã phạm về một trong mấy
điều nầy, thì tội người sẽ được tha; bột còn dư
lại sẽ thuộc về thầy tế lễ như trong cuộc của lễ chay vậy.
14. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
15. Khi nào ai ở bất trung, lầm lỡ phạm đến vật
thánh của Ðức Giê-hô-va,
thì ai đó vì sự mắc lỗi
mình, phải dẫn đến Ðức Giê-hô-va
một con chiên đực không tì
vít chi bắt ở trong bầy, đánh giá bằng
siếc-lơ bạc, tùy theo siếc-lơ của đền thánh: ấy
sẽ là một của lễ chuộc sự mắc lỗi.
16. Người đó phải bồi thường và phụ
thêm một phần năm giá trị của vật mình
đã phạm đến nơi đền thánh, rồi giao vật
đó cho thầy tế lễ. Thầy tế lễ sẽ dùng
chiên con đực về của lễ chuộc sự mắc lỗi mà
làm lễ chuộc tội cho người ấy, và tội người sẽ
được tha.
17. Khi nào ai phạm một trong các điều răn của
Ðức Giê-hô-va mà không
tự biết, và làm điều không
nên làm, thì ai dó sẽ mắc
lỗi và mang lấy tội mình.
18. Người vì sự lỗi mình phải dẫn đến thầy tế lễ
một con chiên đực, không tì
vít chi bắt trong bầy, tùy theo ý
ngươi đánh giá; rồi thầy tế lễ sẽ làm
lễ chuộc lỗi cho người đã lầm lỡ phạm tội và
không tự biết, thì lỗi người sẽ được tha.
19. Ấy là của lễ chuộc sự mắc lỗi: người hẳn phải mắc lỗi
cùng Ðức Giê-hô-va vậy.
Lê-vi Ký 6
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
2. Khi nào ai mắc tội phạm đến Ðức
Giê-hô-va, hoặc nói dối cùng
người lân cận mình về đồ vật gởi hay là
tin mà giao cho, hoặc về một tài vật trộm cắp,
hoặc giựt lấy của người lân cận mình;
3. hoặc nếu xí được một của mất mà nói
dối về của đó, hoặc thề dối về một trong các việc
người ta phạm tội được;
4. khi nào đã phạm và mắc lỗi như vậy,
thì phải trả lại vật mình đã ăn cắp,
hoặc vật đã giựt lấy, hoặc vật đã tin gởi cho,
hoặc vật làm mất xí được,
5. hoặc về các món người đã thề dối:
người phải thường nguyên lại và phụ thêm
một phần năm giá trị mà giao cho chủ vật
đó ngày nào mình
dâng của lễ chuộc sự mắc lỗi.
6. Tùy theo sự đánh giá của ngươi,
người ấy phải bắt trong bầy một chiên đực không
tì vít chi, dẫn đến thầy tế lễ mà
dâng cho Ðức Giê-hô-va đặng
làm của lễ chuộc sự mắc lỗi mình;
7. thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người trước mặt
Ðức Giê-hô-va, thì lỗi người sẽ
được tha, bất luận lỗi nào người đã mắc.
8. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
9. Hãy truyền lịnh nầy cho A-rôn cùng
các con trai người: Nầy là luật về của lễ
thiêu: Của lễ thiêu phải ở trên đống lửa
tại bàn thờ trọn đêm cho đến sáng mai,
và lửa của bàn thờ giữ cho cháy
luôn.
10. Thầy tế lễ sẽ mặc áo lá trong và
quần bằng vải gai che thân mình, rồi hốt tro của
lửa đã đốt của lễ thiêu trên
bàn thờ, và đổ gần bên bàn
thờ;
11. đoạn cổi áo nầy, mặc áo khác, đem
tro nầy ra ngoài trại quân, đổ trong một nơi tinh
sạch.
12. Lửa trên bàn thờ phải cháy
luôn luôn, không nên tắt. Mỗi
buổi sáng thầy tế lễ sẽ lấy củi chụm lửa thêm, sắp
của lễ thiêu lên trên, và
xông những mỡ về của lễ thù ân tại
đó.
13. Lửa hằng cháy luôn luôn
trên bàn thờ, chẳng nên tắt.
14. Ðây là luật về của lễ chay:
Các con trai A-rôn phải dâng của lễ nầy
tại phía trước bàn thờ, trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
15. Họ sẽ lấy một nắm bột lọc trong của lễ chay và dầu,
cùng hết thảy nhũ hương ở trên, đem xông
trên bàn thờ làm kỷ niệm về một của lễ
có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va.
16. Phần còn dư lại, A-rôn và
các con trai người sẽ ăn không pha men, tại một
nơi thánh, tức là ăn tại hành lang của
hội mạc.
17. Họ không nên nấu bột đó với men; ấy
là phần ta cho họ do trong các của lễ ta,
dùng lửa dâng lên; thật là
một vật chí thánh như của lễ chuộc tội
và của lễ chuộc sự mắc lỗi.
18. Phàm người nam trong vòng con cái
A-rôn, sẽ ăn lấy; ấy là một luật lệ đời đời cho
dòng dõi các ngươi về những của lễ
dùng lửa dâng cho Ðức
Giê-hô-va: ai đụng đến những của lễ đó
sẽ nên thánh.
19. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
20. Nầy là của lễ A-rôn và
các con trai người phải dâng cho Ðức
Giê-hô-va trong ngày họ chịu
phép xức dầu: Một phần mười ê-pha bột lọc
làm của lễ chay thường thường; sáng một
phân nửa, chiều một phân nửa.
21. Của lễ đó sẽ chiên sẵn trên chảo
trộn với dầu; chín rồi, ngươi phải đem đến cắt ra từ miếng
sẵn dâng lên có mùi thơm cho
Ðức Giê-hô-va.
22. Con trai nào của A-rôn chịu xức dầu đặng thế
cho người làm thầy tế lễ cũng phải dâng của lễ
nầy. Ấy là một luật lệ đời đời trước mặt Ðức
Giê-hô-va: họ phải xông hết trọn của lễ
nầy.
23. Phàm của lễ chay của thầy tế lễ nào
thì phải đốt hết, không nên ăn.
24. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
25. Hãy truyền cho A-rôn và
các con trai người rằng: Ðây là
luật về của lễ chuộc tội: Phải giết con sinh tế chuộc tội trước mặt
Ðức Giê-hô-va tại nơi người ta giết con
sinh về của lễ thiêu; ấy là một vật chí
thánh.
26. Thầy tế lễ đứng dâng con sinh tế chuộc tội, phải ăn thịt
nó trong một nơi thánh, tức là trong
hành lang của hội mạc.
27. Hễ ai đụng đến thịt con sinh sẽ nên thánh,
và nếu huyết nó văng trên áo
nào, thì phải giặt áo đó
trong một nơi thánh.
28. Nồi đất dùng nấu thịt đó sẽ đập bể đi, nếu
nồi nấu bằng đồng thì sẽ cạo và rửa nước cho sạch.
29. Hễ người nam trong vòng những thầy tế lễ sẽ ăn thịt
đó: ấy là một vật chí thánh.
30. Nhưng chẳng nên ăn thịt con sinh tế chuộc tội
có huyết nó đem vào hội mạc đặng
làm lễ chuộc tội nơi đền thánh: hãy
đốt nó đi.
Lê-vi Ký 7
Home
1. Ðây là luật lệ về của lễ chuộc sự mắc
lỗi, ấy là một vật chí thánh:
2. Trong nơi người ta giết con sinh dùng làm của
lễ thiêu, thì hãy giết con sinh tế
chuộc sự mắc lỗi, rồi rưới huyết ở chung quanh trên
bàn thờ.
3. Ðoạn dâng hết thảy mỡ, đuôi
và mỡ chài,
4. hai trái cật và mỡ hai trái cật nơi
cạnh hông và tấm da mỏng bọc gan, gỡ gần nơi hai
trái cật.
5. Thầy tế lễ sẽ xông hết trên bàn thờ
làm của lễ dùng lửa dâng cho
Ðức Giê-hô-va: ấy là một của lễ
chuộc sự mắc lối.
6. Mọi người nam trong vòng những thầy tế lễ sẽ ăn thịt
đó tại trong một nơi thánh; ấy là một
vật chí thánh.
7. Của lễ chuộc sự mắc lỗi cũng như của lễ chuộc tội, đồng một luật lệ
nhau; con sinh sẽ thuộc về thầy tế lễ nào đã
dùng nó làm lễ chuộc tội.
8. Còn thầy tế lễ dâng của lễ thiêu cho
ai, sẽ được miếng da của con sinh dùng làm của lễ
thiêu đó.
9. Phàm của lễ chay nào, hoặc nấu trong
lò, hoặc chiên trên chảo hay
là nướng trên vĩ, thì thuộc về thầy tế
lễ đã đứng dâng.
10. Phàm của lễ chay, hoặc chế dầu, hoặc khô, phải
cứ một mực phân cho các con trai A-rôn.
11. Ðây là luật lệ về của lễ
thù ân mà người ta phải dâng
cho Ðức Giê-hô-va.
12. Nếu ai dâng của lễ đó đặng cảm tạ,
thì phải dâng chung với của lễ thù
ân những bánh nhỏ không pha men, chế
dầu, bánh tráng không pha men thoa dầu,
bột lọc trộn làm bánh nhỏ chế dầu;
13. lại phải thêm bánh có pha men
mà dâng với của lễ thù ân cảm
tạ.
14. Họ sẽ lấy một phần trong mỗi lễ vật làm của lễ chay giơ
lên dâng cho Ðức
Giê-hô-va; của lễ đó sẽ thuộc về thầy tế
lễ đã rưới huyết của con sinh tế thù ân.
15. Thịt của con sinh tế cảm tạ thù ân
thì phải ăn hết nội ngày đã
dâng lên, không nên để
sót chi lại đến sáng mai.
16. Nếu của lễ dâng về việc thường nguyện hay là
lạc ý, thì phải ăn con sinh đó nội
trong ngày đã dâng lên;
còn dư lại thì ăn ngày mai.
17. Nhưng phần còn dư lại đến ngày thứ ba
thì phải thiêu đi.
18. Nếu ai ăn thịt của lễ thù ân trong
ngày thứ ba, thì người nào
dâng của lễ đó sẽ chẳng được nhậm và
chẳng kể chi của lễ đó cho người nữa; ấy là một
điều gớm ghê, ai ăn thịt đó sẽ mang lấy tội
mình.
19. Cũng chẳng nên ăn thịt đã đụng đến vật chi
ô uế; phải thiêu đi. Còn thịt
nào ăn được, ai tinh sạch mới nên ăn.
20. Ai đã bị ô uế, lại ăn thịt của lễ
thù ân vẫn thuộc về Ðức
Giê-hô-va, thì sẽ bị truất khỏi
dân sự mình.
21. Nếu ai đụng đến sự ô uế, hoặc của loài người,
hoặc của loài vật hay là điều gì
ghê gớm, mà lại ăn thịt của lễ thù
ân vẫn thuộc về Ðức Giê-hô-va,
thì sẽ bị truất khỏi dân sự mình.
22. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
23. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng:
Chẳng nên ăn một thứ mỡ nào của bò,
chiên hay là dê.
24. Mỡ của con thú nào chết hay là bị
xé sẽ được dùng về mọi việc, nhưng các
ngươi không nên ăn;
25. vì ai ăn mỡ của những thú người ta
dùng lửa dâng cho Ðức
Giê-hô-va, sẽ bị truất khỏi dân sự
mình.
26. Trong nơi nào các ngươi ở chẳng nên
ăn huyết, hoặc của loài chim hay là của
loài súc vật.
27. Phàm ai ăn một thứ huyết nào sẽ bị truất khỏi
dân sự mình.
28. Ðức Giê-hô-va còn
phán cùng Môi-se rằng:
29. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng:
Người nào dâng của lễ thù ân
cho Ðức Giê-hô-va, phải đem đến cho
Ngài lễ vật do trong của lễ thù ân
mình.
30. Chánh tay người sẽ đem phần phải dùng lửa
dâng cho Ðức Giê-hô-va; tức
là mỡ và cái o, cái o để
đặng dùng làm của lễ đưa qua đưa lại trước mặt
Ðức Giê-hô-va;
31. rồi thầy tế lễ sẽ xông mỡ trên bàn
thờ, còn cái o thì thuộc về phần
A-rôn và các con trai người.
32. Các ngươi cũng sẽ cho thầy tế lễ cái
giò hữu về của lễ thù ân đặng
làm của lễ giơ lên.
33. Còn ai trong vòng các con trai
A-rôn dâng huyết và mỡ của con sinh tế
thù ân, thì sẽ được phần cái
giò hữu.
34. Vì trong những của lễ thù ân của
dân Y-sơ-ra-ên ta lấy cái o
mà họ đưa qua đưa lại trước mặt ta, và
cái giò mà họ dâng giơ
lên, đặng ban cho thầy tế lễ A-rôn và
các con trai người, chiếu theo luật lệ đời đời mà
dân Y-sơ-ra-ên phải giữ theo.
35. Ấy là phần trong những của lễ dùng lửa
dâng cho Ðức Giê-hô-va
mà phép xức dầu sẽ truyền cho A-rôn
và các con trai người trong ngày
nào lập họ làm chức tế lễ trước mặt Ðức
Giê-hô-va;
36. ấy là điều Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn dân Y-sơ-ra-ên
phải ban cho họ từ ngày họ chịu phép xức dầu. Ấy
là một luật lệ đời đời trải qua các thế đại.
37. Ðó là luật về của lễ thiêu,
về của lễ chay, về của lễ chuộc tội, về của lễ chuộc sự mắc lỗi, về của
lễ phong chức và về của lễ thù ân,
38. mà Ðức Giê-hô-va
đã truyền cho Môi-se tại trên
núi Si-na-i khi Ngài dặn biểu dân
Y-sơ-ra-ên dâng của lễ mình cho
Ðức Giê-hô-va trong đồng vắng Si-na-i.
Lê-vi Ký 8
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy đem A-rôn cùng các
con trai người, áo xống, dầu xức, con bò tơ
làm của lễ chuộc tội, hai con chiên đực,
và giỏ bánh không men;
3. rồi nhóm hiệp cả hội chúng tại cửa hội mạc.
4. Môi-se bèn làm y như lời Ðức
Giê-hô-va phán dặn, hội chúng
nhóm hiệp tại nơi cửa hội mạc.
5. Môi-se nói cùng hội chúng
rằng: Ðây là các điều
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn làm theo.
6. Ðoạn, Môi-se biểu A-rôn và
các con trai người lại gần, rồi lấy nước rửa họ.
7. Người mặc áo lá trong cho A-rôn, cột
đai lưng, mặc áo dài, mặc
ê-phót và cột đai
ê-phót.
8. Người cũng đeo bảng đeo ngực và gắn vào bảng
u-rim và thu-mim,
9. đội cái mão lên đầu, phía
trước mão buộc thẻ vàng, tức là
tràng thánh, y như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
10. Kế đó, Môi-se lấy dầu xức, xức cho đền tạm
và các vật ở tại đó biệt
riêng ra thánh,
11. rảy dầu bảy lần trên bàn thờ và xức
dầu cho bàn thờ cùng các đồ phụ
tùng của bàn thờ, cái thùng
và chân thùng, đặng biệt
riêng ra thánh.
12. Người cũng đổ dầu xức trên đầu A-rôn, xức cho
người đặng biệt riêng ra thánh.
13. Ðoạn, Môi-se biểu các con trai
A-rôn lại gần, mặc áo lá trong cho, cột
đai, đội mão lên đầu, y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
14. Người biểu đem con bò tơ dùng làm
của lễ chuộc tội lại gần, A-rôn và các
con trai người nhận tay mình trên đầu
nó.
15. Môi-se giết nó, lấy huyết, rồi dùng
ngón tay bôi huyết trên chung quanh sừng
của bàn thờ, làm cho bàn thờ
nên thanh sạch; đoạn đổ huyết dưới chân
bàn thờ; như vậy, người biệt bàn thờ
riêng ra thánh, để làm lễ chuộc tội tại
đó.
16. Người lấy hết thảy mỡ chài, tấm da mỏng bọc gan, hai
trái cật với mỡ của hai trái cật, rồi đem
xông trên bàn thờ.
17. Còn con bò, da, thịt và phẩn
nó, thì người đem thiêu ở
ngoài trại quân, y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
18. Người cũng biểu đem con chiên đực dùng
làm của lễ thiêu lại gần, A-rôn
và các con trai người nhận tay mình
trên đầu nó;
19. rồi Môi-se giết nó và rưới huyết
chung quanh trên bàn thờ;
20. đoạn sả thịt ra từ miếng, đem xông cái đầu,
mấy miếng đó và mỡ.
21. Người lấy nước rửa bộ lòng và giò,
rồi xông trọn con chiên đực trên
bàn thờ; ấy là một của lễ thiêu
có mùi thơm, tức một của lễ dùng lửa
dâng cho Ðức Giê-hô-va, y như
Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn Môi-se.
22. Người cũng biểu đem con chiên đực thứ nhì lại
gần, tức là con chiên đực về lễ phong chức;
A-rôn và các con trai người nhận tay
mình trên đầu con chiên đực
đó.
23. Môi-se giết nó, lấy huyết bôi
trên trái tai hữu của A-rôn,
trên ngón cái của bàn tay
mặt và trên ngón cái của
bàn chân mặt.
24. Môi-se cũng biểu các con trai A-rôn
đến gần, bôi huyết nơi trái tai hữu họ,
trên ngón cái của bàn tay
mặt và trên ngón cái của
bàn chân mặt; đoạn, Môi-se rưới huyết
chung quanh trên bàn thờ.
25. Kế đó, người lấy mỡ, đuôi, hết thảy mỡ
chài, tấm da mỏng bọc gan, hai trái cật với mỡ
của hai trái cật và cái giò
hữu;
26. lại lấy trong giỏ bánh không men để trước mặt
Ðức Giê-hô-va, một cái
bánh nhỏ không men, một cái
bánh nhỏ có dầu, và một cái
bánh tráng, để mấy bánh đó
trên những mỡ và giò hữu,
27. đoạn để hết thảy trong tay A-rôn và tay
các con trai người; họ đưa qua đưa lại trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
28. Môi-se lấy các món đó
khỏi tay họ, đem xông nơi bàn thờ tại
trên của lễ thiêu; ấy là của lễ về sự
phong chức có mùi thơm, tức là của lễ
dùng lửa dâng cho Ðức
Giê-hô-va.
29. Môi-se cũng lấy cái o của con chiên
đực về lễ phong chức và đưa qua đưa lại trước mặt
Ðức Giê-hô-va; ấy là phần thuộc
về Môi-se, y như Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn người.
30. Kế ấy, Môi-se lấy dầu xức và huyết
trên bàn thờ rảy trên A-rôn
và trên quần áo người, trên
các con trai người và trên quần
áo họ, biệt A-rôn và quần áo
người, các con trai người và quần áo
họ riêng ra thánh.
31. Ðoạn, Môi-se nói cùng
A-rôn và các con trai người rằng:
Các người hãy nấu thịt tại cửa hội mạc,
và ăn tại đó với bánh ở trong giỏ về
lễ phong chức, y như ta đã phán dặn rằng:
A-rôn và các con trai người sẽ ăn thịt
đó.
32. Nhưng các ngươi phải thiêu thịt và
bánh còn dư lại.
33. Trong bảy ngày các ngươi không
nên đi ra khỏi cửa hội mạc cho đến chừng nào những
ngày phong chức mình được trọn rồi, vì
việc phong chức các ngươi sẽ trải qua bảy ngày.
34. Ðức Giê-hô-va đã
phán dặn làm y như hôm nay người ta
đã làm, để làm lễ chuộc tội cho
các ngươi.
35. Vậy, hãy ở trọn ngày cả đêm tại cửa
hội mạc trong bảy bữa, gìn giữ mạng lịnh của Ðức
Giê-hô-va, hầu cho các ngươi khỏi
thác, vì Ngài đã truyền dặn
ta như vậy.
36. A-rôn và các con trai người
làm mọi điều y như Ðức Giê-hô-va
cậy Môi-se truyền dặn vậy.
Lê-vi Ký 9
Home
1. Qua ngày thứ tám, Môi-se gọi
A-rôn và các con trai người
cùng những trưởng lão của Y-sơ-ra-ên,
2. rồi dạy A-rôn rằng: Hãy bắt một con
bò con đực đặng làm của lễ chuộc tội, một con
chiên đực làm của lễ thiêu, đều
không tì vít chi, và
dâng lên trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
3. Ngươi hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi hãy bắt một
con dê đực làm của lễ chuộc tội, một con
bò con và một con chiên con
không tì vít chi, một tuổi, đặng
dùng làm của lễ thiêu,
4. một con bò tơ, một con chiên đực đặng
dùng làm của lễ thù ân, để
dâng lên trước mặt Ðức
Giê-hô-va, và một của lễ chay chế dầu;
vì ngày nay Ðức
Giê-hô-va sẽ hiện ra cùng các
ngươi.
5. Vậy, họ dẫn đến trước hội mạc những vật Môi-se
đã dặn biểu; rồi cả hội chúng đến gần đứng trước
mặt Ðức Giê-hô-va.
6. Môi-se nói rằng: Ðây
là các điều Ðức
Giê-hô-va phán dặn; hãy
làm đi, thì sự vinh quang của Ðức
Giê-hô-va sẽ hiện ra cùng các
ngươi.
7. Ðoạn, Môi-se nói cùng
A-rôn rằng: Ngươi hãy đến gần bàn thờ
dâng của lễ chuộc tội và của lễ thiêu
của ngươi đi, để vì ngươi và vì
dân sự làm lễ chuộc tội; lại cùng
hãy dâng của lễ của dân sự và
làm lễ chuộc tội cho họ, y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn vậy.
8. A-rôn bèn lại gần bàn thờ, giết
bò con đực dùng làm của lễ chuộc tội.
9. Các con trai người đem huyết đến; người nhúng
ngón tay vào, bôi trên
các sừng bàn thờ, rồi đổ huyết dưới
chân bàn thờ.
10. Người lấy đem xông trên bàn thờ mỡ,
hai trái cật và tấm da mỏng bọc gan của con sinh
tế chuộc tội, y như Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se.
11. Còn thịt và da, người đem ra thiêu
ngoài trại quân.
12. Ðoạn, người giết con sinh dùng làm
của lễ thiêu. Các con trai A-rôn đem
huyết đến, người rưới chung quanh trên bàn thờ.
13. Họ cũng đem cho A-rôn thịt của lễ thiêu sả ra
từ miếng và dầu, rồi người xông hết trên
bàn thờ.
14. Ðoạn, người rửa bộ lòng và
các giò, đem xông trên của lễ
thiêu nơi bàn thờ.
15. Người cũng dâng của lễ của dân sự; bắt con
dê đực dùng làm của lễ chuộc tội cho
dân sự, giết nó và dâng
lên đặng chuộc tội, y như của lễ đầu tiên;
16. lại người cũng dâng của lễ thiêu theo luật lệ
đã định.
17. Kế đó, người dâng của lễ chay, trút
đầy bụm tay mình đem xông trên
bàn thờ, ngoại trừ của lễ thiêu hồi ban mai.
18. Người cũng vì dân sự giết con bò tơ
và con chiên đực làm của lễ
thù ân. Các con trai A-rôn
đem huyết đến, và người rưới chung quanh trên
bàn thờ.
19. Họ cũng đem đến cho người mỡ của con bò tơ và
con chiên đực, đuôi, mỡ trên bộ
lòng, hai trái cật, và tấm da mỏng bọc
gan;
20. để những mỡ nầy trên o, rồi xông mỡ nơi
bàn thờ.
21. Ðoạn, A-rôn lấy cái o và
giò hữu đưa qua đưa lại trước mặt Ðức
Giê-hô-va, y như Môi-se đã dặn
biểu.
22. A-rôn giơ tay mình trên
dân sự chúc phước cho; sau khi dâng của
lễ chuộc tội, của lễ thiêu, và của lễ
thù ân, thì người bước xuống khỏi
bàn thờ.
23. Môi-se và A-rôn bèn
vào hội mạc, kế lại ra chúc phước cho
dân sự; sự vinh quang của Ðức
Giê-hô-va hiện ra cùng cả dân
sự:
24. một ngọn lửa từ trước mặt Ðức Giê-hô-va
lóe ra thiêu hóa của lễ thiêu
và mỡ trên bàn thờ. Cả dân sự
thấy, đều cất tiếng reo mừng và sấp mặt xuống đất.
Lê-vi Ký 10
Home
1. Hai con trai A-rôn, Na-đáp và
A-bi-hu, mỗi người đều cầm lư hương mình, để lửa
vào, bỏ hương lên và dâng một
thứ lửa lạ trước mặt Ðức Giê-hô-va; ấy
là điều Ngài không phán dặn
họ.
2. Một ngọn lửa từ trước mặt Ðức Giê-hô-va
lòe ra, nuốt tiêu họ và họ chết trước
mặt Ðức Giê-hô-va.
3. Môi-se bèn nói cùng
A-rôn rằng: Ấy là điều Ðức
Giê-hô-va đã tỏ ra khi Ngài
phán rằng: Ta sẽ nhờ những kẻ lại gần ta mà được
tôn thánh và được vinh hiển trước mặt
cả dân sự. A-rôn nín lặng.
4. Môi-se gọi Mi-sa-ên và
Ên-sa-phan, hai con trai của U-xi-ên,
chú của A-rôn, mà dạy rằng:
Hãy lại gần khiêng thây hai anh em
các ngươi khỏi trước nơi thánh, đem ra
ngoài trại quân.
5. Vậy, họ đến gần khiêng thây còn mặc
áo lá trong ra ngoài trại
quân, y như lời Môi-se đã biểu.
6. Ðoạn, Môi-se nói cùng
A-rôn, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma,
hai con trai người, mà rằng: Các ngươi chớ để đầu
trần và chớ xé áo mình, e
khi phải chết và Ðức Giê-hô-va
nổi giận cùng cả hội chúng chăng; nhưng anh em
các ngươi, là cả nhà
Y-sơ-ra-ên, phải nên khóc vì
cớ lửa thiêu hóa mà Ðức
Giê-hô-va nổi phừng lên.
7. Ðừng ra khỏi cửa hội mạc, e các ngươi phải chết
chăng; vì dầu xức của Ðức
Giê-hô-va ở trên các ngươi. Họ
bèn làm theo lời Môi-se.
8. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng A-rôn rằng:
9. Khi nào vào hội mạc, ngươi và
các con trai ngươi chớ nên uống rượu hay
là uống vật chi có tánh say, e phải
chết chăng: ấy là một mạng lịnh đời đời, trải các
thế đại,
10. hầu cho các ngươi được phân biệt đều
thánh và điều chẳng thánh, sự khiết
và sự chẳng khiết,
11. và dạy dân Y-sơ-ra-ên các
mạng lịnh mà Ðức Giê-hô-va
đã cậy Môi-se truyền dặn cho.
12. Môi-se nói cùng A-rôn,
Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, là hai
con trai A-rôn còn lại, mà rằng:
Hãy lấy của lễ chay còn dư lại về của lễ
dùng lửa dâng cho Ðức
Giê-hô-va, và hãy ăn đi
không pha men, gần bàn thờ, vì
là một vật chí thánh.
13. Phải ăn của lễ nầy tại nơi thánh, vì
là phần của ngươi và của các con trai
ngươi trong những của lễ dùng lửa dâng cho
Ðức Giê-hô-va; bởi vì
đã phán dặn ta làm như vậy.
14. Còn cái o dâng đưa qua đưa lại,
và cái giò dâng giơ
lên, ngươi, các con trai và
các con gái ngươi hãy ăn tại một nơi
tinh sạch, vì các điều đó
đã ban cho làm phần riêng của ngươi
và của các con trai ngươi, do những của lễ
thù ân của dân Y-sơ-ra-ên.
15. Họ sẽ đem đến cái giò dâng giơ
lên và cái o dâng đưa qua đưa
lại với những mỡ định thiêu hóa, để dâng
đưa qua đưa lại trước mặt Ðức Giê-hô-va.
Những điều đó sẽ thuộc về ngươi và các
con trai ngươi chiếu theo luật lệ đời đời, y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn vậy.
16. Vả, Môi-se tìm con dê đực
dùng làm của lễ chuộc tội, thấy nó
đã bị thiêu, bèn nổi giận
cùng Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma,
hai con trai A-rôn còn lại và
nói rằng:
17. Sao các ngươi không ăn thịt con sinh tế chuộc
tội trong nơi thánh? Vì là một vật
chí thánh mà Ðức
Giê-hô-va đã ban cho các
ngươi, hầu gánh lấy tội của hội chúng,
và làm lễ chuộc tội cho họ trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
18. Nầy, huyết nó không có đem
vào trong nơi thánh; quả đáng
các ngươi ăn sinh lễ trong nơi thánh, y như lời
ta đã dặn biểu.
19. Nhưng A-rôn đáp rằng: Kìa,
ngày nay họ đã dâng của lễ chuộc tội
và của lễ thiêu của mình trước mặt
Ðức Giê-hô-va; và sau khi việc
rủi nầy xảy ra, nếu lại ngày nay tôi ăn của lễ
chuộc tội, há có đẹp lòng Ðức
Giê-hô-va chăng?
20. Môi-se phải nghe lời đáp ấy, bèn
nhận cho phải.
Lê-vi Ký 11
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se và A-rôn rằng:
2. Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên
rằng: Trong các loài vật trên mặt đất,
nầy là những con các ngươi được phép
ăn:
3. Hễ loài vật nào có móng
rẽ ra, chân chia hai và nhơi, thì
các ngươi được phép ăn.
4. Nhưng chẳng nên ăn con nào chỉ nhơi
không, hay là chỉ có móng rẽ
không: con lạc đà, nó nhơi, nhưng
không có móng rẽ; nên
hãy cầm nó là loài vật
không sạch;
5. con chuột đồng, nó nhơi, nhưng không
có móng rẽ, nên hãy cầm
nó là loài vật không sạch;
6. con thỏ rừng, nó nhơi nhưng không
móng rẽ; nên hãy cầm nó
là loài vật không sạch;
7. con heo, nó có móng rẽ,
chân chia hai, nhưng không nhơi; nên
hãy cầm nó là loài vật
không sạch.
8. Các ngươi không nên ăn thịt
và cũng không nên đụng đến
thây các thú đó; phải cầm
là vật không sạch.
9. Những loài vật ở dưới nước mà các
ngươi được phép ăn, là loài vật
nào, hoặc ở dưới biển, hoặc ở dưới sông,
có vây và có vảy.
10. Phàm vật nào hoặc dưới biển, hoặc dưới
sông, tức các loài sanh sản trong nước,
mà không có vây và
chẳng có vảy, thì các người
không nên ăn, phải lấy làm gớm ghiếc cho
các ngươi.
11. Những loài nầy, khá lấy làm gớm
ghiếc cho mình, chớ nên ăn thịt nó,
và hãy cầm thây nó
là điều gớm ghiếc.
12. Các loài vật nào ở trong nước
không có vây và chẳng
có vảy, thì phải lấy làm gớm ghiếc cho
các ngươi.
13. Trong các loài chim, những giống
các ngươi phải cầm bằng gớm ghiếc, không
nên ăn, là chim ưng, chim ngạc, ó biển;
14. chim lão ưng và con diều, tùy theo
loại chúng nó;
15. các thứ quạ,
16. chim đà điểu, chim ụt, chim thủy kê, chim
bò cắc và các loại giống
chúng nó;
17. chim mèo, chim thằng cộc, con cò quắm,
18. con hạc, chim thằng bè, con cồng cộc,
19. con cò, con diệc và các loại giống
chúng nó; chim rẽ quạt và con dơi.
20. Hễ côn trùng nào hay bay, đi bốn
cẳng, thì các ngươi hãy lấy
làm gớm ghiếc.
21. Nhưng trong loại côn trùng nào hay
bay và đi bốn cẳng, các ngươi được ăn con
nào có cẳng đặng nhảy trên đất;
22. là con cào cào tùy theo
loại nó, con ve tùy theo loại nó,
châu chấu tùy theo loại nó, con dế
tùy theo loại nó.
23. Các loài côn trùng
khác hay bay và có bốn cẳng,
thì các ngươi phải lấy làm gớm ghiếc.
24. Các ngươi sẽ vì loại đó
mà bị ô uế; ai đụng đến xác chết
loài đó sẽ bị ô uế cho đến chiều tối.
25. Ai mang xác chết loài đó phải giặt
áo xống mình, và bị ô uế cho
đến chiều tối.
26. Các thú nào có
móng rẽ ra, nhưng không có
chân chia hai và không nhơi, tất phải
lấy làm ô uế cho các ngươi; ai đụng đến
sẽ bị ô uế.
27. Trong giống đi bốn cẳng, hễ con nào đi trên
bàn cẳng, thì kể là không
sạch cho các ngươi; ai đụng đến xác chết
nó sẽ bị ô uế đến chiều tối;
28. còn ai mang xác chết nó sẽ giặt
áo xống mình, và bị ô uế đến
chiều tối; các loài đó là
không sạch cho các ngươi.
29. Trong loài đi bò trên mặt đất, nầy
là những loài lấy làm không
sạch cho các ngươi: con chuột nhủi, con chuột lắt, con rắn
mối, tùy theo loại chúng nó;
30. con cắc kè, kỳ đà, con thạch sùng,
con kỳ nhông và con cắc ké.
31. Trong các loài côn
trùng, những loài đó lấy
làm không sạch cho các ngươi: ai đụng
đến xác chết nó sẽ bị ô uế cho đến
chiều tối.
32. Bất luận vật nào, hễ loài nầy chết rớt nhằm
trên, thì đều bị ô uế, hoặc đồ bằng
cây, áo xống, da, bao, tức các vật
người ta thường dùng; phải ngâm đồ đó
trong nước, sẽ bị ô uế cho đến chiều tối, rồi mới tinh sạch
lại.
33. Nếu vật chi của nó rớt nhằm đồ sành,
các vật chi đựng ở trong đều sẽ bị ô uế; phải đập
bể đồ sành đó đi.
34. Phàm đồ ăn nào và các
vật uống, mặc dầu để trong đồ sành nào
mà bị nước đồ sành đó nhểu
vào, sẽ lây ô uế.
35. Phàm vật nào bị một vài miếng
xác chết nó rớt nhằm, sẽ lây
ô uế; dầu lò, dầu bếp, cũng phải phá
tan; nó đã bị ô uế; các
ngươi phải cầm nó là ô uế vậy.
36. Còn một cái suối, hoặc một hồ chứa nhiều
nước, đều cứ được kể tinh sạch; nhưng hễ ai đụng đến xác
chết nó thì sẽ lây ô uế.
37. Nếu vật chi của xác chết nó rớt nhằm
trên hột giống nào người ta gieo, thì
hột giống đó cứ kể tinh sạch.
38. Nhưng nếu người ta có đổ nước trên hột giống
đó và nếu vật gì của xác
chết rớt nhằm, thì hột giống đó sẽ bị ô
uế cho các ngươi.
39. Khi một con thú nào các ngươi được
dùng làm thực vật chết đi, hễ ai đụng đến
xác nó sẽ bị ô uế đến chiều tối.
40. Kẻ nào ăn thịt của xác nó phải
giặt áo xống mình, và bị lây
ô uế cho đến chiều tối; còn ai khiêng
xác nó sẽ giặt áo xống, và
bị ô uế cho đến chiều tối.
41. Phàm loài côn trùng
nào bò trên mặt đất đều là
sự gớm ghiếc, không nên ăn thịt nó.
42. Vậy, không nên ăn thịt các
loài côn trùng đi bò
trên mặt đất, là con nào bò
bằng bụng, con nào đi bốn cẳng hay là đi nhiều
cẳng, vì chúng nó là một sự
gớm ghiếc.
43. Các ngươi chớ vì một con nào trong
loài côn trùng mà
lây cho thân mình phải gớm ghiếc,
không tinh sạch hay là ô uế.
44. Vì ta là Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của các ngươi; ta
là thánh, nên các ngươi phải
nên thánh, thì sẽ được
thánh. Các ngươi chớ vì một con
nào của loài côn trùng
trên mặt đất mà làm lây
ô uế cho thân mình.
45. Vì ta là Ðức
Giê-hô-va, Ðấng đã đem
các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô
đặng làm Ðức Chúa Trời của các
ngươi; các ngươi phải nên thánh,
vì ta là thánh.
46. Ðó là luật lệ về loài
súc vật, loài chim trời, các sinh vật
động dưới nước và các loài
côn trùng trên mặt đất,
47. để phân biệt con không sạch với con tinh sạch,
con thú ăn được cùng con thú
không ăn được.
Lê-vi Ký 12
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào một người đàn
bà thọ thai và sanh một con trai, thì
phải bị ô uế trong bảy ngày, như trong kỳ kinh
nguyệt.
3. Qua ngày thứ tám, người ta phải làm
phép cắt bì cho đứa trẻ.
4. Ðoạn, người đàn bà phải
kiêng trong ba mươi ba ngày đương khi huyết
mình được sạch, không nên đụng một vật
thánh nào hay là đi tới nơi
thánh cho đến kỳ làm thanh sạch được trọn rồi.
5. Còn nếu người sanh con gái, thì sẽ
bị ô uế trong hai tuần, như trong kỳ kinh nguyệt; phải
kiêng trong sáu mươi sáu
ngày hầu cho huyết mình được sạch.
6. Khi kỳ làm mình cho thanh sạch về đứa trai hay
gái đã trọn rồi, người đàn
bà phải dâng cho thầy tế lễ tại cửa hội mạc một
chiên con một tuổi, đặng làm của lễ
thiêu, và một bò câu con hoặc
một cu con đặng làm của lễ chuộc tội.
7. Thầy tế lễ sẽ dâng con sinh đó trước mặt
Ðức Giê-hô-va, làm lễ chuộc tội
cho người; sự lưu huyết người sẽ được sạch. Ðó
là luật lệ về người đàn bà sanh con
trai hay là con gái.
8. Còn nếu người không thế lo cho có
một chiên con, thì phải bắt hai chim cu, hoặc hai
con bò câu con, con nầy dùng
làm của lễ thiêu, con kia dùng
làm của lễ chuộc tội; thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc
tội cho người, và người sẽ được sạch.
Lê-vi Ký 13
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se và A-rôn rằng:
2. Khi một người nào da trên mình nổi
sưng, mụt lở, hoặc một đém trắng, dường sẽ trở
thành trên da mình một vít
phung, thì người ta phải dẫn người đó đến thầy tế
lễ A-rôn, hay là đến một trong các con
trai người là những thầy tế lễ.
3. Thầy tế lễ sẽ khám vít ở trên da
thân người; nếu lông vít đó
đã trở thành trắng, và nếu
vít hủng xuống sâu hơn da thân
mình, ấy là một vít phung: thầy tế lễ
khám rồi sẽ định người nầy là ô uế.
4. Còn nếu có một đém trắng
trên da thân người, đém không
sủng xuống sâu hơn da, và nếu lông
không trở thành trắng, thì thầy tế lễ
phải giam người đó trong bảy ngày.
5. Qua ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám người,
nếu vít đó ngừng lại, không ăn lan
trên da, thì phải giam người một lần thứ
nhì bảy ngày nữa.
6. Qua ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám người
lại; nếu vít đó đã tái,
không ăn lan trên da, thì thầy tế lễ sẽ
định người đó là tinh sạch; ấy là mụt
lở mà thôi. Người đó phải giặt
áo xống mình, thì sẽ được tinh sạch.
7. Nhưng nếu sau khi người đã đến trước mặt thầy tế lễ để
được định là tinh sạch, mụt lở còn
phát lại trên da, thì người phải đến
thầy tế lễ một lần thứ nhì.
8. Thầy tế lễ sẽ khám cho, nếu mụt lở đã ăn lan
trên da thì phải định người là
ô uế; ấy là bịnh phung vậy.
9. Khi có một vít phung trên người
nào, thì phải dẫn người đó đi tỏ
mình cùng thầy tế lễ.
10. Thầy tế lễ khám cho; nếu có nổi sưng sắc
trắng trên da làm cho lông trở
thành trắng, và có một lằn thịt
chín đó nơi chỗ sưng đó,
11. ấy là bịnh phung thâm niên trong da
của thân người, thầy tế lễ sẽ định người là
ô uế, không nên giam họ, vì
đã bị ô uế rồi.
12. Còn nếu phung lở trên da, bao phủ hết da của
người có vít đó, từ đầu chí
chân, khắp nơi nào thầy tế lễ dòm thấy
được,
13. thì thầy tế lễ phải khám cho; nếu phung bao
phủ cùng hết thịt, thì sẽ định người
có vít là tinh sạch; người
đã hóa trắng cùng mình,
nên được tinh sạch vậy.
14. Nhưng ngày nào phát ra thịt
chín đỏ, thì người bị ô uế.
15. Khi thầy tế lễ thấy thịt chín đỏ thì phải
định người là ô uế; thịt chín đỏ
là ô uế; ấy là bịnh phung vậy.
16. Nhưng nếu thịt chín đỏ thay đi, hóa ra trắng,
thì người phải đi tỏ mình cùng thầy tế
lễ;
17. thầy tế lễ khám cho, và nếu vít
đã trở thành trắng, thì phải định
người có vít là tinh sạch,
vì đã được tinh sạch rồi.
18. Khi một người nào trên da thân
mình có mụt chốc đã chữa
lành,
19. và tại chỗ mụt chốc có nổi sưng sắc trắng hay
là một đém trắng hồng, thì người
đó phải đi tỏ mình cùng thầy tế lễ;
20. thầy tế lễ khám cho; nếu cái đém
hủng sâu hơn da, và nếu lông trở
thành trắng, thì thầy tế lễ phải định người
là ô uế; ấy là một vít phung
đã lở trong mụt chốc vậy.
21. Còn nếu thầy tế lễ khám, không thấy
lông trắng trong chỗ đém, không hủng
sâu hơn da, và thấy đã trở
thành tái, thì hãy giam
người đó trong bảy ngày.
22. Nều đém ăn lan trên da thì thầy tế
lễ phải định người là ô uế; ấy là một
vít phung vậy.
23. Còn nếu vít cầm cự một chỗ, không
ăn lan ra, ấy là thẹo của mụt chốc; thầy tế lễ phải định
người là tinh sạch.
24. Khi người nào bị phỏng lửa trên da,
và dấu phỏng là một đém trắng hồng hay
là trắng,
25. thì thầy tế lễ khám cho; nếu trong
đém lông trở thành trắng, và
nếu đém hủng sâu hơn da, ấy là bịnh
phung lở trong mụt phỏng vậy. Thầy tế lễ phải định người nầy
là ô uế; ấy là một vít phung.
26. Còn nếu thầy tế lễ khám, không thấy
lông trắng trong đém, không hủng
sâu hơn da, và thấy đã tái
rồi, thì hãy giam người nầy trong bảy
ngày.
27. Qua ngày thứ bảy thầy tế lễ khám người, nếu
đém ăn lan trên da, thì phải định người
là ô uế; ấy là vít phung.
28. Còn nếu đém cầm cự một chỗ, không
ăn lan trên da và tái đi, ấy
là sưng phỏng. Thầy tế lễ phải định người là tinh
sạch, vì là thẹo phỏng lửa.
29. Khi nào một người nam hay nữ có
vít trên đầu, hoặc nơi râu,
30. thì thầy tế lễ khám vít
đó. Nếu vít hủng sâu hơn da,
có lông nhỏ vàng vàng,
thì thầy tế lễ phải định người ra ô uế; ấy
là tật đòng đanh, tức là bịnh phung
của đầu hay là của râu.
31. Còn nếu khi thầy tế lễ khám vít
đòng đanh, thấy vít không hủng
sâu hơn da, và không thấy có
lông đen, thì phải giam người có
vít đòng đanh trong bảy ngày.
32. Qua ngày thứ bảy thầy tế lễ khám
vít; nếu đòng đanh không ăn lan ra,
không có lông vàng
vàng, và không hủng sâu hơn
da,
33. thì người đó phải cạo gọt, nhưng
không nên cạo gọt chỗ vít
đòng đanh, rồi thầy tế lễ sẽ giam người một lần thứ
nhì bảy ngày nữa.
34. Ðoạn ngày thứ bảy, thầy tế lễ khám
cho; nếu đòng đanh không ăn lan trên da,
không hủng sâu hơn da, thì thầy tế lễ
phải định người là tinh sạch; kẻ bịnh phải giặt
áo xống mình, thì sẽ được tinh sạch.
35. Nhưng nếu sau khi người đã được định là tinh
sạch, đòng đanh lại còn ăn lan trên da,
thì thầy tế lễ phải khám cho.
36. Nếu đòng đanh đã ăn lan trên da
rồi, thầy tế lễ không cần tìm thấy lông
vàng vàng, người đã bị ô uế.
37. Nhưng nếu đòng đanh xem bộ ngừng lại, và
đã lố mọc lông đen, đòng đanh
đã lành: người đã được tinh sạch,
và thầy tế lễ phải định người là tinh sạch.
38. Khi nào người nam hãy nữ trên da
thân mình có những đém trắng,
39. thầy tế lễ sẽ khám cho. Nếu trên da
thân người có những đém trắng xanh, ấy
là một đém trắng lở trên da
mà thôi: người vẫn tinh sạch.
40. Khi một người nào đầu rụng tóc, ấy
là một người sói đầu: người vẫn tinh sạch.
41. Nếu người rụng tóc về phía mặt, ấy
là một người sói trán: người vẫn tinh
sạch.
42. Còn nếu trong chỗ sói phía trước
hay là phía sau có một vít
trắng hồng, ấy là bịnh phung lở ra ở chỗ sói
phía trước hay là phía sau.
43. Thầy tế lễ phải khám cho; nếu nơi sưng của
vít trong chỗ sói phía trước hay
là phía sau có màu trắng
hồng, giống như bịnh phung tại da của thân người,
44. thì người nầy bị phung, thầy tế lễ sẽ định người
là ô uế; vít người ở nơi đầu.
45. Vả, người đã bị vít phung rồi phải
xé quần áo, đầu trần, che râu lại la
rằng: Ô-uế! Ô-uế!
46. Trọn lúc nào người có
vít, thì sẽ bị ô uế, phải ở một
mình ngoài trại quân.
47. Khi nào lên mốc trên quần
áo, như vít phung, bất luận trên quần
áo bằng lông chiên hay quần
áo bằng vải gai,
48. trên canh hay trên chỉ bằng gai, hoặc bằng
lông chiên, trên da hay là
trên món nào bằng da;
49. nếu vít đó màu xanh xanh hay đỏ
đỏ, trên quần áo hoặc trên da,
trên canh hoặc trên chỉ hay là
trên món nào bằng da, thì
phải coi như bịnh phung, đem đến tỏ cho thầy tế lễ.
50. Thầy tế lễ sẽ khám cho, và giam
món có vít ấy trong bảy
ngày.
51. Qua ngày thứ bảy, thầy tế lễ khám
vít lại; nếu vít ăn lan trên quần
áo, trên canh hay chỉ, trên da hay
trên món chi bằng da, thì phải coi như
bịnh phung ăn luồn; món đó bị ô uế.
52. Vậy, người phải đốt quần áo, canh hay chỉ bằng
lông chiên hoặc bằng gai, hoặc các
món chi làm bằng da, ở trên
nó mà đã bị vít,
vì là một bịnh phung ăn ruồng: phải
thiêu đi.
53. Còn nếu thầy tế lễ khám, chẳng thấy
vít đó ăn lan trên quần áo,
trên canh hay trên chỉ, hoặc các
món chi làm bằng da,
54. thì người hãy biểu họ đem giặt món
có vít đó đi, rồi giam nó
một lần thứ nhì trong bảy ngày nữa.
55. Khi giặt rồi, thầy tế lễ sẽ khám lại, nếu vít
đó không phai màu và cũng
chẳng ăn lan ra, thì món đó
là ô uế: ngươi hãy đem thiêu
đi, vì là một thứ vít mốc ăn
vào bề trái hay là bề mặt.
56. Còn nếu sau khi giặt rồi, thầy tế lễ thấy vít
đã tái, thì phải gỡ nó khỏi
quần áo, da, canh hay chỉ đi.
57. Nếu vít mốc còn ló lên
lại trên quần áo, trên canh hay chỉ,
hoặc trên món chi bằng da, thì phải coi
như một vít phung, và thiêu
món có vít đó đi.
58. Nhưng quần áo, canh hay chỉ, hoặc món
nào bằng da mà ngươi đã giặt,
và vít đã lặn rồi, thì
hãy đem giặt một lần thứ nhì nữa, đoạn sẽ được
tinh sạch.
59. Ðó là luật lệ về vít
lên mốc như phung trên quần áo bằng
lông chiên hay bằng vải gai, trên canh
hay chỉ, hoặc trên món chi bằng da, chiếu theo
luật lệ đó là phải định là tinh sạch
hay là ô uế.
Lê-vi Ký 14
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Nầy là luật lệ cho kẻ phung về ngày
nó được sạch. Người ta sẽ dẫn người phung đến thầy tế lễ:
3. thầy tế lễ sẽ ra ngoài trại quân mà
khám bịnh cho. Nếu vít phung của người bịnh
lành rồi,
4. thì về phần người phải được sạch, thầy tế lễ sẽ truyền
đem hai con chim vẫn sống và tinh sạch, cây hương
nam, màu đỏ sặm và nhành kinh giới.
5. Thầy tế lễ biểu cắt cổ một trong hai chim đó trong chậu
sành, trên nước chảy.
6. Ðoạn, bắt lấy chim còn sống với cây
hương nam, màu đỏ sặm, nhành kinh giới, đem
nhúng trong huyết của chim kia đã cắt cổ
trên nước chảy.
7. Thầy tế lễ phải rảy huyết bảy lần trên người được sạch
phung, và định người là tinh sạch, rồi thả con
chim còn sống ra ngoài đồng.
8. Kẻ được sạch sẽ giặt áo xống mình, cạo hết
lông, tắm trong nước, rồi sẽ được tinh sạch. Kế đó
người được vào trại quân, nhưng phải ở
ngoài trại mình trong bảy ngày.
9. Qua ngày thứ bảy người sẽ cạo hết lông,
tóc, râu, và lông
mày mình, giặt quần áo và
tắm mình trong nước, thì sẽ được tinh sạch.
10. Qua ngày thứ tám, người bắt hai
chiên con đực không tì vít
chi, một chiên con cái chưa giáp năm,
không tì vít chi, ba phần mười
ê-pha bột lọc, chế dầu, làm của lễ chay,
và một lót dầu;
11. thầy tế lễ làm lễ nên thanh sạch sẽ đem người
đương được sạch và các vật đó đến
trước mặt Ðức Giê-hô-va tại cửa hội mạc.
12. Kế đó, thầy tế lễ sẽ bắt một trong hai chiên
con đực dâng làm của lễ chuộc sự mắc lỗi với một
lót dầu, và đưa qua đưa lại trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
13. Ðoạn, người giết chiên con đó trong
nơi thường giết các con sinh dùng làm
của lễ chuộc tội và của lễ thiêu, tức
là trong một nơi thánh, vì của lễ
chuộc sự mắc lỗi thuộc về thầy tế lễ như của lễ chuộc tội vậy; ấy
là một vật chí thánh.
14. Thầy tế lễ sẽ lấy huyết của con sinh tế chuộc sự mắc lỗi
bôi trên trái tai hữu của người được
sạch, trên ngón cái tay mặt
và trên ngón cái
chân mặt;
15. đoạn lấy lót dầu đổ trong bàn tay tả
mình,
16. nhúng ngón tay hữu vào dầu trong
bàn tay tả mình, mà rảy bảy lần trước
mặt Ðức Giê-hô-va.
17. Dầu còn lại trong bàn tay mình,
thầy tế lễ sẽ lấy bôi trên trái tai hữu
của người được sạch, trên ngón cái tay
mặt và ngón cái chân mặt,
tức trên lớp huyết của lễ chuộc sự mắc lỗi.
18. Dầu còn dư lại trong bàn tay mình,
thầy tế lễ sẽ đổ trên đầu người được sạch; vậy thầy tế lễ sẽ
làm lễ chuộc tội cho người trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
19. Ðoạn, thầy tế lễ sẽ dâng của lễ chuộc tội đặng
làm lễ chuộc tội cho người được sạch sự ô uế
mình. Kế đó, thầy tế lễ sẽ giết con sinh
dùng làm của lễ thiêu,
20. dâng lên với của lễ chay trên
bàn thờ; vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho
người nầy, thì người nầy sẽ được tinh sạch.
21. Nhưng nếu người đó nghèo nàn,
không phương thế đủ dâng những lễ vật nầy,
thì phải bắt một chiên con đực dùng
làm của lễ chuộc sự mắc lỗi, dâng đưa qua đưa lại
đặng làm lễ chuộc tội cho mình, một phần mười bột
lọc chế dầu làm của lễ chay và một lót
dầu.
22. Tùy theo phương thế mình, người cũng đem nộp
hai con chim cu hay là hai bò câu con;
con nầy dùng làm của lễ chuộc tội, con kia
dùng làm của lễ thiêu.
23. Qua ngày thứ tám, người phải vì sự
nên thanh sạch mình, đem nộp các lễ vật
nầy cho thầy tế lễ tại cửa hội mạc, trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
24. Thầy tế lễ sẽ bắt chiên con đực định làm của
lễ chuộc sự mắc lỗi, và một lót dầu, rồi
dâng lên đưa qua đưa lại trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
25. Ðoạn, người giết chiên con dùng
làm của lễ chuộc sự mắc lỗi, lấy huyết bôi
trên trái tai hữu của kẻ được sạch, trên
ngón cái tay mặt và trên
ngón cái chân mặt.
26. Rồi thầy tế lễ đổ dầu vào bàn tay tả
mình,
27. ngón tay hữu nhúng lấy dầu đổ trong
bàn tay tả, rảy bảy lần trước mặt Ðức
Giê-hô-va,
28. và bôi trên trái tai hữu
của người được sạch, trên ngón cái tay
mặt và trên ngón cái
chân mặt, tại nơi đã bôi huyết của lễ
chuộc sự mắc lỗi.
29. Dầu còn dư lại trong bàn tay, thầy tế lễ sẽ
đổ trên đầu người được sạch, đặng làm lễ chuộc tội
cho người trước mặt Ðức Giê-hô-va.
30. Ðoạn, thầy tế lễ sẽ dâng một trong hai con chim
cu, hoặc một trong hai con bồ câu con, tùy theo
vật họ nộp,
31. dâng con nầy dùng làm của lễ chuộc
tội, con kia dùng làm của lễ thiêu, với
của lễ chay. Vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người
được sạch trước mặt Ðức Giê-hô-va.
32. Ðó là luật lệ về lễ nên
thanh sạch của kẻ nghèo nàn bị vít
phung.
33. Ðức Giê-hô-va cũng phán
cùng Môi-se và A-rôn rằng:
34. Khi nào các ngươi sẽ vào xứ
Ca-na-an, mà ta sẽ cho các ngươi làm
sản nghiệp, nếu ta giáng mốc vít mốc như
vít phung trong nhà nào của xứ
các ngươi sẽ được làm sản nghiệp,
35. chủ nhà đó phải đến cáo
cùng thầy tế lễ rằng: Tôi thấy như có
một vít mốc trong nhà.
36. Trước khi vào khám vít mốc
đó, thầy tế lễ phải truyền họ đem đồ đạc trong
nhà ra hết, hầu cho khỏi bị lây ô uế;
sau dời xong, thầy tế lễ sẽ vào đặng khám
nhà.
37. Người sẽ xem vít đó, nếu nó ở nơi
vách có lỗ màu xanh xanh, hoặc đỏ đỏ,
bộ sâu hơn mặt vách,
38. thì thầy tế phải đi ra đến cửa ngoài,
niêm nhà lại trong bảy ngày.
39. Ngày thứ bảy, thầy tế lễ trở lại, nếu thấy
vít ăn lan ra trên vách nhà,
40. thì phải truyền gỡ mấy cục đá bị
vít lây, liệng ra ngoài
thành trong một nơi dơ dáy;
41. đoạn biểu người ta cạo trong nhà và chung
quanh nhà, và hốt bỏ bụi cạo đó ra
ngoài thành trong một nơi dơ dáy;
42. rồi lấy đá khác trám
vào chỗ đá cũ, và đem hồ mới
tô lại khắp nhà.
43. Nhưng nếu sau khi đã gỡ mấy cục đá, cạo
nhà và tô lại, vít
đó trở lại ở trong nhà,
44. thì thầy tế lễ phải đến khám nữa. Nếu thấy
vít ăn lan ra, ấy là một vít phung ăn
ruồng nhà; nhà đã bị ô uế.
45. Vậy, họ phải phá nhà đi, đá, gỗ
và hồ, rồi đem đổ hết thảy ngoài thành
trong một nơi dơ dáy.
46. Trong lúc niêm nhà, ai đi
vào thì sẽ bị lây ô uế cho
đến chiều tối.
47. Ai ngủ, hoặc ăn trong nhà đó phải giặt quần
áo mình.
48. Nhưng sau khi nhà đã tô rồi, nếu
thầy tế lễ trở lại, khám thấy vít không
ăn lan trong nhà, thì phải định nhà
là tinh sạch, vì vít đó
đã lành rồi.
49. Ðặng làm lễ nên thanh sạch cho
nhà, người phải lấy hai con chim, cây hương nam,
màu đỏ sặm và nhành kinh giới;
50. giết một con chim trong chậu sành, trên nước
chảy,
51. rồi lấy cây hương nam, nhành kinh giới,
màu đỏ sặm, và con chim sống, nhúng
hết trong huyết con chim đã cắt cổ trên nước chảy,
và rảy bảy lần trên nhà.
52. Vậy, người dùng huyết con chim, nước chảy, con chim
sống, cây hương nam, nhành kinh giới,
và màu đỏ sặm đặng làm lễ khiến
nhà nên thanh sạch.
53. Ðoạn, người thả con chim sống bay ra ngoài
thành đến nơi ruộng; người sẽ làm lễ chuộc tội
cho nhà, thì nhà sẽ được sạch.
54. Ðó là luật lệ về các thứ
vít phung và tật đòng đanh,
55. về vít mốc trên quần áo
và nhà ở, như vít phung,
56. về chỗ sưng, chỗ lở ra và chỗ đém,
57. đặng dạy cho biết khi nào ô uế, và
khi nào tinh sạch. Ðó là luật
lệ về bịnh phung vậy.
Lê-vi Ký 15
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se và A-rôn rằng:
2. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng:
Phàm người nam nào thân mình
bị bịnh bạch trược, thì vì cớ đó bị
ô uế;
3. sự ô uế người bởi nơi bạch trược: hoặc thân
mình chảy bạch trược ra hay là ứ lại,
thì người bị ô uế.
4. Hễ giường nào người bịnh bạch trược nằm, đều sẽ bị
ô uế: và các vật nào người
ngồi trên cũng sẽ bị ô uế.
5. Ai đụng đến giường người, phải giặt quần áo
mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến
chiều tối.
6. Ai ngồi trên vật chi mà người bịnh bạch trược
đã ngồi, phải giặt quần áo mình, tắm
trong nước, và bị ô uế đến chiều tối.
7. Ai đụng đến mình người bịnh bạch trược, phải giặt quần
áo mình, tắm trong nước, và bị
ô uế đến chiều tối.
8. Nếu người bịnh bạch trược nhổ nhằm người nào tinh sạch,
thì người đó phải giặt quần áo
mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến
chiều tối.
9. Hễ xe nào người bịnh bạch trược ngồi lên đều sẽ
bị ô uế.
10. Hễ ai đụng đến bất kỳ vật chi dưới mình người bịnh bạch
trược, đều sẽ bị ô uế đến chiều tối. Còn ai mang
các vật đó, phải giặt quần áo
mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến
chiều tối.
11. Ai bị người bịnh bạch trược rờ đến mà nếu người bịnh
đó không rửa tay mình trong nước,
thì ai đó phải giặt quần áo
mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến
chiều tối.
12. Ðồ sành bị người bịnh bạch trược đụng đến, phải
đập bể đi, còn đồ gỗ, thì rửa trong nước.
13. Vả, khi người nam bị bịnh bạch trược đã lành
rồi, thì phải tính từ ngày
lành đến bảy ngày, kế giặt quần áo
mình và tắm trong nước chảy; đoạn, người sẽ được
tinh sạch.
14. Qua ngày thứ tám, người bắt cho
mình hai chim cu, hay là hai con bò
câu con, đến trước mặt Ðức
Giê-hô-va, tại cửa hội mạc, và đưa cho
thầy tế lễ.
15. Thầy tế lễ sẽ dâng con nầy làm của lễ chuộc
tội, con kia làm của lễ thiêu; vậy, thầy tế lễ
vì cớ bịnh bạch trược, sẽ làm lễ chuộc tội cho
người trước mặt Ðức Giê-hô-va.
16. Hễ người nam di tinh, phải tắm trọn mình trong nước,
và bị ô uế đến chiều tối.
17. Phàm quần áo và da bị
dính, phải giặt rửa trong nước, và bị ô
uế đến chiều tối.
18. Khi nào người nam và người nữ giao cấu nhau,
thì phải tắm trong nước, và bị ô uế cho
đến chiều tối.
19. Khi nào một người nữ có kinh nguyệt, phải
chịu ô uế trong bảy ngày; hễ ai đụng đến người, sẽ
bị ô uế đến chiều tối.
20. Phàm vật gì người nằm hay ngồi trên
trong lúc mình không sạch, sẽ bị
ô uế.
21. Ai đụng đến giường người, phải giặt quần áo
mình, tắm trong nước, và bị ô uế đến
chiều tối.
22. Ai đụng đến vật gì người đã ngồi
trên, phải giặt quần áo mình, tắm trong
nước, và bị ô uế đến chiều tối.
23. Nếu có vật chi nơi giường, hoặc trên đồ người
ngồi, hễ ai đụng đến, sẽ bị ô uế đến chiều tối.
24. Ví bằng một người nam giao cấu cùng người nữ
đó, và sự ô uế kinh nguyệt
dính người nam, thì người nam sẽ bị ô
uế trong bảy ngày; phàm giường nào
người nằm đều cũng sẽ bị ô uế.
25. Khi một người nữ ngoài kỳ kinh nguyệt mình
lại có lưu huyết nhiều ngày, hoặc là
bị mất quá kỳ, sẽ bị ô uế trọn trong
lúc lưu huyết như trong lúc kinh nguyệt
mình vậy.
26. Trong trọn lúc lưu huyết, bất kỳ giường nào
người nằm trên sẽ như cái giường của kỳ kinh
nguyệt, và mọi vật nào người ngồi trên,
đều sẽ bị ô uế như trong kỳ kinh nguyệt vậy.
27. Ai đụng đến các vật đó sẽ bị ô uế;
phải giặt quần áo mình, tắm trong nước,
và bị ô uế đến chiều tối.
28. Khi nào huyết người nữ cầm lại rồi, phải tính
từ ngày lành đến bảy ngày, đoạn sẽ
được tinh sạch.
29. Qua ngày thứ tám, người bắt hai con chim cu,
hoặc hai con bò câu con, đem đến thầy tế lễ tại
cửa hội mạc.
30. Thầy tế lễ phải dâng con nầy làm của lễ chuộc
tội, và con kia làm của lễ thiêu; vậy,
thầy tế lễ vì cớ sự lưu huyết ô uế người sẽ
làm lễ chuộc tội cho người trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
31. Thế thì, các ngươi sẽ phân
cách dân Y-sơ-ra-ên ra xa sự ô
uế của họ, kẻo họ làm ô uế hội mạc ta vẫn ở giữa
họ, mà phải chết trong sự ô uế mình
chăng.
32. Ðó là luật lệ về người nào
bị bịnh bạch trược hay là vì cớ di tinh bị
ô uế,
33. về người nữ có kỳ kinh nguyệt, về mọi người, hoặc nam
hay nữ, bị bạch trược, và về người nam giao cấu
cùng người nữ trong khi kinh nguyệt.
Lê-vi Ký 16
Home
1. Sau khi hai con trai của A-rôn chết trong lúc
đến gần trước mặt Ðức Giê-hô-va,
thì Ngài phán cùng
Môi-se,
2. mà rằng: Hãy nói cùng
A-rôn, anh ngươi, chớ vào luôn
luôn trong nơi thánh ở phía trong bức
màn, trước nắp thi ân trên
hòm bảng chứng, e người phải chết chăng; vì ta ở
trong mây hiện ra trên nắp thi ân.
3. Nầy, A-rôn sẽ vào nơi thánh như vầy:
Người phải bắt một con bò đực tơ, dùng
làm của lễ chuộc tội, và một con chiên
đực dùng làm của lễ thiêu.
4. Người sẽ mặc áo lá trong thánh bằng
vải gai mịn, thân dưới mặc một cái quần bằng vải
gai, thắt một đai bằng vải gai và đội trên đầu một
cái mão bằng vải gai. Ấy là bộ
áo thánh mà ngươi sẽ mặc lấy khi
đã tắm mình trong nước.
5. Do nơi hội chúng Y-sơ-ra-ên, người sẽ bắt hai
con dê đực dùng làm của lễ chuộc tội
và một con chiên đực dùng
làm của lễ thiêu.
6. A-rôn sẽ dâng con bò tơ
mình làm của lễ chuộc tội, và người sẽ
làm lễ chuộc tội cho mình và cho
nhà mình.
7. Kế đó người phải bắt hai con dê đực, đem để
trước mặt Ðức Giê-hô-va, tại nơi cửa hội
mạc.
8. Ðoạn, A-rôn bắt thăm cho hai con dê đực,
một thăm về phần Ðức Giê-hô-va, một thăm về
phần A-xa-sên.
9. A-rôn sẽ biểu dẫn con dê đực bắt thăm về phần
Ðức Giê-hô-va lại gần và
dâng nó làm của lễ chuộc tội.
10. Còn con bắt thăm về phần A-xa-sên, sẽ để sống
trước mặt Ðức Giê-hô-va, để làm
lễ chuộc tội trên nó, rồi thả nó ra nơi
đồng vắng đặng nó về A-xa-sên.
11. Vậy, A-rôn sẽ dâng con bò tơ
mình, là con sinh tế chuộc tội, giết
nó làm lễ chuộc tội cho mình
và cho nhà mình;
12. đoạn lấy lư hương đầy than hực đỏ trên bàn thờ
trước mặt Ðức Giê-hô-va, và một
vốc hương bột, mà đem vào phía trong
bức màn.
13. Người phải bỏ hương trên lửa, trước mặt Ðức
Giê-hô-va, hầu cho ngọn khói hương bao
phủ nắp thi ân ở trên hòm bảng chứng,
thì người không chết.
14. Người cũng phải lấy huyết con bò tơ đó,
dùng ngón tay rảy trên nắp thi
ân, về phía đông, và rảy bảy
lần về phía trước nắp thi ân.
15. Ðoạn, người giết con dê đực dùng về
dân chúng làm của lễ chuộc tội; đem
huyết nó vào phía trong bức
màn; dùng huyết con dê đực
đó cũng như đã dùng huyết con
bò tơ, tức là rảy trên nắp thi
ân và trước nắp thi ân vậy.
16. Người vì cớ sự ô uế, sự vi phạm và
tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên phải làm lễ
chuộc tội cho nơi thánh và cho hội mạc ở giữa sự
ô uế của họ.
17. Khi thầy tế lễ vào đặng làm lễ chuộc tội nơi
thánh cho đến khi người ra, thì chẳng
nên có ai ở tại hội mạc; vậy, người sẽ
làm lễ chuộc tội cho mình, cho nhà
mình, và cho cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên.
18. Ðoạn, người ra, đi đến bàn thờ ở trước mặt
Ðức Giê-hô-va, đặng làm lễ chuộc
tội cho bàn thờ; người lấy huyết con bò tơ đực
và con dê đực, bôi chung quanh những
sừng của bàn thờ.
19. Rồi dùng ngón tay rảy huyết bảy lần
trên bàn thờ, làm cho bàn
thờ nên sạch và thánh, vì cớ
những sự ô uế của dân Y-sơ-ra-ên.
20. Khi thầy tế lễ đã làm lễ chuộc tội cho nơi
thánh, cho hội mạc, và cho bàn thờ
rồi, thì người phải dâng con dê đực
còn sống kia.
21. A-rôn sẽ nhận hai tay mình trên đầu
con dê đực còn sống, xưng trên
nó các gian ác và sự vi
phạm, tức những tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên,
và chất trên đầu nó, rồi nhờ một người
chực sẵn việc nầy mà sai đuổi nó ra, thả
vào đồng vắng.
22. Vậy, con dê đực đó sẽ gánh
trên mình các tội ác của
dân Y-sơ-ra-ên ra nơi hoang địa.
23. A-rôn sẽ trở vào hội mạc, cổi bộ áo
bằng vải gai mịn mình đã mặc đặng vào
nơi thánh, và để tại đó.
24. Rồi lấy nước tắm mình trong một nơi thánh,
mặc áo lại, đi ra, dâng của lễ thiêu về
phần mình, và của lễ thiêu về phần
dân chúng, đặng làm lễ chuộc tội cho
mình và cho dân chúng.
25. Người cũng phải lấy mỡ của con sinh tế chuộc tội mà
xông trên bàn thờ.
26. Người nào dẫn con dê đực về phần
A-xa-sên, phải giặt quần áo mình, tắm
mình trong nước, đoạn mới sẽ được vào trại
quân.
27. Nhưng người ta phải đem ra ngoài trại quân con
bò tơ đực và con dê đực đã
dâng lên làm của lễ chuộc tội,
mà huyết nó đã đem vào nơi
thánh đặng làm lễ chuộc tội; rồi phải lấy da,
thịt và phẩn của hai thú đó
mà đốt trong lửa.
28. Kẻ nào đứng đốt phải giặt quần áo
mình, tắm mình trong nước, đoạn mới được
vào trại quân.
29. Ðiều nầy sẽ là một lệ định đời đời cho
các ngươi: đến mồng mười tháng bảy,
các ngươi phải ép linh hồn mình,
không nên làm một việc nào,
bất kỳ người bổn xứ hay là kẻ khách kiều ngụ giữa
các ngươi;
30. vì trong ngày đó người ta sẽ
làm lễ chuộc tội cho các ngươi, để các
ngươi được tinh sạch: chắc các ngươi sẽ được sạch những tội
lỗi mình trước mặt Ðức Giê-hô-va
vậy.
31. Ấy sẽ là một lễ Sa-bát, một ngày
nghỉ cho các ngươi, phải ép linh hồn
mình; đó là một lệ định đời đời vậy.
32. Thầy tế lễ đã được phép xức dầu và
lập làm chức tế lễ cho cha mình, sẽ mặc lấy bộ
áo vải gai, tức là bộ áo
thánh, mà làm lễ chuộc tội.
33. Người sẽ chuộc tội cho nơi thánh, cho hội mạc, cho
bàn thờ, cho những thầy tế lễ, và cho cả
dân của hội chúng.
34. Mỗi năm một lần phải làm lễ chuộc tội cho dân
Y-sơ-ra-ên, đặng làm cho sạch các tội
lỗi của chúng; ấy sẽ một lệ định đời đời cho các
ngươi vậy. A-rôn làm y như Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
Lê-vi Ký 17
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy nói cùng cả dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là lời Ðức
Giê-hô-va phán dặn:
3. Nếu một người nam trong nhà Y-sơ-ra-ên giết một
con bò, một con chiên con, hoặc một con
dê trong trại quân hay là
ngoài trại quân,
4. chẳng đem đến cửa hội mạc đặng dâng cho Ðức
Giê-hô-va, trước đền tạm của Ngài,
thì huyết sẽ đổ tội về người; người đã
làm đổ huyết ra, nên sẽ bị truất khỏi
dân sự mình.
5. Ấy hầu cho dân Y-sơ-ra-ên lấy của lễ
mình giết ngoài đồng, dẫn đến thầy tế lễ, trước
mặt Ðức Giê-hô-va, tại cửa hội mạc, đặng
dâng lên làm của lễ thù
ân cho Ðức Giê-hô-va.
6. Thầy tế lễ sẽ rưới huyết con sinh trên bàn thờ
của Ðức Giê-hô-va để tại cửa hội mạc,
và xông mỡ có mùi thơm cho
Ðức Giê-hô-va.
7. Dân Y-sơ-ra-ên cũng chẳng nên
dâng của lễ mình cho ma quỉ nữa, mà
thông dâm cùng nó.
Ðiều nầy sẽ làm một lệ định đời đời cho họ trải qua
các thế đại.
8. Vậy, ngươi hãy nói cùng
dân Y-sơ-ra-ên rằng: Phàm người
nào trong vòng dân Y-sơ-ra-ên
hay là kẻ khách kiều ngụ giữa họ, dâng
một của lễ thiêu hay là một của lễ chi,
9. mà chẳng đem đến tại cửa hội mạc đặng dâng cho
Ðức Giê-hô-va, thì người
đó sẽ bị truất khỏi dân sự mình.
10. Phàm người nào của nhà
Y-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ
giữa họ, ăn huyết chi cũng mặc, thì ta sẽ nổi giận
cùng kẻ ăn đó, truất nó khỏi
dân sự mình;
11. vì sanh mạng của xác thịt ở trong huyết; ta
đã cho các ngươi huyết rưới trên
bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho linh hồn
mình; vì nhờ sanh mạng mà huyết mới
chuộc tội được.
12. Bởi cớ đó ta đã phán
cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Trong
vòng các ngươi không ai nên
ăn huyết; kẻ khách kiều ngụ giữa các ngươi cũng
không nên ăn huyết.
13. Còn nếu ai, hoặc dân Y-sơ-ra-ên.
hoặc kẻ khách kiều ngụ giữa họ, đi săn được một con
thú hay là con chim ăn thịt được, thì
phải đổ huyết nó ra, rồi lấy bụi đất lấp lại;
14. vì sanh mạng của mọi xác thịt, ấy
là huyết nó, trong huyết có sanh mạng.
Bởi cớ ấy, ta đã phán cùng
dân Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi
không nên ăn huyết của xác thịt
nào; vì sanh mạng của mọi xác thịt, ấy
là huyết nó; ai ăn sẽ bị truất diệt.
15. Hễ người nào, hoặc sanh đẻ tại xứ, hoặc kẻ
khách, ăn thịt của một con thú chết hay
là bị xé, phải giặt quần áo
mình, tắm trong nước, bị ô uế đến chiều tối, đoạn
được tinh sạch lại.
16. Còn nếu người không giặt quần áo
và không tắm, thì sẽ mang tội
mình.
Lê-vi Ký 18
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Ta là
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
các ngươi.
3. Các ngươi chớ làm theo những điều người ta
làm hoặc tại xứ Ê-díp-tô,
là nơi các ngươi đã kiều ngụ, hoặc tại
xứ Ca-na-an, là xứ ta dẫn các ngươi đi đến: chớ
đi theo thói tục họ.
4. Các ngươi hãy tuân mạng lịnh ta,
gìn giữ luật pháp ta đặng noi theo: Ta
là Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời các ngươi.
5. Vậy, hãy giữ luật pháp và mạng lịnh
ta, người nào làm theo, thì sẽ nhờ
nó mà được sống: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
6. Chớ một ai trong vòng các ngươi đến gần
cùng người nữ bà con mình đặng cấu
hiệp: Ta là Ðức Giê-hô-va.
7. Chớ cấu hiệp cùng mẹ mình; bằng cấu hiệp, tất
làm nhục cho cha mẹ.
8. Chớ cấu hiệp cùng kế mẫu, bằng cấu hiệp, ấy
làm nhục cho cha mình.
9. Chớ cấu hiệp cùng chị em mình, hoặc một cha
khác mẹ, hoặc một mẹ khác cha, hoặc sanh tại
trong nhà, hoặc sanh ở ngoài.
10. Chớ cấu hiệp cùng cháu gái, hoặc
cháu gái nội, hoặc cháu gái
ngoại; bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho
mình.
11. Chớ cấu hiệp cùng con gái của kế mẫu bởi cha
mình sanh ra, vì là em gái
ngươi.
12. Chớ cấu hiệp cùng chị em của cha ngươi; vì
là cốt nhục của cha ngươi.
13. Chớ cấu hiệp cùng chị em của mẹ ngươi; vì
là cốt nhục của mẹ ngươi.
14. Chớ cấu hiệp cùng bác gái hay
thím ngươi; bằng cấu hiệp, ấy là gây
nhục cho anh em của cha ngươi.
15. Chớ cấu hiệp cùng dâu ngươi; vì
là vợ của con trai mình.
16. Chớ cấu hiệp cùng chị dâu hay em dâu
ngươi; nếu cấu hiệp, ấy làm nhục cho anh em ngươi vậy.
17. Chớ cấu hiệp cùng một người đàn bà
luôn với con gái của người đàn
bà nữa. Chớ lấy cháu gái nội ngươi,
hoặc cháu gái ngoại ngươi đặng cấu hiệp
cùng họ; chúng nó đều là
cốt nhục gần; làm vậy, ấy là một việc
ác dục.
18. Chớ lấy vợ luôn với chị em người mà cấu hiệp
cùng nó gần bên vợ chánh
mình đương khi người còn sống, e khi sanh ghen
tương.
19. Trong lúc người nữ có kinh nguyệt, chớ đến
gần mà cấu hiệp.
20. Chớ nằm cùng vợ người lân cận mình,
mà gây cho mình bị ô uế với
người.
21. Chớ bắt con cái mình đặng dâng cho
thần Mo-lóc, chớ làm ô danh Ðức
Chúa Trời ngươi: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
22. Chớ nằm cùng một người nam như người ta nằm
cùng một người nữ; ấy là một sự quái
gớm.
23. Chớ nằm cùng một con thú nào,
mà gây cho mình bị ô uế với
nó; một người đàn bà chớ nằm
cùng thú vật nào; ấy là một
sự quái gớm.
24. Các ngươi chớ làm một trong mấy việc
đó mà tự gây cho mình
ô uế; bởi dân mà ta sẽ đuổi khỏi trước
mặt các ngươi đã thành ô uế
vì cớ làm các việc đó.
25. Ðất vì chúng nó
mà bị ô uế; ta sẽ phạt tội ác họ; đất
sẽ mửa dân nó ra vậy.
26. Còn các ngươi, hoặc dân bổn xứ,
hoặc kẻ khách kiều ngụ giữa các ngươi, phải giữ
luật pháp và mạng lịnh ta, đừng làm
một trong những điều quái gớm nầy.
27. Vì những điều quái gớm ấy, những người ở tại
xứ trước các ngươi đã làm;
và đất vì cớ đó phải thành
ô uế.
28. Vậy, chớ làm đất thành ô uế, e khi
đất mửa các ngươi ra, như đã mửa dân cư
trú tại xứ trước các ngươi chăng;
29. vì phàm ai làm một trong những
điều quái gớm ấy sẽ bị truất khỏi dân sự
mình.
30. Thế thì, các ngươi phải giữ điều ta
phán dặn, để đừng làm theo một trong
các thói tục gớm ghiếc nào
đã làm trước các ngươi, và
các ngươi chớ vì các thói
tục đó mà gây cho mình
ô uế. Ta là Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của các ngươi.
Lê-vi Ký 19
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy truyền cho cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên rằng: Hãy nên
thánh, vì ta Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời các người, vốn
là thánh.
3. Ai nấy phải tôn kính cha mẹ mình
và giữ những ngày sa-bát ta: Ta
là Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của các ngươi.
4. Chớ xây về hình tượng và cũng chớ
đúc tượng tà thần: Ta là
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
các ngươi.
5. Khi các ngươi dâng của lễ thù
ân cho Ðức Giê-hô-va,
thì phải dâng một cách cho được nhậm;
6. ăn nội trong ngày dâng đó
và ngày mai; còn phần chi dư lại qua
ngày thứ ba, thì phải thiêu đi.
7. Nếu người ta để ăn đến ngày thứ ba, ấy là một
điều gớm ghiếc chẳng được nhậm.
8. Ai ăn của lễ như vậy sẽ mang lấy tội ác mình,
vì đã làm vật thánh của
Ðức Giê-hô-va ra ô độc: người
đó sẽ bị truất khỏi dân sự mình.
9. Khi các ngươi gặt lúa trong xứ
mình, chớ có gặt đến cuối đầu đồng, và
chớ mót lại những bông còn
sót;
10. các ngươi chớ cắn mót nho mình,
đừng nhặt những trái rớt rồi, hãy để cho mấy
người nghèo và kẻ khách: Ta
là Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của các ngươi.
11. Các ngươi chớ ăn trộm ăn cắp, chớ nói dối,
và chớ lừa đảo nhau.
12. Các ngươi chớ chỉ danh ta mà thề dối,
vì ngươi làm ô danh của Ðức
Chúa Trời mình: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
13. Chớ ức hiếp kẻ lân cận mình, chớ cướp giựt của
họ. Tiền công của kẻ làm mướn ngươi, chớ
nên để lại trong nhà mình cho đến
ngày mai.
14. Chớ nên rủa sả người điếc, chớ để trước mặt người
mù vật chi làm cho người vấp té; nhưng
hãy kính sợ Ðức Chúa Trời
ngươi: Ta là Ðức Giê-hô-va.
15. Các ngươi chớ phạm sự bất nghĩa trong việc
xét đoán, chớ thiên vị người
nghèo, chớ nể kẻ quyền thế; hãy cứ theo
công bình mà xét
đoán kẻ lân cận ngươi.
16. Chớ buông lời phao vu trong dân sự
mình, chớ lập mưu kế nghịch sự sống của kẻ lân cận
mình: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
17. Chớ có lòng ghen ghét anh em
mình; hãy sửa dạy kẻ lân cận
mình, đừng vì cớ họ mà phải mắc tội.
18. Chớ toan báo thù, chớ giữ sự báo
thù cùng con cháu dân sự
mình; nhưng hãy yêu thương kẻ
lân cận ngươi như mình: Ta là
Ðức Giê-hô-va.
19. Các ngươi hãy giữ những mạng lịnh ta. Chớ để
loài vật khác giống phủ lẫn nhau; chớ gieo ruộng
ngươi hai thứ giống, và chớ mặc mình bằng
áo dệt nhiều thứ chỉ.
20. Nếu một người nam nằm và cấu hiệp cùng một
đứa tớ gái đã hứa gả cho một người, nhưng chưa
chuộc ra, hoặc chưa được phóng mọi; thì hai người
đều sẽ bị hình phạt, mà không phải đến
chết, vì đứa tớ gái chưa được phóng
mọi.
21. Người nam vì lỗi mình sẽ dẫn một con
chiên đực đến trước mặt Ðức
Giê-hô-va tại cửa hội mạc, mà
làm của lễ chuộc sự mắc lỗi.
22. Thầy tế lễ sẽ dùng con chiên đực
làm của lễ chuộc sự mắc lỗi đặng làm lễ chuộc tội
cho người đã phạm, trước mặt Ðức
Giê-hô-va; vậy, tội người đã phạm sẽ
được tha.
23. Khi các ngươi sẽ vào xứ Ca-na-an,
và đã trồng các thứ cây
trái rồi, hãy coi các trái
chiếng nó không sạch, như chưa chịu
phép cắt bì; trong ba năm các ngươi
hãy coi nó không sạch, chớ
nên ăn;
24. nhưng qua năm thứ tư, các trái nó
sẽ nên thánh làm của lễ khen ngợi
Ðức Giê-hô-va.
25. Qua năm thứ năm, các ngươi phải ăn trái, hầu
cho cây thêm hoa quả: Ta là
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của
các ngươi.
26. Các ngươi chớ ăn vật chi có huyết, chớ
dùng bói khoa, chớ làm thuật số.
27. Chớ cắt mé tóc mình cho
tròn, và chớ nên phá
khóe râu mình.
28. Chớ vì kẻ chết mà cắt thịt mình,
chớ xăm vẽ trên mình: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
29. Chớ nhục con gái ngươi khiến nó
làm kỵ nữ, để trong xứ không có điều
dâm loạn và đầy dẫy những ác dục.
30. Các ngươi phải giữ những sa-bát ta,
và tôn kính nơi thánh ta: Ta
là Ðức Giê-hô-va.
31. Các ngươi chớ cầu đồng cốt hay là thầy
bói; chớ hỏi chúng nó, e vì
chúng nó mà các ngươi phải
bị ô uế: Ta là Giê-hô-va,
Ðức Chúa Trời của các ngươi.
32. Trước mặt người tóc bạc, ngươi hãy đứng dậy,
kính người già cả, và kính
sợ Ðức Chúa Trời ngươi. Ta là Ðức
Giê-hô-va.
33. Khi kẻ khách nào kiều ngụ trong xứ
các ngươi, thì chớ hà hiếp người.
34. Kẻ khách kiều ngụ giữa các ngươi sẽ kể như kẻ
đã sanh đẻ giữa các ngươi; hãy thương
yêu người như mình, vì các
ngươi đã làm khách kiều ngụ trong xứ
Ê-díp-tô: Ta là
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của
các ngươi.
35. Các ngươi chớ phạm sự bất nghĩa trong việc
xét đoán, hoặc sự đo, sự cân, hay
là sự lường.
36. Các ngươi phải có cân thiệt,
trái cân bằng đá đúng, một
ê-pha thiệt, và một hin thiệt: Ta là
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của
các ngươi, Ðấng đã dẫn các
ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
37. Vậy, các ngươi hãy gìn giữ
làm theo các luật pháp và
các mạng lịnh ta: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
Lê-vi Ký 20
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Ngươi hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Phàm ai trong dân
Y-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ
giữa vòng họ, dùng một trong các con
mình dâng cho thần Mo-lóc,
thì chắc sẽ bị xử tử: dân bổn xứ phải
ném đá người ấy.
3. Còn ta sẽ nổi giận cùng người đó,
truất nó khỏi dân sự mình,
vì nó đã nộp con cái
mình cho thần Mo-lóc, làm cho nơi
thánh ta ô uế, và làm
ô danh thánh ta.
4. Nếu dân bổn xứ nhắm mắt khi người đó
dâng một trong các con cái
nó cho thần Mo-lóc mà chẳng giết
nó đi,
5. thì ta đây sẽ nổi giận cùng người
đó và nhà nó, rồi truất
nó cùng những kẻ nào theo
nó mà thông dâm
cùng thần Mo-lóc, ra khỏi dân sự
mình.
6. Nếu ai xây về đồng cốt và thầy bói
mà thông dâm cùng
chúng nó, thì ta sẽ nổi giận
cùng người đó, truất nó ra khỏi
dân sự mình.
7. Các ngươi hãy làm sạch
mình, và hãy nên
thánh, vì ta là
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của
các ngươi.
8. Các ngươi hãy giữ làm theo những
luật pháp ta: Ta là Ðức
Giê-hô-va, Ðấng làm cho
các ngươi nên thánh.
9. Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình,
thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha
mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình
nó.
10. Nếu người nào phạm tội tà dâm
cùng vợ của người khác, hay là phạm
tội tà dâm cùng vợ người lân
cận mình, người nam cùng người nữ đó
đều phải bị xử tử.
11. Nếu người nào nằm cùng vợ cha
mình, ấy là gây nhục cho cha
mình, thì hai người đều hẳn phải bị xử tử; huyết
họ sẽ đổ lại trên mình họ.
12. Nếu người nào nằm cùng dâu
mình, hai người đều hẳn phải bị phạt xử tử; vì họ
phạm một sự gớm ghiếc; huyết họ sẽ đổ lại trên
mình họ.
13. Nếu một người nam nằm cùng một người nam
khác, như nằm cùng người nữ, thì hai
người đó đều hẳn phải bị xử tử, vì họ
đã làm một sự gớm ghiếc; huyết họ sẽ đổ lại
trên mình họ.
14. Nếu một người nam lấy cả và mẹ con làm vợ; ấy
là một sự tà ác; hãy
thiêu cả ba đi, hầu cho sự tà ác
đó không còn trong vòng
các ngươi.
15. Nếu một người nam cấu hiệp cùng thú vật,
thì hẳn phải bị xử tử, và các ngươi
hãy giết thú đó đi.
16. Nếu một người nữ lại gần một con thú đặng cấu hiệp
cùng nó, ngươi hãy giết người nữ
và con thú đó đi; huyết nó
sẽ đổ lại trên mình nó.
17. Nếu một người nam lấy chị em gái mình, hoặc
một cha khác mẹ, hoặc một mẹ khác cha,
và họ cấu hiệp nhau; ấy là sự điếm nhục; họ sẽ bị
truất khỏi trước mặt dân sự mình; người
đã gây nhục cho chị em mình; người sẽ
mang tội ác mình.
18. Nếu một người nam nằm cùng một người nữ trong
lúc có kinh nguyệt, và người nam lộ ra
nguyên huyết của người nữ, và chánh
người nữ cũng lộ ra nguyên huyết mình,
thì cả hai đều sẽ bị truất khỏi dân sự
mình.
19. Chớ cấu hiệp cùng chị em của mẹ hay là chị em
của cha ngươi, vì là gây nhục cho
thân tộc mình; hai người đều sẽ mang tội
ác mình.
20. Nếu người nam nằm cùng bác gái hay
thím mình, tức là gây nhục
cho chú bác mình; hai người đều sẽ
mang sự hình phạt của tội mình. Họ sẽ chết tuyệt
tự.
21. Nếu một người nam lấy vợ của anh em mình, ấy
là sự ô uế; người đó đã
gây nhục cho anh em mình. Hai người đó
sẽ tuyệt tự.
22. Các ngươi hãy gìn giữ
làm theo những luật pháp và mạng lịnh
ta, hầu cho xứ mà ta dẫn các ngươi đến ở
không mửa các ngươi ra.
23. Chớ nên noi theo thói tục của dân
mà ta sẽ đuổi ra khỏi trước mặt các ngươi,
vì họ đã làm những điều đó,
và ta lấy làm gớm ghiếc lắm.
24. Ta đã phán cùng các
ngươi rằng: Ấy là các ngươi sẽ được xứ của
dân đó; ta cho các ngươi xứ ấy đặng
làm sản nghiệp; ấy là một xứ đượm sữa
và mật: Ta là Giê-hô-va,
Ðức Chúa Trời của các ngươi,
đã phân rẽ các ngươi cùng
các dân.
25. Vậy, hãy phân biệt thú tinh sạch
với thú ô uế, chim ô uế với chim tinh
sạch; chớ gây cho mình ra gớm ghiếc vì
loài vật, vì chim chóc, vì
các loài côn trùng
trên mặt đất, mà ta đã dạy
các ngươi phân biệt như loài
ô uế.
26. Ðối cùng ta các ngươi hãy
nên thánh, vì ta, Ðức
Giê-hô-va, là thánh; ta
đã phân rẽ các ngươi với các
dân, để các ngươi thuộc về ta.
27. Khi nào một người nam hay nữ làm đồng cốt,
hay là bói khoa, thì hẳn sẽ bị xử tử;
người ta sẽ ném đá chúng
nó: huyết chúng nó sẽ đổ lại
trên mình chúng nó.
Lê-vi Ký 21
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng: Hãy nói
cùng những thầy tế lễ, là các con trai
A-rôn, mà rằng: Thầy tế lễ chớ vì một
người chết trong dân sự là làm cho
mình ra ô uế;
2. trừ ra vì bà con thân
thích mình, vì mẹ, cha, con trai, con
gái, anh em mình,
3. và vì chị em ruột mình
còn đồng trinh, chưa chồng, thì người được
vì chị em đó làm cho mình
ra ô uế.
4. Người là đầu trưởng trong dân sự
mình, chớ làm mình ra tục
mà bị ô uế.
5. Các thầy tế lễ chớ nên làm
sói trên đầu; chớ cạo mép râu
mình, đừng cắt thịt mình.
6. Họ sẽ biệt riêng ra thánh cho Ðức
Chúa Trời mình, và chớ làm
ô danh Ngài, vì họ dâng cho
Ðức Giê-hô-va các của lễ
dùng lửa thiêu; tức là thực vật của
Ðức Chúa Trời mình: họ phải nên
thánh.
7. Thầy tế lễ chớ nên cưới một người kỵ nữ hay là
kẻ dâm ô; cũng chẳng nên cưới người bị
chồng để, vì thầy tế lễ đã biệt riêng
ra thánh cho Ðức Chúa Trời
mình.
8. Vậy, ngươi hãy kể thầy tế lễ như thánh,
vì người dâng thực vật của Ðức
Chúa Trời người; người sẽ là thánh cho
ngươi, vì ta, Ðức Giê-hô-va,
là thánh, Ðấng làm cho
các ngươi nên thánh vậy.
9. Nếu con gái thầy tế lễ đi dâm ô, tự
làm nên kỵ nữ, ấy là làm
ô danh cho cha nó, nó phải bị
thiêu lửa.
10. Thầy tế lễ được quyền trọng hơn các anh em
mình, đã được rưới dầu xức trên đầu
mình, được biệt riêng ra thánh, để mặc
mình bằng bộ áo thánh, chẳng
nên để đầu trần và xé áo
mình.
11. Ngươi chớ đi đến cùng một kẻ chết, chớ vì cha
hay mẹ mà làm mình ra ô uế.
12. Người chẳng nên đi ra khỏi nơi thánh, đừng
làm cho nơi thánh của Ðức Chúa
Trời mình ra ô uế, vì cái
mão dầu xức của Ðức Chúa Trời vẫn ở
trên đầu người: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
13. Người phải cưới gái đồng trinh làm vợ.
14. Người chẳng nên cưới đàn bà
góa, bị để, dâm ô hay là kỵ
nữ, nhưng phải cưới một người đồng trinh trong vòng
dân sự mình.
15. Người chẳng nên làm ô danh
dòng họ mình giữa dân sự người,
vì ta là Ðức
Giê-hô-va làm cho người nên
thánh.
16. Ðức Giê-hô-va còn
phán cùng Môi-se rằng:
17. Hãy nói cùng A-rôn
mà rằng: Phàm ai trong dòng họ ngươi,
trải các đời, có một tật bịnh trong
thân thể, chớ đến gần mà dâng thực vật
cho Ðức Chúa Trời mình.
18. Phàm ai có một tật không được đến
gần, như đây: người mù, què, sệp mũi
hay là tứ chi không đều;
19. người gãy chân hay gãy tay,
20. người có bướu hay là lỏng khỏng,
có vảy cá mắt hay là có ghẻ
chốc, có lát hay là có
hòn nang dập.
21. Phàm con cháu thầy tế lễ A-rôn,
có tật trong mình, không được đến gần
dâng của lễ dùng lửa dâng lên
cho Ðức Giê-hô-va. Nếu có một
tật trong mình, không được đến gần dâng
thực vật cho Ðức Chúa Trời mình.
22. Người được ăn thực vật của Ðức Chúa Trời
mình, là các vật chí
thánh và các vật biệt riêng
ra thánh;
23. nhưng không được đi đến gần bàn thờ,
vì có tật nơi mình. Ngươi chớ
làm các nơi thánh ta ra ô
uế, vì ta, Ðức Giê-hô-va,
làm các nơi đó nên
thánh.
24. Môi-se nói như vậy cho A-rôn
và các con trai người, cùng cho cả
dân Y-sơ-ra-ên.
Lê-vi Ký 22
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy truyền cho A-rôn và
các con trai người rằng phải kiêng cữ những của lễ
thánh của dân Y-sơ-ra-ên, dâng
biệt riêng ra thánh cho ta, hầu cho
chúng chớ làm ô danh thánh
ta: Ta là Ðức Giê-hô-va.
3. Hãy nói với họ rằng: Phàm ai trong
dòng giống các ngươi và trong
vòng con cháu các ngươi đã
bị ô uế, đến gần các vật thánh
mà dân Y-sơ-ra-ên biệt riêng
cho Ðức Giê-hô-va, thì ai
đó sẽ bị truất khỏi trước mặt ta: Ta là
Ðức Giê-hô-va.
4. Phàm ai là con cháu của
A-rôn bị bịnh phung hay là bạch trược,
thì chẳng được ăn vật biệt riêng ra
thánh cho đến chừng nào được tinh sạch. Ai đụng
đến một người đã bị ô uế bởi xác chết,
ai có di tinh,
5. hay là ai đụng đến hoặc loài côn
trùng, hoặc một người bị sự ô uế nào
làm cho mình ô uế, thì cũng
phải một thể ấy.
6. Ai đụng đến các vật đó sẽ bị ô uế
đến chiều tối, không được ăn vật biệt riêng ra
thánh, nhưng phải tắm mình trong nước.
7. Sau khi mặt trời lặn, người sẽ được sạch lại, rồi mới được
phép ăn các vật thánh, vì
là đồ ăn của người.
8. Người chẳng nên ăn một con thú nào
chết tự nhiên hay là bị xé, hầu khỏi bị
ô uế: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
9. Vậy, họ phải giữ điều ta phán dặn, kẻo mang tội lỗi
và chết chăng, vì đã làm
các vật thánh nay ra ô uế: Ta
là Ðức Giê-hô-va làm
cho họ nên thánh.
10. Chẳng một kẻ khách ngoại bang nào được ăn vật
thánh; kẻ nào ở tại nhà thầy tế lễ hay
là người làm mướn, cũng chẳng được ăn vật
thánh.
11. Nhưng kẻ nào thầy tế lễ lấy bạc mua về, và kẻ
sanh đẻ tại nhà người, thì được phép
ăn đồ ăn của người.
12. Nếu con gái của thầy tế lễ kết thân
cùng kẻ khách ngoại bang, thì sẽ
không được ăn vật thánh dâng giơ
lên.
13. Còn nếu con gái của thầy tế lễ đã
góa hay là bị để, không có
con, trở về nhà cha ở như buổi còn thơ,
thì nàng sẽ được ăn đồ ăn của cha
mình, nhưng chẳng kẻ khách ngoại bang
nào nên ăn.
14. Nếu ai lầm ăn một vật thánh, thì phải đền lại
cho thầy tế lễ giá của vật thánh đó,
và phụ thêm một phần năm.
15. Thầy tế lễ chớ làm ô uế của lễ mà
dân Y-sơ-ra-ên dâng giơ lên cho
Ðức Giê-hô-va.
16. Ai ăn vật thánh đã dâng như vậy sẽ
mang tội mình đã phạm, vì ta
là Ðức Giê-hô-va làm
cho các vật đó nên thánh.
17. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
18. Hãy truyền cho A-rôn và
các con trai người, cùng cho cả dân
Y-sơ-ra-ên, mà rằng: Hễ người nhà
Y-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ
giữa họ, mà dâng của lễ thiêu cho
Ðức Giê-hô-va, hoặc của lễ khấn nguyện, hay
là của lễ lạc ý, hầu cho được nhậm,
19. phải dâng một con đực không tì
vít chi bắt trong bầy bò, hoặc chiên
con hay là dê cái.
20. Các ngươi chớ dâng một con vật nào
có tì vít, vì nó
sẽ không được nhậm.
21. Khi một người nào dâng cho Ðức
Giê-hô-va một của lễ thù ân
bằng bò hay chiên, hoặc dâng trả lễ khấn
nguyện hay là lạc ý, hầu cho con sinh được nhậm,
phải không có một tì vít chi
trên mình.
22. Các ngươi chớ dâng cho Ðức
Giê-hô-va một con thú nào
hoặc mù mắt, què cẳng, bị xé, ghẻ
chốc, hay là lát; các ngươi chớ bắt
nó làm của lễ dùng lửa dâng
lên cho Ðức Giê-hô-va
trên bàn thờ.
23. Các ngươi được bắt một con bò hay
chiên con có giò dài, hoặc
ngắn quá mà làm của lễ lạc
ý; nhưng về của lễ khấn nguyện, con thú như vầy
quả sẽ chẳng được nhậm.
24. Các ngươi chớ dâng cho Ðức
Giê-hô-va tại xứ mình một con
thú nào hòn nang bị dập
nát, rứt hay là thiến đi.
25. Chớ nhận nơi tay kẻ khách ngoại bang một con sinh
nào bị như vậy đặng dâng làm thực vật
cho Ðức Chúa Trời mình, vì
nó đã bị hư và có
tì vít trên mình,
không được nhậm vì các ngươi
đâu.
26. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
27. Hễ con bò con, con chiên con hay con
dê con, phải ở quẩn theo mẹ trong bảy ngày sau khi
lọt lòng; nhưng qua ngày thứ tám về
sau sẽ được nhậm làm của lễ dùng lửa
dâng cho Ðức Giê-hô-va.
28. Bất kỳ bò cái hay chiên
cái, các ngươi chớ giết nó
và con nó trong một ngày.
29. Khi các ngươi dâng của lễ thù
ân cho Ðức Giê-hô-va,
thì phải dâng thế nào cho của lễ
vì các ngươi được nhậm.
30. Của lễ đó phải ăn nội ngày, không
nên để chi lại cho đến sớm mai: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
31. Vậy, hãy giữ làm theo các điều răn
ta: Ta là Ðức Giê-hô-va.
32. Ðừng làm ô danh thánh ta,
thì ta sẽ được tôn thánh giữa
dân Y-sơ-ra-ên: Ta là Ðức
Giê-hô-va làm cho các ngươi
nên thánh,
33. tức Ðấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, để làm Ðức
Chúa Trời các ngươi: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
Lê-vi Ký 23
Home
1. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng:
Nầy là những ngày lễ của Ðức
Giê-hô-va các ngươi hãy rao
truyền ra là các hội thánh.
3. Người ta làm việc trong sáu ngày,
nhưng qua ngày thứ bảy là ngày
sa-bát, một ngày nghỉ, tức một sự nhóm
hiệp thánh; đừng làm một công việc
gì; ấy là lễ sa-bát của Ðức
Giê-hô-va trong những nơi các ngươi ở.
4. Nầy là những lễ của Ðức
Giê-hô-va, tức những sự nhóm hiệp
thánh, các ngươi phải rao truyền ra khi đến kỳ
nhất định.
5. Ðến ngày mười bốn tháng
giêng, vào buổi chiều tối, ấy là lễ
Vượt-qua của Ðức Giê-hô-va;
6. qua ngày rằm tháng nầy, ấy là lễ
bánh không men để kính trọng
Ðức Giê-hô-va; các ngươi sẽ ăn
bánh không pha men trong bảy ngày.
7. Ngày đầu, các ngươi sẽ có một sự
nhóm hiệp thánh, chẳng nên
làm một công việc xác thịt.
8. Trong bảy ngày các ngươi phải dâng
cho Ðức Giê-hô-va những của lễ
dùng lửa dâng lên; đến ngày
thứ bảy, sẽ có một sự nhóm hiệp thánh
nữa, các ngươi đừng làm một công việc
xác thịt nào hết.
9. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
10. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng:
Khi nào các ngươi đã vào xứ
mà ta sẽ ban cho, và đã gặt
mùa màng rồi, thì hãy đem
đến cho thầy tế lễ một bó lúa đầu mùa
của các ngươi.
11. Qua ngày sau lễ sa-bát, thầy tế lễ sẽ
dâng bó lúa đưa qua đưa lại trước mặt
Ðức Giê-hô-va, hầu cho bó
lúa đó được nhậm.
12. Chánh ngày dâng bó
lúa đưa qua đưa lại đó, các ngươi cũng
phải dâng cho Ðức Giê-hô-va một
chiên con giáp năm, không tì
vít chi, đặng làm của lễ thiêu;
13. và dâng thêm một của lễ chay bằng
hai phần mười bột lọc chế dầu, làm của lễ dùng
lửa dâng lên, có mùi thơm cho
Ðức Giê-hô-va, với một phần tư hin rượu,
làm lễ quán.
14. Các ngươi chớ ăn hoặc bánh, hoặc hột
lúa rang, hoặc lúa đang ở trong gié
cho đến chánh ngày nầy, tức là
ngày các ngươi đem dâng của lễ cho
Ðức Chúa Trời mình. Mặc dầu ở nơi
nào, ấy là một lệ định đời đời cho con
cháu các ngươi.
15. Kể từ ngày sau lễ sa-bát, là
ngày đem bó lúa dâng đưa qua
đưa lại, các ngươi sẽ tính bảy tuần lễ trọn:
16. các ngươi tính năm mươi ngày cho
đến ngày sau của lễ sa-bát thứ bảy,
thì phải dâng một của lễ chay mới cho Ðức
Giê-hô-va.
17. Các ngươi hãy từ nhà
mình đem đến hai ổ bánh đặng làm của
lễ dâng đưa qua đưa lại; bánh đó
làm bằng hai phần mười bột lọc hấp có pha men: ấy
là của đầu mùa dâng cho Ðức
Giê-hô-va.
18. Các ngươi cũng phải dâng luôn với
bánh, bảy chiên con giáp năm chẳng
tì vít chi, một con bò tơ,
và hai con chiên đực với của lễ chay và
lễ quán cặp theo, đặng làm của lễ thiêu
tế Ðức Giê-hô-va: ấy là một của
lễ dùng lửa xông, có mùi
thơm cho Ðức Giê-hô-va.
19. Các ngươi cũng phải dâng một con dê
đực đặng làm của lễ chuộc tội, và hai
chiên con giáp năm, đặng làm của lễ
thù ân.
20. Thầy tế lễ sẽ lấy các của lễ đó với hai ổ
bánh bằng lúa đầu mùa, và
hai chiên con, dâng đưa qua đưa lại trước mặt
Ðức Giê-hô-va; các vật
đó sẽ biệt riêng ra thánh cho
Ðức Giê-hô-va, và thuộc về thầy
tế lễ.
21. Các ngươi hãy rao truyền sự nhóm
hiệp trong chánh một ngày đó; phải
có một sự nhóm hiệp thánh, chớ
nên làm một công việc xác
thịt nào. Ấy là một lệ định đời đời cho
dòng dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi
nào.
22. Khi các ngươi gặt lúa trong xứ
mình, chớ gặt tận đầu đồng, và chớ mót
lúa sót lại; hãy để phần đó
cho người nghèo và cho kẻ khách ngoại
bang: Ta là Giê-hô-va, Ðức
Chúa Trời của các ngươi.
23. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
24. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng:
Ngày mồng một tháng bảy, sẽ có cho
các ngươi một ngày nghỉ, một lễ kỷ niệm lấy tiếng
kèn thổi mà rao truyền, tức là một sự
nhóm hiệp thánh vậy.
25. Chớ làm một công việc xác thịt
nào; phải dâng các của lễ
dùng lửa dâng cho Ðức
Giê-hô-va.
26. Ðức Giê-hô-va cũng phán
cùng Môi-se rằng:
27. Ngày mồng mười tháng bảy nầy là
ngày lễ chuộc tội; các ngươi sẽ có sự
nhóm hiệp thánh; hãy ép
tâm hồn mình và dâng cho
Ðức Giê-hô-va các của lễ
dùng lửa dâng lên.
28. Ngày đó chẳng nên làm
công việc nào, vì là
ngày chuộc tội, trong ngày đó phải
làm lễ chuộc tội cho các ngươi trước mặt
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời
mình.
29. Trong ngày đó, hễ ai không
ép tâm hồn mình, sẽ bị truất khỏi
dân sự mình.
30. Và hễ ai làm một công việc
gì, thì ta sẽ diệt họ khỏi dân sự
mình.
31. Các ngươi chẳng nên làm
công việc chi hết, ấy là một lệ định đời đời cho
dòng dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi
nào.
32. Ấy sẽ là một lễ sa-bát, một ngày
nghỉ cho các ngươi; các ngươi phải ép
tâm hồn mình. Ngày mồng chín
tháng đó, các ngươi phải giữ lễ
sa-bát mình, từ chiều nay đến chiều mai.
33. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
34. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng:
Ngày rằm tháng bảy nầy là lễ lều tạm,
trải qua bảy ngày đặng tôn kính
Ðức Giê-hô-va.
35. Ngày thứ nhất sẽ có sự nhóm hiệp
thánh, các ngươi chẳng nên
làm một công việc xác thịt
nào.
36. Trong bảy ngày phải dâng các của lễ
dùng lửa dâng cho Ðức
Giê-hô-va; qua ngày thứ tám,
các ngươi có một sự nhóm hiệp
thánh nữa, cũng dâng của lễ dùng lửa
dâng cho Ðức Giê-hô-va. Ấy sẽ
là một hội trọng thể; chớ nên làm một
công việc xác thịt nào hết.
37. Ðó là những lễ trọng thể của
Ðức Giê-hô-va, mà các
ngươi phải rao truyền là sự nhóm hiệp
thánh, đặng dâng cho Ðức
Giê-hô-va những của lễ dùng lửa
dâng lên, của lễ thiêu, của lễ chay, của
lễ thù ân, lễ quán, vật nào
đã định theo ngày nấy.
38. Ngoài ra, các ngươi phải cứ giữ lễ
sa-bát của Ðức Giê-hô-va, cứ
dâng cho Ngài các lễ vật
mình, các của lễ khấn nguyện và lạc
ý.
39. Nhưng đến ngày rằm tháng bảy, khi
các ngươi đã thâu-hoạch thổ sản
mình rồi, hãy giữ một lễ cho Ðức
Giê-hô-va trong bảy ngày. Bữa thứ nhất
sẽ là ngày nghỉ, và bữa thứ
tám cũng sẽ là ngày nghỉ.
40. Bữa thứ nhất, các ngươi phải lấy trái
cây tốt, tàu chà là,
nhành cây rậm, và cây dương
liễu, rồi vui mừng trong bảy ngày trước mặt
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của
các ngươi.
41. Mỗi năm, vào tháng bảy, các ngươi
phải giữ lễ nầy cho Ðức Giê-hô-va như vậy
trong bảy ngày. Ấy là một lệ định đời đời cho
dòng dõi các ngươi.
42. Hết thảy ai sanh trong dòng Y-sơ-ra-ên sẽ ở
nơi trại trong bảy ngày,
43. hầu cho dòng dõi các ngươi biết
rằng khi ta đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, ta cho họ ở trong những trại:
Ta là Giê-hô-va, Ðức
Chúa Trời của các ngươi.
44. Ấy vậy, Môi-se truyền cho dân
Y-sơ-ra-ên biết các lễ của Ðức
Giê-hô-va là lễ nào.
Lê-vi Ký 24
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên đem dầu
ô-li-ve ép, trong sạch, đặng thắp đèn,
để giữ cho đèn cháy luôn luôn.
3. A-rôn sẽ làm đèn đó trong
hội mạc, ngoài bức màn che hòm bảng
chứng, hầu cho đèn cháy luôn
luôn, từ chiều tối đến sáng mai, trước mặt
Ðức Giê-hô-va; ấy là một lệ định
đời đời cho dòng dõi các ngươi.
4. A-rôn sẽ để các đèn trên
chân đèn bằng vàng, cho đèn
cháy luôn luôn trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
5. Ngươi cũng phải lấy bột lọc, hấp mười hai ổ bánh; mỗi ổ
cân nặng hai phần mười ê-pha;
6. đoạn sắp ra hai hàng sáu ổ trên
cái bàn bằng vàng ròng
trước mặt Ðức Giê-hô-va,
7. cùng rắc nhũ hương thánh trên mỗi
hàng, để làm kỷ niệm trên
bánh, như một của lễ dùng lửa dâng
trước mặt Ðức Giê-hô-va.
8. Mỗi ngày sa-bát, người ta sẽ sắp
bánh nầy trước mặt Ðức Giê-hô-va
luôn luôn, do nơi dân
Y-sơ-ra-ên cung cấp; ấy là một giao ước đời đời.
9. Các bánh đó sẽ thuộc về
A-rôn và các con trai người; họ phải ăn
tại một nơi thánh, vì là vật
chí thánh cho họ, bởi các của lễ
dùng lửa dâng cho Ðức
Giê-hô-va. Ấy là một lệ định đời đời.
10. Có một đứa con trai, mẹ là người
Y-sơ-ra-ên, và cha là người
Ê-díp-tô, đi ra giữa vòng
dân Y-sơ-ra-ên, đánh lộn tại nơi trại
quân với một người Y-sơ-ra-ên.
11. Ðứa trai đó nói phạm đến
và rủa sả danh Ðức Giê-hô-va;
người ta dẫn nó đến Môi-se, bèn giam
nó vào ngục cho đến chừng Ðức
Giê-hô-va phán định phải xử
làm sao.
12. Mẹ nó tên là
Sê-lô-mít, con gái của
Ðiệp-ri, thuộc về chi phái Ðan.
13. Vả, Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se rằng:
14. Hãy đem kẻ đã rủa sả ra ngoài trại
quân, hết thảy ai đã có nghe
nó phải đặt tay mình trên đầu
nó, và cả hội chúng phải
ném đá nó.
15. Ðoạn hãy nói cùng
dân Y-sơ-ra-ên rằng: Người nào rủa sả
Ðức Chúa Trời mình sẽ mang sự
hình phạt của tội mình.
16. Ai nói phạm đến danh Ðức
Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử; cả hội chúng
sẽ ném đá nó: mặc dầu nó
là kẻ khách ngoại bang hay là sanh
trong xứ, hễ khi nào nói phạm đến danh
Ðức Giê-hô-va, thì sẽ bị xử tử.
17. Kẻ nào đánh chết một người nào,
mặc dầu kẻ đó là ai, sẽ bị xử tử.
18. Kẻ nào đánh chết một súc vật, phải
thường lại, nghĩa là mạng đền mạng.
19. Khi một người nào làm thương tích
cho kẻ lân cận mình, thì người ta phải
làm thương tích cho người đó lại như
chính người đã làm:
20. gãy đền gãy, mắt đền mắt, răng đền răng.
Người ta sẽ làm cho người ấy đồng một thương vít
như chính người đã làm cho người
khác.
21. Kẻ nào làm chết một súc vật,
thì sẽ thường lại; còn kẻ nào giết
chết một người, thì phải bị xử tử.
22. Bất luận kẻ khách ngoại bang hay là người
trong xứ, các ngươi cũng phải dùng một luật lệ:
vì ta là Giê-hô-va,
Ðức Chúa Trời của các ngươi.
23. Vậy, Môi-se nói lại cùng
dân Y-sơ-ra-ên, biểu đem kẻ đã rủa sả ra
khỏi trại quân rồi ném đá
nó. Thế thì, dân Y-sơ-ra-ên
làm y như lời Ðức Giê-hô-va
đã truyền dặn Môi-se.
Lê-vi Ký 25
Home
1. Ðức Giê-hô-va cũng phán
cùng Môi-se tại trên núi
Si-na-i rằng:
2. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng:
Khi các ngươi đã vào xứ ta sẽ ban cho
rồi, thì đất phải nghỉ, giữ một lễ sa-bát cho
Ðức Giê-hô-va.
3. Trong sáu năm, ngươi sẽ gieo ruộng và hớt nho
mình, cùng thâu hoạch thổ sản.
4. Nhưng năm thứ bảy sẽ là năm sa-bát, để cho đất
nghỉ, tức là một năm sa-bát cho Ðức
Giê-hô-va; ngươi chẳng nên gieo ruộng
mình hay là hớt nho mình;
5. chẳng nên gặt lại những chi đã tự mọc
lên sau khi mùa màng, và
đừng hái nho của vườn nho không hớt sửa: ấy sẽ
là một năm cho đất nghỉ.
6. Phàm vật gì mà đất sanh sản trong
năm sa-bát, sẽ dùng làm đồ ăn cho
ngươi, cho tôi trai tớ gái ngươi, cho kẻ
làm thuê của ngươi, và cho kẻ ngoại
bang kiều ngụ với ngươi;
7. cùng luôn cho lục súc và
thú vật ở trong xứ ngươi nữa; hết thảy thổ sản
dùng làm đồ ăn vậy.
8. Ngươi cũng hãy tính bảy tuần năm tức bảy lần
bảy năm; thì giờ của bảy tuần năm nầy sẽ là bốn
mươi chín năm;
9. rồi đến ngày mồng mười tháng bảy, tức
là ngày chuộc tội, các ngươi phải thổi
kèn vang trong khắp xứ.
10. Các ngươi phải làm cho năm thứ năm mươi
nên thánh, và rao truyền sự tự do cho
hết thảy dân trong xứ. Ấy sẽ là năm hân
hỉ cho các ngươi; ai nấy đều được nhận lại cơ nghiệp
mình, và ai nấy đều trở về gia quyến
mình.
11. Năm thứ năm mươi nầy là một năm hân hỉ cho
các ngươi, không nên gieo,
không nên gặt vật chi đất tự sanh sản,
và cũng chẳng nên hái nho
không có hớt sửa,
12. vì là một năm hân hỉ, sẽ
làm thánh cho các ngươi; phải ăn những
thổ sản.
13. Trong năm hân hỉ nầy, các sản nghiệp đều sẽ
trở về nguyên chủ.
14. Nếu các ngươi bán hay là mua vật
chi với kẻ lân cận mình, thì chớ lận
anh em mình.
15. Người sẽ cứ lấy số năm từ sau năm hân hỉ mà
mua với kẻ lân cận mình; còn người, cứ
lấy theo số năm có hoa lợi mà bán.
16. Tùy theo số năm sau năm hân hỉ, ngươi sẽ
bù thêm giá; tùy theo số năm
ít, ngươi sẽ giảm bớt giá; vì theo số
mùa gặt mà người bán cho ngươi.
17. Chớ ai trong vòng các ngươi làm
lận kẻ lân cận mình; nhưng hãy
kính sợ Ðức Chúa Trời, vì ta
là Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của các ngươi.
18. Các ngươi khá làm theo mạng lịnh
ta, gìn giữ luật pháp ta và noi theo,
như vậy sẽ được ăn ở bình yên trong xứ.
19. Ðất sẽ sanh sản hoa lợi cho các ngươi,
các ngươi sẽ ăn no và được ở bình
yên trong xứ.
20. Vì các ngươi nói rằng: Nếu
chúng tôi chẳng gieo, chẳng gặt mùa
màng, thì trong năm thứ bảy sẽ lấy chi
mà ăn?
21. Năm thứ sáu, ta sẽ giáng phước cho
các ngươi, và năm ấy sẽ trúng
mùa bù ba năm.
22. Năm thứ tám, các ngươi sẽ gieo và
ăn hoa lợi của mùa màng cũ cho đến mùa
màng mới của năm thứ chín.
23. Ðất không được đoạn mãi; vì
đất thuộc về ta, các ngươi ở cùng ta như kẻ
khách ngoại bang và kẻ kiều ngụ.
24. Trong khắp xứ mà các ngươi sẽ được
làm sản nghiệp, hãy cho phép chuộc đất
lại.
25. Nếu anh em ngươi trở nên nghèo, và
bán một phần sản nghiệp mình, thì
người bà con gần có quyền chuộc lại, phải đến
chuộc phần đất anh em người đã bán.
26. Nếu người nào không có ai được
quyền chuộc lại, nhưng tự lo cho có chi chuộc lại được,
27. thì phải tính từ năm đã
bán bồi số trội cho chủ mua, rồi người sẽ được nhận sản
nghiệp mình lại.
28. Nếu nguyên chủ không tìm đủ
giá đặng trả cho, đất bán sẽ thuộc về người chủ
mua cho đến năm hân hỉ; đoạn đất sẽ ra khỏi tay chủ mua
và về nguyên chủ.
29. Nếu người nào bán một cái
nhà ở trong thành có vách
bọc, thì có được phép chuộc lại cho
đến giáp một năm sau khi bán; phép
chuộc lại của người chỉ trong một năm trọn vậy.
30. Còn nếu không chuộc lại trước khi
giáp hạn một năm trọn, thì nhà ở trong
thành có vách bọc đó sẽ về
chủ mua và dòng dõi người
mãi mãi; đến năm hân hỉ nhà
đó không ra khỏi tay họ.
31. Nhưng các nhà ở nơi hương thôn
không có vách bọc lấy, thì
kể như ruộng đất; chủ bán có phép
chuộc lại; đến năm hân hỉ nhà sẽ về
nguyên chủ.
32. Còn về các thành của người
Lê-vi, và về các nhà của họ
ở trong thành đó, thì người
Lê-vi luôn luôn có quyền chuộc
lại.
33. Ai mua của người Lê-vi một cái nhà
tại trong thành người Lê-vi, đến năm hân
hỉ nhà đó sẽ về nguyên chủ;
vì các nhà cửa tại trong những
thành người Lê-vi là sản nghiệp của họ
giữa dân Y-sơ-ra-ên.
34. Những ruộng đất thuộc về thành người Lê-vi
không phép bán, vì
là nghiệp đời đời của họ.
35. Nếu anh em ở gần ngươi trở nên nghèo khổ,
tài sản người lần lần tiêu mòn,
thì hãy cứu giúp người, mặc dầu
là kẻ khách kiều ngụ, hầu cho người cứ ở
cùng ngươi.
36. Chớ ăn lời, cũng đừng lấy lợi người; nhưng hãy
kính sợ Ðức Chúa Trời mình,
thì anh em ngươi sẽ ở cùng ngươi.
37. Chớ cho người vay bạc ăn lời và đừng cho mượn lương thực
đặng lấy lời.
38. Ta là Giê-hô-va, Ðức
Chúa Trời các ngươi, Ðấng đã
đem các ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, đặng ban cho các
ngươi xứ Ca-na-an, và làm Ðức
Chúa Trời của các ngươi.
39. Nếu anh em ở gần ngươi trở nên nghèo khổ, đem
bán mình cho ngươi, chớ nên bắt người
làm việc như tôi mọi;
40. người ở nhà ngươi như kẻ làm thuê,
người ở đậu, sẽ giúp việc ngươi cho đến năm hân hỉ:
41. đoạn người và con cái người thôi ở
nhà người, trở về nhà và nhận lấy sản
nghiệp của tổ phụ mình.
42. Vì ấy là những tôi tớ ta
mà ta đã đem ra khỏi xứ
Ê-díp-tô; không nên
bán họ như người ta bán tôi mọi.
43. Ngươi chớ lấn lướt mà khắc bạc họ, nhưng phải
kính sợ Ðức Chúa Trời ngươi.
44. Còn tôi trai tớ gái thuộc về ngươi,
thì sẽ do các dân chung quanh
mình mà ra; ấy do nơi những dân
đó mà các ngươi mua tôi trai
tớ gái.
45. Các ngươi cũng có phép mua
tôi mọi trong bọn con cái của kẻ khách
kiều ngụ nơi mình và của họ hàng
chúng nó sanh ra trong xứ các ngươi;
vậy, họ sẽ làm sản nghiệp của các ngươi.
46. Các ngươi để họ lại làm cơ nghiệp cho con
cháu mình; hằng giữ họ như kẻ tôi mọi.
Nhưng về phần anh em các ngươi, là dân
Y-sơ-ra-ên, thì không ai nên
lấn lướt mà khắc bạc anh em mình.
47. Khi một khách ngoại bang hay là một người
kiều ngụ nơi ngươi trở nên giàu, còn
anh em ngươi ở cùng họ lại nên nghèo,
đem bán mình cho kẻ khách ngoại bang
kiều ngụ nơi ngươi, hay là cho một người nào
trong nhà kẻ khách ngoại bang ấy,
48. sau khi đã đem bán mình rồi,
thì sẽ có phép chuộc lại: một anh em
người được chuộc người lại,
49. hoặc bác chú, hoặc con của bác
chú; hoặc một người thân thích cũng
được chuộc người lại; hay là nếu người có thế,
thì chánh người phải chuộc mình lấy.
50. Người sẽ tính cùng chủ mua từ năm
nào mình đã bán
mình cho đến năm hân hỉ; và
giá bán sẽ tính theo số năm nhiều hay
ít: tức là tính như ngày
công của người làm thuê vậy.
51. Nếu còn nhiều năm thì hãy cứ số
năm nầy, cân phân theo giá đã
bán mình mà chuộc lại;
52. nếu đến năm hân hỉ còn ít năm,
thì hãy tính với chủ mua cứ theo số
năm nầy mà thối hồi số mua mình lại.
53. Họ đối cùng chủ như một người làm
thuê năm, chứ không nên lấn lướt
mà khắc bạc người trước mặt ngươi.
54. Nếu người không được chuộc lại bởi các thế ấy,
đến năm hân hỉ người và các con trai
người sẽ được ra tự do.
55. Vì dân Y-sơ-ra-ên là
tôi tớ ta, tức các tôi tớ ta
đã đem ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
Ta là Giê-hô-va, Ðức
Chúa Trời của các ngươi.
Lê-vi Ký 26
Home
1. Các ngươi chớ làm những hình tượng;
hoặc hình chạm, hoặc hình đúc; chớ
dựng trong xứ mình một hòn đá
nào có dạng-hình, đặng sấp
mình trước mặt hình đó, vì
ta là Giê-hô-va, Ðức
Chúa Trời của các ngươi.
2. Hãy giữ lễ sa-bát ta, và
tôn kính nơi thánh ta. Ta là
Ðức Giê-hô-va.
3. Nếu các ngươi tuân theo luật pháp
ta, gìn giữ các điều răn ta và
làm theo,
4. thì ta sẽ giáng mưa thuận-thì, đất
sẽ sanh hoa lợi, và cây ngoài đồng sẽ
kết bông trái.
5. Mùa đập lúa sẽ lần đến mùa
hái nho, mùa hái nho sẽ lần đến
mùa gieo mạ; các ngươi sẽ ăn no, ở
bình yên trong xứ mình.
6. Ta sẽ giáng sự bình tịnh trong nước,
các ngươi ngủ không sợ ai dọa; ta sẽ diệt những
loài thú dữ khỏi xứ, gươm giáo chẳng
đưa qua xứ các ngươi.
7. Các ngươi đuổi theo quân nghịch, họ sẽ bị gươm
sa ngã trước mặt các ngươi.
8. Năm người trong các ngươi sẽ đuổi theo một trăm; một trăm
trong các ngươi sẽ đuổi theo một muôn,
và quân nghịch sẽ bị gươm sa ngã trước
mặt các ngươi.
9. Ta sẽ đoái lại cùng các ngươi,
làm cho sanh sản và thêm nhiều,
cùng kết lập giao ước với các ngươi.
10. Các ngươi sẽ ăn hoa lợi cũ mình,
và đem cái cũ ra đặng chừa chỗ cho cái
mới.
11. Ta sẽ lập chỗ ở ta giữa các ngươi, tâm hồn ta
không hề ghê gớm các ngươi đâu.
12. Ta sẽ đi giữa các ngươi, và các
ngươi sẽ làm dân ta.
13. Ta là Giê-hô-va, Ðức
Chúa Trời của các ngươi, Ðấng
đã đem các ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, hầu cho khỏi làm
tôi mọi. Ta đã bẻ gãy cái
ách của các ngươi, làm cho
các ngươi đi ngước đầu lên.
14. Song nếu các ngươi không nghe ta,
không làm theo các điều răn nầy,
15. nếu khinh bỉ mạng lịnh ta, và tâm hồn
các ngươi nghịch cùng luật pháp ta,
đến nỗi không làm theo những điều răn ta,
mà bội sự giao ước ta,
16. thì nầy là những điều ta sẽ giáng
cho các ngươi: Ta sẽ giáng cho các
ngươi sự kinh khủng, bịnh tổn và rét
làm hư mòn con mắt và nhọc mệt
tâm hồn. Các ngươi gieo mạ luống công,
quân thù nghịch sẽ ăn hết.
17. Ta sẽ nổi giận cùng các ngươi; các
ngươi sẽ bị quân thù nghịch đánh đập;
kẻ nào ghét các ngươi sẽ lấn lướt
các ngươi, và các ngươi sẽ chạy trốn
không ai đuổi theo.
18. Nếu đến đỗi vậy mà các ngươi không
khứng nghe ta, ta sẽ vì cớ tội phạm, thêm gấp bảy
lần đặng sửa phạt các ngươi,
19. và ta sẽ dẹp sự kiêu ngạo về năng lực
các ngươi. Ta sẽ khiến trời các ngươi cứng như
sắt và đất trơ như đồng;
20. năng lực mình hao mòn vô
ích, đất không sanh sản huê lợi,
cây cối không kết bông trái.
21. Nếu các ngươi phản đối cùng ta, và
không muốn nghe ta, thì ta sẽ tùy theo
tội phạm giáng tai vạ trên các ngươi
gấp bảy lần nữa.
22. Ta sẽ sai những thú đồng đến tha con cái
các ngươi đi, ăn hại súc vật, diệt số người ra
ít; và đường nẻo các ngươi sẽ vắng
tanh.
23. Dẫu đến những việc ấy mà các ngươi cứ
không phục sự sửa phạt ta, cứ phản đối cùng ta,
24. thì ta đây cũng sẽ nghịch lại cùng
các ngươi, và vì cớ tội lỗi, sẽ
giáng tai vạ cho các ngươi gấp bảy lần nữa.
25. Ta sẽ khiến gươm giáo đến trên các
ngươi đặng báo thù sự giao ước ta; khi
các ngươi hội hiệp trong những thành
mình, ta sẽ giáng dịch hạch đến giữa
các ngươi, và nộp các ngươi
vào tay thù nghịch.
26. Khi ta dẫn sự đói kém đến, mười người nữ sẽ
nướng bánh của các ngươi trong một lò,
cân bánh trao lại cho các ngươi;
các ngươi sẽ ăn mà không no.
27. Dầu đến nỗi vậy, mà các ngươi cứ
không khứng nghe ta, còn phản đối cùng
ta,
28. thì ta cũng sẽ nghịch lại cùng các
ngươi cách giận dữ, và vì cớ tội lỗi
các ngươi, sẽ sửa phạt gấp bảy lần nữa.
29. Các ngươi sẽ ăn thịt con trai con gái
mình;
30. ta sẽ hủy diệt những nơi cao các ngươi, phá
đổ những hình mặt trời, và để thây
các ngươi chồng trên thây của
hình tượng mình, tâm hồn ta sẽ
ghê gớm các ngươi.
31. Ta sẽ làm cho thành các ngươi ra
vắng vẻ, các nơi thánh quạnh hiu, và
ta chẳng còn hưởng mùi thơm về của lễ
các ngươi nữa.
32. Ta sẽ làm xứ ra đồi bại, đến nỗi kẻ thù
nghịch ở tại đó cũng lấy làm lạ.
33. Ta sẽ tản lạc các ngươi trong các
dân và rút gươm ra đuổi theo sau
các ngươi: xứ các ngươi sẽ hoang vu,
thành sẽ vắng vẻ.
34. Trọn trong lúc đất bỏ hoang vu, và
các ngươi ở trong đất của kẻ thù nghịch, khi
đó đất sẽ được an nghỉ hưởng những năm sa-bát.
35. Trọn lúc đất bỏ hoang vu sẽ được an nghỉ; vì
lúc các ngươi còn ở đất đó,
nó không được an nghỉ trong những năm
sa-bát của các ngươi.
36. Còn ai trong các ngươi sống sót
lại, ta sẽ làm cho họ nhát gan trong xứ của
thù nghịch mình; tiếng lá khua sẽ
làm cho họ chạy trốn, khác nào chạy
trốn trước lưỡi gươm, té ngã mà
không ai đuổi theo.
37. Người nầy vấp ngã trên người kia như trước
ngọn gươm, vốn chẳng ai rượt đuổi theo họ; các ngươi
không thể chịu nổi trước mặt quân thù
nghịch mình.
38. Các ngươi sẽ bị chết mất giữa các
dân, đất kẻ thù nghịch sẽ nuốt các
ngươi.
39. Ai trong các ngươi còn sống, sẽ vì
cớ gian ác mình và gian ác
của tổ phụ mà hao mòn trong xứ kẻ thù
nghịch mình.
40. Khi ấy, họ sẽ nhận gian ác mình,
và gian ác của tổ phụ mình, những tội
lỗi họ đã phạm, và sự chống trả họ đã
cự cùng ta,
41. đến đỗi ta cũng chống trả lại, dẫn họ vào xứ kẻ
thù nghịch. Bấy giờ nếu lòng không chịu
cắt bì của họ sẽ tự hạ mình xuống, và
sẽ phục điều sửa phạt về gian ác mình,
42. thì ta sẽ nhớ lại sự giao ước ta đã lập
cùng Gia-cốp, cùng Y-sác,
cùng Áp-ra-ham, và ta sẽ nhớ lại xứ
nầy.
43. Vì xứ bị họ bỏ hoang sẽ được nghỉ bấy nhiêu
năm sa-bát tùy theo họ bỏ hoang vu bao
nhiêu: họ sẽ chịu hình phạt của gian ác
mình, bởi vì đã khinh bỉ mạng lịnh ta,
và tâm hồn họ đã lấy làm
ghê gớm các luật pháp ta.
44. Dẫu vậy, đương khi họ bị ở trong xứ kẻ thù nghịch
mình, ta cũng chẳng bỏ họ đâu, chẳng ghê
gớm họ đến phải hao mòn hết, và chẳng bội sự giao
ước ta lập cùng họ đâu, vì ta
là Giê-hô-va, Ðức
Chúa Trời của họ.
45. Ta vì họ sẽ nhớ lại sự giao ước đã lập
cùng tổ phụ họ mà ta đã đem ra khỏi xứ
Ê-díp-tô trước mặt các
dân, đặng làm Ðức Chúa Trời của
họ. Ta là Ðức Giê-hô-va.
46. Ðó là các điều lệ, mạng
lịnh, và luật pháp mà Ðức
Giê-hô-va nhờ Môi-se,
Lê-vi Ký 27
Home
1. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
2. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng:
Khi nào có ai dùng loài
người mà khấn nguyện, thì ngươi hãy
định giá cho; giá đó thuộc về
Ðức Giê-hô-va.
3. Nếu ngươi định giá về một người nam từ hai mươi đến
sáu mươi tuổi, thì hãy định cho năm
chục siếc-lơ bạc, tùy theo siếc-lơ nơi thánh.
4. Nếu là một người nữ, hãy định giá
ba chục siếc-lơ bạc.
5. Nếu là một đứa con trẻ từ năm đến hai mươi tuổi,
thì hãy định giá hai chục siếc-lơ cho
một đứa trai, và mười siếc-lơ cho một đứa gái.
6. Ví bằng một đứa trẻ từ một tháng đến năm tuổi,
thì hãy định giá năm siếc-lơ bạc cho
một đứa trai, và ba siếc-lơ bạc cho một đứa gái.
7. Nếu một người già cả từ sáu mươi tuổi trở
lên, ngươi hãy định giá mười lăm
siếc-lơ bạc cho một người nam, và mười siếc-lơ bạc cho một
người nữ.
8. Bằng người khấn nguyện rất nghèo khổ, không nộp
được giá tiền ngươi định, thì hãy đem
đến trước mặt thầy tế lễ cho người nhất định cho. Thầy tế lễ sẽ
tùy theo phương thế người khấn nguyện mà nhất
định giá vậy.
9. Nếu khấn nguyện về thú vật dùng làm
của lễ dâng cho Ðức Giê-hô-va,
thì hễ con thú nào dâng cho
Ðức Giê-hô-va sẽ là vật
thánh.
10. Người ta không nên đổi hay là thế
một con tốt cho một con xấu, hay là một con xấu cho một con
tốt. Nếu thế một con nào cho một con khác,
thì con nầy và con thế đều sẽ nên vật
thánh.
11. Nếu là thú vật ô uế không
phép dùng làm của lễ dâng
cho Ðức Giê-hô-va, thì phải đem
con thú đó đến trước mặt thầy tế lễ,
12. rồi thầy tế lễ sẽ tùy theo con thú xấu hay
tốt mà định giá. Họ sẽ theo giá định
của thầy tế lễ mà trả.
13. Còn nếu muốn chuộc lại, thì phải phụ
thêm một phần năm giá của ngươi định.
14. Nếu ai biệt nhà mình ra thành cho
Ðức Giê-hô-va, thì thầy tế lễ sẽ
tùy theo nhà tốt hay xấu mà định
giá; họ phải nhận lấy giá của thầy tế lễ
đã định.
15. Còn nếu kẻ đã biệt nhà
mình ra thánh muốn chuộc nó lại,
thì phải phụ thêm một phần năm giá
ngươi đã định, rồi nhà sẽ thuộc về người.
16. Nếu ai biệt một phần ruộng tổ nghiệp mình ra
thánh cho Ðức Giê-hô-va,
thì ngươi hãy định giá tùy
theo số họ gieo, nghĩa là cứ năm chục siếc-lơ bạc mỗi một
ô-me mạch nha giống.
17. Nếu biệt ruộng mình ra thánh từ năm
hân hỉ, họ sẽ nhận giá ngươi định;
18. còn nếu họ biệt ruộng mình ra
thánh sau năm hân hỉ, thì thầy tế lễ cứ
theo số năm còn lại đến năm hân hỉ mà
định giá ruộng, và trừ lại giá ngươi
định.
19. Nếu ngươi đã biệt ruộng mình ra
thánh muốn chuộc nó lại, thì phải phụ
thêm một phần năm giá ngươi định, rồi ruộng sẽ
thuộc về người.
20. Còn ví ngươi không chuộc lại,
và người ta bán ruộng cho người khác,
thì không được chuộc lại nữa.
21. Khi đến năm hân hỉ, ruộng ra khỏi tay chủ mua,
thì sẽ trở nên thánh, biệt
riêng ra cho Ðức Giê-hô-va như
một sở ruộng cấm: nó sẽ làm sản nghiệp cho thầy
tế lễ.
22. Nếu ai biệt ra thánh cho Ðức
Giê-hô-va một sở ruộng mình mua, chớ
chẳng phải của tổ nghiệp,
23. thì thầy tế lễ sẽ tùy theo giá
ngươi định mà đánh giá đến năm
hân hỉ, rồi chánh trong ngày
đó, người nầy phải nộp số tiền nhất định, vì
là một vật biệt riêng ra thánh cho
Ðức Giê-hô-va.
24. Năm hân hỉ, ruộng đó sẽ trở về chủ
bán, tức là trở về nguyên chủ.
25. Vả, phàm các giá định đều cứ theo
siếc-lơ nơi thánh: một siếc-lơ giá hai chục
ghê-ra.
26. Song không ai được biệt ra thánh con đầu
lòng của súc vật mình, hoặc
bò, hoặc chiên, vì các con
đầu lòng theo phép đã thuộc về
Ðức Giê-hô-va rồi.
27. Còn nếu là một con thú
không sạch, họ phải tùy theo giá ngươi
định, phụ thêm một phần năm mà chuộc nó
lại; nếu con thú chẳng chuộc lại, thì phải đem
bán tùy theo giá định của ngươi.
28. Phàm vật cấm, tức là hết thảy vật chi
mà một người hằng dâng cho Ðức
Giê-hô-va do những của mình
có, hoặc người, hoặc loài vật, hoặc ruộng tổ
nghiệp, thì chẳng được phép bán, cũng
không được phép chuộc lại; hễ vật gì
cấm, thì biệt ra chí thánh cho
Ðức Giê-hô-va.
29. Hễ ai đã bị phú cho Ðức
Giê-hô-va, thì không được
phép chuộc lại, họ hẳn phải bị giết.
30. Phàm thuế một phần mười thổ sản, bất kỳ vật gieo hay
là hoa quả của cây, đều thuộc về Ðức
Giê-hô-va; ấy là một vật
thánh, biệt riêng ra cho Ðức
Giê-hô-va.
31. Nếu ai muốn chuộc lại vật chi về một phần mười của mình,
thì phải phụ thêm một phần năm.
32. Còn về một phần mười của bầy bò hay
là chiên, tức là mọi vật chi đi ngang
dưới gậy, con thứ mười sẽ là thánh, biệt
riêng ra thánh cho Ðức
Giê-hô-va.
33. Họ không nên phân biệt con tốt hay
là con xấu, và cũng không nên
đổi. Nếu đổi, thì con thú bị đổi, và
con đổi, cả hai đều biệt riêng ra thánh:
không phép chuộc nó lại.
34. Ðó là các mạng lịnh
mà Ðức Giê-hô-va truyền cho
Môi-se về dân Y-sơ-ra-ên tại
trên núi Si-na-i.